Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.21 . Giá trị trung bình nồng độ các chất khí độc hại khu vực thành phố Lào Cai năm 2001 – 2003

Bảng 2.21 . Giá trị trung bình nồng độ các chất khí độc hại khu vực thành phố Lào Cai năm 2001 – 2003

Tải bản đầy đủ - 0trang

L2: Ngã ba cửa khẩu Hà Khẩu. Lào Cai



3.43



0.05



0.00



0.44



L3: Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai



4.70



0.05



0.00



0.38



L4: Chợ Cốc Lếu. đường Hňa An. Lào Cai



4.93



0.05



0.00



0.36



L5: Phố mới. ga Lào Cai



3.18



0.06



0.01



0.44



L6: UBND tỉnh Lào Cai



4.13



0.05



0.00



0.29



Nguồn: Trung tâm Kỹ thuật môi trường, đô thị và khu cơng nghiệp, Trường ĐH Xây

dựng

Bên cạnh đó, các khu kinh tế cửa khẩu còn thu hút một lượng lớn khách du lịch

đến thăm quan. Điều đó cũng mang lại hàng trăm chiếc xe khách mỗi ngày đến với các

khu kinh tế cửa khẩu. Chính hoạt động giao thơng với mật độ lớn như vậy là một

nguồn phát thải khổng lồ các khí nhà kính.

Ngồi ra trong phạm vi vùng trung du và miền núi Bắc Bộ hai loại nhiên liệu

thông dụng nhất cho phương tiện vận tải là xăng và điêzen. Trước năm 2000, chất

lượng nhiên liệu thấp với hàm lượng chì 0.15 g/l, lưu huỳnh 1500 ppm trong xăng. Từ

2001, bắt đầu sử dụng xăng khơng chì RON 90, 92 và 95. Sau năm 2007, nhiên liệu

cho phương tiện đáp ứng tiêu chuẩn khí thải Euro II (Châu Âu bỏ từ năm 2000) với

lượng lưu huỳnh 500 ppm trong cả xăng và điêzen. Tuy nhiên vẫn cao hơn nhiều nước

trong khu vực: Thái Lan là 150 - 350 ppm, Nhật Bản là 50 ppm trong xăng và điêzen.

Vì vậy trong quá trình vận hành phương tiện sẽ thải ra CO 2, CO, Pb, TSP, PM10, HC,

SO2, NOx …



Bảng 2.22. Thành phần các chất thải khi sử dụng nhiên liệu

ở phương tiện giao thông (Đơn vị: g/kg)

STT

1

2

3

4

5

6

7

8



Các chất thải

CO

CO2

CmHn

SOx

NOx

R- COOH

R- CHO

Muội



Xăng

20.81

172.83

29.1

2.325

177.875

1.432

1.125

1.25



Điêzen

1.146

175.64

5.74

3.8

24.581

1.327

0.944

6.250

63



9

10



Chì

Bụi



0.625

3.902



0.00

117.06

Nguồn: [8]



Tóm lại, ngun nhân góp phần gây ra BĐKH ở vùng trung du và miền núi Bắc

Bộ chính là các phong tục tập quán trong sinh hoạt và sản xuất của người dân nới đây

đã phá hủy hàng trăm ha rừng, chất thải sinh hoạt gây ô nhiễm môi trường. Cộng thêm

tác động của các hoạt động công nghiệp và xây dựng đặc biệt là từ việc khai thác

khoáng sản và xây dựng các nhà máy điện đã ảnh hưởng rất lớn đối với tổng thể tự

nhiên của vùng là nguyên nhân quan trong gây ra BĐKH. Và cuối cùng góp một phần

khơng nhỏ chính là hoạt động giao thông vận tải. Các phương tiện vận tải với nhiều

trọng tải, nhiều loại hình khác nhau là nguồn phát thải khí nhà kính rất lớn



Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH VÀ BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BĐKH Ở

VÙNG TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ

3.1. Tác động của BĐKH đối với vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

3.1.1. Tác động đối với môi trường tự nhiên của vùng

Tồn bộ các mơi trường tự nhiên là một thể thống nhất và có mối quan hệ chặt

chẽ với nhau. Khi một thành phần trong hệ thống bị tác động thì tồn bộ các thành

phần khác của hệ thống cũng bị ảnh hưởng theo. Vì vậy, BĐKH đã tác động đến các

thành phần của môi trường tự nhiên như một phản ứng dây chuyền.

