Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Lượng mưa trung bình theo mùa.

b. Lượng mưa trung bình theo mùa.

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Nhìn chung các trạm khí tượng của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đều có

cùng biến trình năm của lượng mưa, mùa đông (tháng XI - III) ít mưa, mùa hạ (V - IX)

mưa nhiều.



Hình 2.9. Biến trình năm của lượng mưa các trạm ở TDMNBB, thời kỳ 1970 – 2010

Khi xem xét thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa, chúng tôi nhận thấy mùa

mưa bắt đầu vào hai tháng IV, V, lượng mưa trung bình tháng IV trong thời kỳ 1970 2010 cũng đã xấp xỉ tiêu chuẩn bắt đầu mùa mưa (dao động của bốn trạm từ 86.2 –

99.8 mm, tiêu chuẩn là 100 mm) [26]. Tương tự, mùa mưa kết thúc vào các tháng X,

XI và do đó mùa mưa kết thúc phổ biến vào chính tháng kết thúc mùa mưa trung bình

(X) và tháng sau đó (XI). Như vậy mùa mưa phổ biến ở vùng trung du và miền núi

Bắc Bộ từ tháng V đến tháng X, kéo dài 6 tháng, trong đó các trạm Sìn Hồ, Thái

Ngun, Điện Biên và Lạng Sơn mưa nhiều nhất vào tháng VII. Mùa khô từ tháng XI

đến tháng IV, kéo dài 6 tháng, trong đó trạm Thái Ngun, Lạng Sơn và Sìn Hồ có

lượng mưa ít nhất vào tháng XII, trạm Điện Biên vào tháng I.

- Mùa mưa (tháng V - X).

Tổng lượng mưa các tháng mùa mưa trung bình nhiều năm thấp nhất là trạm

Lạng Sơn và Điện Biên (1045 - 1302 mm) và cao nhất là Sìn Hồ (2263 mm), Thái

Nguyên ở mức >1600 mm.

Trong bốn thập kỷ, tổng lượng mưa các tháng mùa mưa trung bình nhiều năm tại

trạm Sìn Hồ luôn lớn nhất và đạt mức trên 2000 mm. Trong thập kỷ 1970 – 1979, sau

Sìn Hồ là Thái Nguyên 1864 mm, Điện Biên 1268 mm, thấp nhất luôn là Lạng Sơn

40



1142 mm. Trong thập kỷ tiếp theo, trừ Điện Biên tăng (1286 mm), các trạm khác đều

giảm, đứng sau Sìn Hồ lúc này Thái Ngun chỉ còn 1569 mm, thấp nhất vẫn là Lạng

Sơn 1062 mm. Thập kỷ 1980 – 1989 có nhiều biến động, bên cạnh trạm Điện Biên tiếp

tục tăng (1455 mm), các trạm Sìn Hồ và Thái Nguyên cũng tăng (2365 – 1638 mm),

trong khi đó Lạng Sơn tiếp tục giảm (1616 – 948 mm). Thập kỷ gần đây nhất thì Lạng

Sơn tăng (1657 – 1045 mm), các trạm khác lại giảm.

Nhìn chung trong mùa mưa lượng mưa tại phần lớn các trạm đều có xu hướng

giảm nhiều hơn. Tuy nhiên, mức độ biểu hiện ở mỗi trạm là hồn tồn khác nhau.

- Mùa khơ (tháng XI - IV).

Trong cả thời kỳ 1970 - 2010, tổng lượng mưa các tháng mùa khơ trung bình

nhiều năm cao nhất ở Sìn Hồ (459 mm), tiếp đến là Thái Nguyên (296 mm), Lạng Sơn

(273 mm) và thấp nhất là Điện Biên (269 mm).

Sự chênh lệch lượng mưa giữa các khu vực trong mùa khô là khá lớn. Thập kỷ

1970 - 1979, tổng lượng mưa các tháng trong mùa khô trung bình nhiều năm của trạm

Sìn Hồ cao hơn Thái Nguyên 163 mm, Lạng Sơn 186 mm, Điện Biên 190 mm. Sang

thập kỷ 1980 – 1989, các trạm đều có lượng mưa tăng, cao nhất vẫn là Sìn Hồ và thấp

nhất là Điện Biên. Trong thập kỷ tiếp theo, các trạm đều có xu hướng giảm, thấp nhất

vẫn là Điện Biên 252 mm và cao nhất vẫn là Sìn Hồ 401 mm. Thập kỷ gần đây nhất,

các trạm lại tiếp tục tăng trừ Thái Ngun.

Có thể thấy trong mùa khơ, tổng lượng mưa trung bình nhiều năm của các trạm

có xu hướng giảm dần tuy rằng xu hướng này chưa thật rõ ràng.