- BĐKH tác động rất lớn đối với tài nguyên nước. Nó làm thay đổi sự phân bố tài

ngun nước, dòng chảy sơng ngòi, chất lượng cũng như việc cung cấp nước. Trên các

sông, do ảnh hưởng của việc gia tăng nhiệt độ kết hợp với những biến đổi phức tạp của

64



lượng mưa có thể gây ra tình trạng thiếu nước, cạn kiệt dòng chảy vào thời kỳ mùa

khơ; nhưng vẫn có nguy cơ gia tăng dòng chảy lũ vào mùa mưa. Hiện nay trên các

sông Lô, sơng Đà, Kỳ Cùng ... dòng chảy lũ ngày càng bất thường vào thời kỳ mùa

mưa, trong khi mùa kiệt lại trở nên sâu sắc và khan hiếm nước hơn. Ngồi ra những

dòng chảy thất thường đơi khi cũng tạo điều kiện cho những vùng nước ô nhiễm mở

rộng phạm vi.

- Nhiệt độ tăng cao làm quá trình bay hơi diễn ra nhanh hơn. Độ ẩm trong đất

giảm, quá trình chuyển hóa các chất trong đất khó xảy ra. Gây ra tình trạng đất có chất

dinh dưỡng nhưng cây khơng thể hấp thụ. Mùa mưa, trong khi các huyện miền núi

xuất hiện xói mòn, rửa trơi, sạt lở đất thì những vùng đất thấp màu mỡ lại ngập úng,

đất glây hóa, gây khó khăn cho sản xuất nơng nghiệp.

- Biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng lớn đối với các hệ sinh thái, đa dạng

sinh học của vùng. Trong tự nhiên một số lồi sẽ có thể thích ứng với BĐKH trong khi

một số lồi khác khơng thích ứng nổi sẽ suy thối dần. Có rất nhiều lồi sinh vật vốn

rất nhạy cảm với các điều kiện khí hậu, hoặc đã ở trong tình trạng nguy cơ cao, BĐKH

sẽ là mối nguy hại lớn đối với chúng. BĐKH – nhiệt độ tăng cao, kết hợp với ánh sáng

dồi dào sẽ thúc đẩy quá trình quang hợp dẫn đến tăng cường q trình đồng hóa của

cây xanh. Đặc biệt, hàm lượng CO 2 tăng sẽ góp phần làm tăng sự phát triển hệ sinh

thái rừng. Tuy vậy, do tốc độ bốc thoát hơi tăng lên nên độ ẩm đất sẽ giảm, kết quả là

chỉ số tăng trưởng sinh khối của cây rừng có thể sẽ giảm đi. Nguy cơ diệt chủng của

động vật và thực vật gia tăng, một số loài thực vật quan trọng như: Trầm Hương,

Hoàng Đàn… có thể bị suy kiệt. Vùng núi cao Hồng Liên Sơn (tiêu biểu là tỉnh Lào

Cai) là vùng có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên của cả nước, có nhiều lồi động, thực

vật q hiếm. Nóng lên tồn cầu sẽ làm giảm tính đa dạng sinh học khơng chỉ đối với

các loài động thực vật nhiệt đới tồn tại ở giới hạn trên của điều kiện nhiệt độ thích

nghi, mà đặc biệt, còn đối với các lồi động vật á nhiệt đới và ơn đới đang có nguy cơ

tuyệt chủng. Vùng này còn thường xuyên chịu tác động của những hiện tượng khí hậu,

như mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, khơ nóng và hạn hán. Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia

tăng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh phá hoại cây rừng.

Đối với các sinh vật thuỷ sinh khi nhiệt độ nước tăng sẽ ảnh hưởng đến tập tính sinh

học của sinh vật. Nhiều loài di chuyển xuống sâu hoặc đi nơi khác, làm thay đổi cấu

65



trúc phân bố thủy sinh vật theo chiều thẳng đứng. Q trình khống hóa và phân hủy

chất hữu cơ mạnh hơn, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn, hơn nữa do tiêu tốn nhiều năng

lượng cho hô hấp nên chất lượng thủy sản suy giảm. Đặc biệt dưới tác động của

BĐKH nguy cơ ô nhiễm môi trường nước sẽ mở rộng, chất lượng nước giảm điều này

sẽ làm suy giảm mơi trường sống của nhiều lồi sinh vật.