2.1.3. Biến đổi của xoáy thuận nhiệt đới

Xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ hay ảnh hưởng đến vùng trung du và miền núi Bắc

Bộ chủ yếu vào tháng VII, VIII và IX (chiếm 81,4% tổng số xoáy thuận nhiệt đới của



41



thời kỳ 1970 - 2010). Các tháng VI, X, XI cũng có đáng kể (18,6%), các tháng còn lại

khơng có xốy thuận nhiệt đới ảnh hưởng. Như vậy xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ hay

ảnh hưởng đến vùng trung du và miền núi Bắc Bộ chủ yếu trong mùa hạ (tháng VI IX).

Hình 2.10. Xốy thuận nhiệt đới trung bình tháng ảnh hưởng đến

vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1970 - 2010

Trung bình trong thời kỳ 1970 - 2010, vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có 1.75

cơn xốy thuận nhiệt đới/năm ảnh hưởng hoặc đổ bộ, tuy nhiên cũng biến đổi khác

nhau giữa các thời kỳ. Số lượng xoáy thuận nhiệt đới ảnh hưởng nhiều nhất là những

năm 1970 - 1979, với trung bình là 2 cơn xốy thuận nhiệt đới/năm. Thập kỷ 1980 –

1989 giảm xuống 1.7/năm. Sau đó lại giảm chỉ còn 1.4/năm (1990 - 1999) và lại tăng

trở lại đạt 1.7/năm (2000 - 2009). Như vậy trong thời kỳ 1970 – 2010, số lượng xoáy

thuận nhiệt đới ảnh hưởng đến vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có xu hướng giảm

không đáng kể (0.12 cơn/thập kỷ) và không nhất quán nhưng tăng khá rõ trong thập kỷ

gần đây.



Hình 2.11. Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế của XTNĐ ảnh hưởng

đến vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1961 – 2010

2.1.4. Biến đổi của các hoạt động thời tiết cực đoan

Mặc dù nhiệt độ có xu hướng tăng và lượng mưa có xu hướng giảm nhưng trong

thời kỳ 1970 – 2010 những hoạt động thời tiết cực đoan như lũ quét, mưa đá, tố lốc,

sương mù, sương muối, mưa lớn, khơng khí lạnh… ngày càng dị thường hơn.

42



- Lũ quét là một hiện tượng thiên tai có tính chất và đặc điểm khác biệt là lũ diễn

biến nhanh, mang tính bất thần và khốc liệt, mỗi trận xảy ra trên một diện hẹp và phạm

vi tác động cũng hẹp hơn lũ sông. Nếu mưa lớn, nước mưa lại bị tích luỹ bởi các

trướng ngại vật như đất đá, cây cối cho đến khi lượng nước vượt quá sức chịu đựng

của vật chắn, phá vỡ vật chắn, ào xuống rất nhanh, cuốn theo đất đá, cây cối và quét đi

mọi vật có thể quét theo dòng chảy thì được gọi là lũ qt (hay lũ ống), thường diễn ra

rất nhanh, khoảng 3 - 6 giờ. Lũ quét xảy ra bất ngờ, nhanh, có sức tàn phá lớn ở các

lưu vực nhỏ. Lũ lụt là hiện tượng thuỷ văn đặc biệt nguy hiểm, nhất là lũ quét. Trong

một số trường hợp nó có sức tàn phá khủng khiếp và trở thành thảm hoạ tự nhiên, như

trận lũ quét năm 1998 ở thị xã Lai châu (cũ) đã xoá sổ cả bản Mường Lay và khu vực

thị xã. Lũ thường xảy ra ở vùng núi, nơi có địa hình đồi núi cao xen kẽ với thung lũng

và sông suối thấp.

Hiện tượng lũ quét xảy ra ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ chủ yếu vào các

tháng V, VI, VII, VIII (chiếm tới 81% tổng số các đợt lũ quét diễn ra trong thời kỳ

1970 – 2010), các tháng III, IV, IX, X cũng chiếm 19% còn các tháng khác khơng xảy

ra lũ qt. Như vậy, lũ quét ở TDMNBB thường xảy ra vào thời kỳ mùa mưa.