- Mơi trường khơng khí đóng vai trò là nơi chứa đựng thành phần quan trọng của

sự sống cũng chịu tác động của BĐKH. Nhiệt độ tăng cao cũng sẽ tạo điều kiện cho

các tác nhân gây ô nhiễm môi trường khơng khí như khói bụi, các khí độc hại, cũng

như các khí nhà kính phát tán mạnh hơn, xa hơn trong mơi trường khơng khí.

Như vậy BĐKH hậu có tác động không nhỏ đối với các môi trường tự nhiên. Và

khi nó tác động đến một mơi trường nào đó thì cũng sẽ kéo theo sự biến đổi của các

thành phần khác trong tổng thể tự nhiên. Đặc biệt đối với TDMNBB diện tích rừng

một tác nhân quan trọng làm hạn chế ảnh hưởng của BĐKH đang có nguy cơ suy giảm

thì tác động của BĐKH đối với các thành phần tự nhiên ngày càng rõ rệt và khốc liệt

hơn.

3.1.2. Tác động đối với sự phát triển kinh tế

Khí hậu là nguồn tài nguyên thiên nhiên cung cấp và đảm bảo khơng khí, lương

thực, thực phẩm, nước cho con người. Khí hậu cũng mang theo những mối hiểm nguy

vơ cùng lớn bởi biến đổi dị thường, thiên tai và các hiện tượng cực đoan...Vì vậy khi

khí hậu biến đổi thì các hoạt động sản xuất của con người khơng thể tránh khỏi những

tác động của nó.

3.1.2.1. Tác động của BĐKH đến ngành nông nghiệp

* Tác động đến ngành trồng trọt

Sản xuất trồng trọt đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người dân vùng

trung du và miền núi Bắc Bộ. Biến đổi khí hậu tác động đến sản xuất của ngành trồng

trọt ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ thơng qua một số khía cạnh sau:



66



- BĐKH làm mất diện tích đất canh tác. Trung du và miền núi Bắc Bộ vốn được

đặc trưng bởi địa hình phức tạp và có ít diện tích đất canh tác. Một số hiện tượng mà

biến đổi khí hậu là một trong những tác nhân gây ra như sạt lở đất, lũ quét làm mất

diện tích đất canh tác, làm hạn chế nguồn vốn sinh kế cho người dân, đặc biệt là người

nghèo. Hạn hán, rét đậm rét hại làm giảm hoặc phá hủy các diện tích đã được gieo

trồng từ đó giảm sản lượng lương thực sản xuất được. Kết quả nghiên cứu ở vùng

trung du và miền núi Bắc Bộ cho thấy diện tích đất nơng nghiệp mất vào vụ đông xuân

và hè thu hàng năm do hạn hán dao động trong khoảng từ 25 đến 9050 ha (Hình 3.1)



Hình 3.1. Diện tích đất nơng nghiệp bị mất do hạn hán ở

vùng trung du và miền núi Bắc bộ từ 1980 – 1998 (Lau, 2000)[16]

Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang, năm 2011 hạn hán kéo dài

trên địa bàn tỉnh cho nên diện tích gieo trồng chỉ đạt 93% so với kế hoạch, toàn tỉnh có

1820 ha lúa bị hạn trong đó có khoảng 120 ha lúa phải gieo cấy lại, diện tích mất trắng

lên đến 20ha.Tác động của biến đổi khí hậu làm mất diện tích đất canh tác, một số hoạt

động của con người còn góp phần làm trầm trọng hơn tác động của biến đổi khí hậu.