Hình 2.12. Số trận lũ quét trung bình tháng ảnh hưởng đến

vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1970 – 2010

Trung bình trong thời kỳ



1970 – 2010, TDMNBB có khoảng 3.4 trận lũ



quét/năm. Tuy nhiên trong từng thời kỳ khác nhau tần suất và cường độ các trận lũ

quét rất khác nhau, có xu hướng ngày càng gia tăng. Trong thập kỷ 1970 – 1979 chỉ có

43



khoảng 0.8 trận lũ/năm, trong thập kỷ tiếp theo đó đã giảm xuống 0.4 trận/năm. Đến

thập kỷ 1990 – 1999 đã tăng lên 5.7 trận/năm. Và thập kỷ gần đây nhất tiếp tục tăng

lên 7.5 trận/năm. Như vậy có thể thấy hiện tượng lũ quét diễn ra ở TDMNBB có xu

hướng ngày càng tăng về số lượng các trận lũ điều này thể hiện rõ qua các thập kỷ

cũng như qua phương trình xu thế (hình 2.13), trung bình mỗi thập kỷ vùng sẽ phải

hứng chịu thêm 2.4 trận lũ nữa.



Hình 2.13. Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế của lũ quét ảnh hưởng

đến vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1970 – 2010

- Trung du và miền núi Bắc Bộ cũng là vùng chịu ảnh hưởng lớn của các đợt

khơng khí lạnh, gió mùa Đơng Bắc đang ngày càng có xu hướng biến đổi phức tạp.

Trong thời kỳ 1993 – 2011, trung bình mỗi năm vùng chịu ảnh hưởng của hơn 40 đợt

khơng khí lạnh, cao nhất cả nước. Chính các đợt khơng khí lạnh bất thường là ngun

nhân gây ra những trận rét đậm rét hại với mức độ ngày càng cực đoan, khó lường ở

vùng núi phía Bắc. Đặc biệt, trong những năm gần đây các đợt rét đậm, rét hại diễn ra

càng nhiều, với thời gian ngày càng dài hơn. Ví dụ như các đợt rét đậm, rét hại kéo dài

từ 15/1 đến 21/2/2008 với nhiệt độ trung bình ở Sa Pa dao động trong khoảng từ 0.7

đến 1.70C, có những ngày nhiệt độ xuống đến 0.50C, kèm theo tuyết rơi và nước đóng

băng; hay đợt rét đậm, rét hại vào năm 2010, nhiệt độ xuống thấp dưới -4 0C. Đầu năm

2011, cũng xuất hiện đợt rét kéo dài mà nhiệt độ thấp nhất đo được tại Mẫu Sơn (Lạng

Sơn) đã xuống ngưỡng -1,90C. Các đợt rét kéo dài liên tiếp trong những năm gần đây

44



thực sự đã trở thành thảm họa thiên tai với hàng vạn con trâu bò bị chết, hàng ngàn héc

– ta lúa và hoa màu bị mất trắng.

- Một trong những biểu hiện nữa của các hiện tượng thời tiết dị thường ngày càng

có xu hướng cực đoan ở TDMNBB chính là thời kỳ nắng nóng kéo dài. trong những

năm gần đây, các đợt nắng nóng diễn ra ở TDMNBB ngày càng dài hơn và nóng hơn.

Ví như thời kỳ 6 – 7/2010 tại Hồ Bình diễn ra đợt nắng nóng kéo dài 27 ngày với

nhiệt độ tối cao lên đến 41.20C; hay tại Lai Châu thời kỳ nắng nóng lịch sử cũng kéo

dài tới 25 ngày nhiệt độ tối cao lên đến 42.20C.

Bảng 2.9. Thời kỳ nóng >350C lịch sử ở một số tỉnh TDMNBB

giai đoạn 1970 - 2011

Tỉnh

Cao Bằng

Hà Giang

Hòa Bình

Lai Châu

Lạng Sơn

Phú Thọ

Thái Nguyên

Tuyên Quang

Yên Bái



Số ngày

12

10

27

25

13

15

12

17

12



Ngày bắt đầu

02/05/2003

15/06/2010

06/06/2010

13/05/1987

13/06/1983

14/05/2010

15/05/2010

11/06/2010

14/06/2010



Ngày kết thúc

13/05/2003

24/06/2010

02/07/2010

06/06/1987

25/06/1983

28/05/2010

26/05/2010

27/06/2010

25/06/2010



Nhiệt độ tối cao

39.8

36.5

41.8

42.2

39

39.7

38

39.3

38.5



- Ngoài ra các hiện tượng như hạn hán, dông, tố lốc cũng diễn ra với xu hướng

ngày càng phức tạp. Các hiện tượng thời tiết cực đoan này không đồng nghĩa với

BĐKH nhưng chúng tồn tại song hành và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong nhiều

trường hợp chúng là hệ quả trực tiếp của BĐKH.