- Rét đậm rét hại cũng làm thiệt hại lớn đến sản xuất lúa. Đợt rét đậm rét hại vào

năm 2008 ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đã phá hủy khoảng 100000 ha lúa, ước

tính tổng thiệt hại do đợt rét này lên đến 30 triệu đô la (Oxfam International in

Vietnam., 2008). Riêng ở tỉnh Lào Cai đợt rét đậm này đã gây thiệt hại hơn 84 tấn lúa

67



giống do người dân phải gieo trồng lại sau khi đợt rét đậm đi qua. Không những chỉ

tác động đến sản xuất lúa, các hiện tượng thời tiết cực đoan còn ảnh hưởng trực tiếp

đến sản xuất lâm nghiệp, cây ăn quả và hoa màu trong vườn. Kết quả nghiên cứu ở

Bắc Kạn cho thấy lũ quét và lụt đã ảnh hưởng trực tiếp đến cây lương thực, hoa màu,

cây ăn quả và cây lâm nghiệp làm mất diện tích đất canh tác và giảm năng suất (Center

for Sustainable Rural Development., 2009)[16].

- Không những làm mất diện tích đất canh tác, biến đổi khí hậu làm suy thối đất

từ đó làm thay đổi hình thức sử dụng đất dẫn đến thay đổi phân bố cây trồng và giảm

năng suất. Sự thay đổi phân bố cây trồng nhiều khi không được theo kịp bởi người dân

hay các chính sách hỗ trợ của chính phủ.

- Nhiệt độ tăng làm thay đổi quá trình sinh trưởng của cây trồng, thời vụ cũng

như sự phân bố cây trồng, từ đó làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng, đặc biệt

là các loại cây cung cấp lương thực cho con người. Nhiệt độ tăng làm giảm nguồn

nước tự nhiên cung cấp cho cây trồng từ có ảnh hưởng đến diện tích đất có thể canh

tác và chất lượng của cây trồng. Đặc biệt, do tính chất địa hình, giảm nguồn nước tự

nhiên do nhiệt độ tăng ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ nghiêm trọng hơn so với

các nơi khác.

- Tăng lượng mưa (ví dụ như mức độ, thời gian và tính thay đổi) gây ngập úng

cho nhiều vùng đồi dào nước. Kết quả nghiên cứu ở tỉnh Lào Cai và Bắc Kạn cho thấy

ngập úng đã gây tác động không nhỏ đến sản xuất trồng trọt.

- Nhìn chung, sinh vật gây ra dịch bệnh và các loại sâu hại phát triển tốt hơn khi

nhiệt độ cao trong điều kiện cung cấp nước tối ưu. Vì vậy sự ấm lên tồn cầu có khả

năng mở rộng sự phân bố các loại dịch bệnh và sâu hại trên cây trồng. Khí hậu đang có

khuynh hướng ấm hơn vào mùa đơng có thể cho phép thời kỳ trứng của côn trùng

vượt qua mùa đông và kết quả gây nên dịch bệnh trong suốt mùa vụ gieo trồng. Kết

quả thảo luận nhóm trong nghiên cứu đánh giá nhu cầu giảm thiểu và thích ứng với

biến đổi khí hậu ở Bắc Kạn cho thấy dịch bệnh cây trồng được xác định là một trong

những hậu quả do tác động của biến đổi khí hậu gây nên (Center for Sustainable Rural

Development., 2009) [16].



68



Biến đổi khí hậu thơng qua nhiệt độ tăng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đã

ảnh hưởng một cách tổng hợp đến năng suất và chất lượng cây trồng. Kết quả nghiên

cứu ở Bắc Kạn cho thấy tác động của biến đổi khí hậu có thể làm giảm từ 30 đến

100% năng suất của cây trồng (Center for Sustainable Rural Development., 2009), từ

đó gây mất an ninh lương thực và nghèo đói cho người dân.

* Tác động đến sản xuất chăn ni

- Biến đổi khí hậu là nguyên nhân quan trọng dẫn đến dịch bệnh trên vật nuôi.

Kết quả nghiên cứu ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ cho thấy dịch bệnh xảy ra

nhiều hơn trong những năm gần đây, ví dụ dịch Lở mồm long móng diễn ra vào năm

2006 ở tỉnh Bắc Kạn, gây thiệt hại lớn đến chăn ni trâu bò của tỉnh (Center for

Sustainable Rural Development., 2009). Khi nhiệt độ tăng sẽ hỗ trợ cho việc lan truyền

mần bệnh đến những vùng lạnh hơn, cả những hệ thống ở vùng cao (như bệnh tụ huyết

trùng) hoặc trong đến những vùng có khí hậu ơn hòa hơn. Thay đổi lượng mưa cũng có

thể ảnh hưởng rộng đến sự di chuyển dịch bệnh trong những năm ẩm ướt. Trong khi

đó người nghèo sống ở vùng cao khơng có khả năng tiếp cận được với các dịch vụ thú

y dẫn đến bùng nổ dịch bệnh trên vật nuôi và kết quả tăng tỷ lệ chết gia súc, gia cầm.

Thêm vào đó khi dịch bệnh diễn ra, thị trường quay lưng lại với sản phẩm chăn nuôi.

Điều này thêm một lần nữa gây thiệt lại lớn cho người chăn nuôi, đặc biệt là nông dân

nghèo có hoạt động chăn ni là những người có các hoạt động sinh kế dễ bị tổn

thương nhất do BĐKH.



69



Hình 3.2. Gia xúc bị chết do rét đậm, rét hại ở TDMNBB (nguồn: sưu tầm)

- Một trong những tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất chăn ni là thay

đổi sự có sẵn nguồn thức ăn cho chăn nuôi. Nhiệt độ xuống thấp hoặc tăng cao đều

làm giảm diện tích đồng cỏ cho chăn ni gia súc nhai lại và giảm năng suất cây trồng

cung cấp lương thực cho gia súc dạ dày đơn. Nhiệt độ thấp (rét đậm và rét hại) làm

khan hiếm nguồn thức ăn cho vật nuôi đồng thời làm giảm khả năng đề kháng của cơ

thể, tăng nguy cơ mắc bệnh từ đó gây chết vật nuôi. Đợt lạnh ở vùng trung du và miền

núi Bắc Bộ vào năm 2008 đã làm chết hơn 60,000 con trâu bò, trong đó riêng tỉnh Lào

Cai có 18,760 con trâu bò chết (Oxfarm Great Britain in Vietnam., 2008), đợt lạnh

năm 2010 ở tỉnh Hà Giang đã làm cho 7,538 con trâu bò bị chết (Ủy Ban Nhân Dân

tỉnh Hà Giang., 2011) là một ví dụ điển hình.

- Nhiệt độ tăng vào mùa hè dẫn đến nhu cầu nước cho vật ni tăng lên rõ rệt,

trong khi đó nguồn nước cung cấp không được đáp ứng một cách đầy đủ. Biến đổi khí

hậu có thể làm giảm khả năng sinh trưởng và sản xuất của vật nuôi như giảm tăng

trọng, sinh sản và sản xuất sữa thông qua giảm chất lượng thức ăn và tăng nhiệt độ

xung quanh.

* Tác động đến lâm nghiệp

Ngoài các tác động của biến đổi khí hậu đến trồng trọt và chăn ni, biến đổi khí

hậu còn có tác động đến sản xuất lâm nghiệp. Mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và

70



lâm nghiệp là mối quan hệ đan xen khó phân biệt được một cách rạch ròi nguyên nhân

và kết quả. Khai thác và sử dụng rừng bất hợp lý góp phần gây nên biến đổi khí hậu.

Biến đổi khí hậu thúc đẩy sự gia tăng thiên tai, thông qua các hiện tượng như hạn hán,

lũ quét, sạt lở đất gây thiệt hại lớn đến sản xuất lâm nghiệp. Chưa có nhiều nghiên cứu

về tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lâm nghiệp ở vùng trung du và miền núi

Bắc Bộ. Các nghiên cứu thường tiến hành theo chiều ảnh hưởng của sản xuất lâm

nghiệp đến biểu hiện của biến đổi khí hậu. Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang

(2011), năm 2010 trên địa bàn tỉnh do nắng hạn kéo dài cho nên đã xảy ra 144 vụ cháy

rừng với tổng diện tích thiệt hại là 1,175.6 ha, đặc biệt trong đó có 323 ha rừng tự

nhiên.

3.1.2.2. Tác động của BĐKH đến ngành công nghiệp – xây dựng

Công nghệ xây dựng có quan hệ mật thiết với các yếu tố khí hậu. Sự biến đổi của

nhiệt độ, độ ẩm và gia tăng một số dạng thiên tai như bão, lốc, lũ lụt... làm thay đổi

tiêu chuẩn xây dựng ảnh hưởng tới công tác quy hoạch, thiết kế, tổ chức thi cơng làm

tăng giá thành các cơng trình xây dựng. Đối với TDMNBB có tới 30 dân tộc khác

nhau có kiến trúc nhà ở rất đa dạng nhưng đồng bào các dân tộc có truyền thống xây

dựng nhà sàn với các vật liệu như cọ, tre, lứa, gỗ...; nhưng dưới tác động của BĐKH,

những hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng có xu hướng gia tăng với cường độ

ngày càng mạnh hơn thì xu hướng các dân tộc cũng chuyển dần sang xây nhà bằng

gạch.

Chế độ mưa ẩm ở thượng nguồn biến động ảnh hưởng đến khả năng sản xuất,

điều tiết của ngành điện. Nhiệt độ tăng góp phần làm tăng nhu cầu sử dụng điện trong

sản xuất, sinh hoạt (thơng gió, làm mát, sưởi ấm...). Những đợt nắng nóng, bão, lũ lụt,

chất ơ nhiễm ... xuất hiện nhiều hơn gây ra sự cố suy giảm chất lượng và tuổi thọ của

nguồn phát, trạm biến áp, mạch truyền tải điện. Hiện nay tại trên sơng Đà thuộc

TDMNBB có tới 3 cơng trình thuỷ điện (thuỷ điện Lai Châu đang xây dựng) với tổng

công suất lên tới trên 5000MW thì tác động của các yếu tố khí hậu có ảnh hưởng rất

lớn đến chế độ dòng chảy, dẫn đến việc sản xuất điện cũng bị tác động rất nhiều nhất

là trong mùa nước cạn.

Biến động của sản xuất nông - lâm - thủy sản về mùa vụ, cơ cấu nơng sản, diện

tích và năng suất, sản lượng tác động tới nguồn ngun liệu của nhóm ngành cơng

71



nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng ... Một số ngành công nghiệp

sử dụng nhiều nước như dệt, luyện kim, cơ khí chế tạo, khai thác cũng bị ảnh hưởng

nghiêm trọng.

Ngoài ra khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng có hoạt động khai thác

khống sản rất mạnh như Thái Nguyên, Cao Bằng, Lào Cai…Tuy nhiên những hoạt

động khai thác này lại chịu tác động trực tiếp của các hiện tượng thời tiết. Vì vậy, khi

thời tiết, khí hậu thay đổi sẽ làm cản trở các hoạt động khai thác và có thể gây ra

những thiệt hại nghiêm trọng.

3.1.2.3. Tác động của BĐKH đến ngành dịch vụ

Trong hệ thống các ngành dịch vụ, giao thông vận tải và du lịch là những ngành

chịu tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH.

Nhiệt độ tăng lên góp phần làm tiêu hao nhiên liệu của các động cơ, trong đó có

hệ thống làm mát của các phương tiện vận tải. Sức ép đổi mới cơng nghệ để giảm phát

thải khí nhà kính tăng lên. Vì vậy chi phí vận tải sẽ có xu hướng tăng. Hơn nữa nhiệt

độ, số ngày nóng, sóng nhiệt gia tăng sẽ phá hủy đường dải nhựa, hệ thống đường ray

của vận tải đường sắt.

Trong những thời kỳ rét đậm rét hại ở TDMNBB có những điểm du lịch nhiệt độ

xuống rất thấp dẫn đến hình thành băng tuyết như Sa Pa (Lào Cai), Mẫu Sơn (Lạng

Sơn). Hiện tượng thiên nhiên này sẽ thu hút rất nhiều khách du lịch đến với TDMNBB

nhưng sau hiện tượng thời tiết đó rất nhiều cảnh quan sẽ bị phá huỷ do thời tiết quá

lạnh. Ngoài ra, sự gia tăng nhiệt độ, môi trường sống ô nhiễm cũng như sự gia tăng

của thiên tai, thời tiết cực đoan, dịch bệnh ... ảnh hưởng đến hoạt động và thời gian

khai thác, thậm chí phá hủy tài nguyên, cơ sở hạ tầng du lịch.

Nhìn tổng thể, tác động của BĐKH đến cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật ở

hai góc độ: quy hoạch xây dựng và thiết kế cơng trình. Quy hoạch không chỉ quy

hoạch đô thị, nông thôn, khu dân cư, sản xuất cơng nghiệp mà còn là hệ thống giao

thông vận tải, thủy lợi, y tế, giáo dục, du lịch ... Những quy hoạch đó phải tính đến sự

gia tăng của nhiệt độ, suy giảm độ ẩm, tốc độ gió và lượng mưa biến đổi ở TDMNBB.

Bởi sự BĐKH sẽ tác động tới tính tiện nghi, hữu dụng, sức chịu tải, độ bền, độ an tồn

của các cơng trình được thiết kế. Vì vậy, quy hoạch cho sự thích ứng là điều rất quan

trọng.

72



Rõ ràng với vùng trung và miền múi Bắc Bộ, tác động của BĐKH đến hoạt động

kinh tế thể hiện ở mọi ngành, theo cả chiều rộng và chiều sâu. Tuy nhiên, tác động này

kéo dài khơng chỉ trong những năm qua mà còn diễn ra trong rất nhiều thập kỉ tới. Có

những tác động chúng ta chưa đánh giá, đo lường được một cách cụ thể nhưng rõ nhất

là hậu quả nặng nề từ thiên tai (có nguồn gốc từ BĐKH) đến hoạt động sản xuất đặc

biệt là ngành nông – lâm mà năm nào vùng cũng phải khắc phục.

3.1.3. Tác động đối với sức khỏe cộng đồng

Bên cạnh tác động đến sản xuất nơng nghiệp, biến đổi khí hậu tác động tiêu cực

đến các khía cạnh khác nhau như tính mạng và sức khỏe, nhà cửa, tài sản, thu nhập và

tiếp cận các dịch vụ xã hội để nâng cao kiến thức của đồng bào dân tộc thiểu số vùng

trung du và miền núi Bắc Bộ.

Thiên tai diễn ra ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ ngày càng diễn ra với tần

suất cao hơn và cường độ nặng hơn. Theo báo cáo quốc gia về giảm nhẹ thiên tai ở

Việt Nam (2005), trong vòng 10 năm từ 1994 – 2003 ở vùng trung du và miền núi Bắc

Bộ có 453 người chết hoặc mất tích, 277 người bị thương và hàng chục nghìn người bị

ảnh hưởng tâm lý và kinh tế; ước tỉnh tổng thiệt hại cơ sở hạ tầng lên đến 1,700 tỷ

đồng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 2001 đến 2008, có đến 438 người chết và

102 người bị thương do lũ quét diễn ra tại các huyện của tỉnh Hà Giang (Dang Thu

Phuong. et al., 2009)[16]. Đợt sạt lở đất ở Bắc Kạn vào năm 2008 gây chết 41 người

và phá hủy 1300 ngôi nhà (Center for Sustainable Rural Development., 2009). Cũng

tại tỉnh Bắc Kạn ước tính tổng thiệt hại do thiên tai gây ra vào năm 2006, 2007 và

2008 lần lượt là 99.8; 30.9 và 94.8 tỷ đồng, đặc biệt là đợt rét đậm rét hại vào năm

2008 gây thiệt hại khoảng 50 tỷ đồng do gia súc gia cầm chết và diện tích lúa phải gieo

trồng lại. Tổng số ngôi nhà bị phá hũy lần lượt trong 3 năm nêu trên lần lượt là 2230;

4440 và 2340 ngôi nhà. Đợt lũ quét và ngập úng vào tháng 5 năm 2009 gây thiệt hại

khoảng 20 tỷ đồng. Tại tỉnh Hà Giang tổng thiệt hại do thiên tai năm 2010 ước tính

150 tỷ đồng, trong đó đợt rét năm 2010 đã gây thiệt hại ước tính đến gần 100 tỷ đồng,

trong đó chủ yếu là thiệt hại về gia súc, lúa mạ và cây cao su (Ủy ban Nhân dân tỉnh

Hà Giang., 2011)

73



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.21 . Giá trị trung bình nồng độ các chất khí độc hại khu vực thành phố Lào Cai năm 2001 – 2003

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×