Nhận định chung

Như vậy, một số đặc trưng yếu tố khí hậu của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

trong thời kỳ 1970 - 2010 không biến đổi theo một quy luật nhất định, mỗi yếu tố, mỗi

trạm khí tượng có đặc điểm biến đổi khác nhau:

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình tháng I, mùa đơng và trung bình năm có xu thế

tăng và trị số tăng càng lớn trong những năm gần đây. Nhiệt độ trung bình tháng VII

và mùa hạ mặc dù có xu thế tăng nhưng không nhất quán giữa các trạm và trị số tăng

cũng nhỏ hơn tháng I và trung bình năm.



45



- Lượng mưa: tổng lượng mưa trung bình nhiều năm của các trạm có xu thế

giảm. Tổng lượng mưa các tháng mùa mưa và mùa khơ trung bình nhiều năm có xu

thế giảm nhưng khơng thật rõ ràng.

- Xốy thuận nhiệt đới có xu thế giảm nhưng có dấu hiệu gia tăng trong thập kỷ

gần nhất.

- Các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ quét, thời kỳ nắng nóng kéo dài, rét

đậm, rét hại... có xu hướng gia tăng với cường độ và tần suất ngày càng lớn.

Kết quả nghiên cứu đã khẳng định: nhiệt độ, lượng mưa, xoáy thuận nhiệt đới,

các hiện tượng thời tiết cực đoan là những yếu tố đặc trưng có sự biến đổi nổi bật nhất,

mang những nét chung của BĐKH cả nước và xu thế BĐKH tồn cầu hiện nay.

2.2. Ngun nhân của biến đổi khí hậu ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

Nguyên nhân chính và trực tiếp nhất gây ra biến đổi khí hậu tồn cầu nói chung và

biến đổi khí hậu ở TDMNBB nói riêng chính là việc phát thải các khí nhà kính vào

bầu khí quyển bởi các q trình tự nhiên cũng như các hoạt động của con người. Trong

đó nhân tố quyết định làm cho BĐKH gia tăng ngày càng nhanh chính là các hoạt

động kinh tế, văn hóa - xã hội và sinh hoạt đời sống của con người. Trong phạm vi giới

hạn của đề tài sẽ đề cập đến những nguyên nhân làm tăng cường lượng phát thải các

khí nhà kính ở TDMNBB – tức là sẽ đi nghiên cứu những nguyên nhân gián tiếp gây

ra biến đổi khí hậu.

2.2.1. Tập quán sinh hoạt, sản xuất của người dân

Trong những năm qua, số dân của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ vẫn tiếp tục

gia tăng, đời sống sinh hoạt không ngừng nâng cao gây sức ép lớn đối với môi trường

cũng như tác động mạnh mẽ đến BĐKH vùng.

Bảng 2.10. Một số đặc điểm dân số vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

trong những năm gần đây

Số dân (nghìn người)

Năm



Tỉ suất

Mật độ

gia tăng

(người/km2) tự nhiên

(‰)



Tỉ suất

gia tăng

cơ học

(%)



Tổng



Thành thị



Nông

thôn



2005



10798.7



1649.1



9149.6



113



14.0



-0.4



2007

2008



11004.2

11207.3



1721.1

1751.1



9283.1

9246.2



115

115



12.5

13.5



-0.9

-0.6

46



2009



11073.5



1770.4



9303.1



116



13.0



-3.6



2010



11169.3



1807.1



9362.2



117



12.7



-3.9



Nguồn: Niên giám thống kê, 2010[22]



Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có quy mơ dân số khơng q lớn nhưng vùng

lại có tỉ lệ gia tăng tự nhiên cao, đứng đầu cả nước. Mặc dù trong những năm gần đây

có xu hướng giảm nhưng vẫn thấp hơn mức trung bình của cả nước (cả nước 2010:

10.3‰). Như vậy trong tương lai dân số của vùng vẫn có xu hướng tăng cao. Bên cạnh

đó, sự phân bố dân cư trong vùng có phần chưa hợp lí. Tập trung đơng nhất là ở Bắc

Giang (408 người/km2), Phú Thọ (374 người/km2) trong khi đó Lai Châu chỉ có 42

người/km2, Điện Biên 53 người/km2. Tuy nhiên, sự phân bố dân cư của vùng vẫn cao

hơn rất nhiều so với mật độ dân số do Liên Hợp Quốc khuyến cáo (30 – 35 người/km 2)

nên đã gây sức ép đến không gian cư trú, cơ sở hạ tầng, chất lượng cuộc sống và đe

dọa nghiêm trọng mục tiêu PTBV.

Sự tập trung đông đúc dân cư kéo theo nguồn phát thải nhiệt sinh học lớn. Bởi

một ngày, người trưởng thành hít vào 1.000 lít khơng khí và thải ra lượng khí cacbonic

tương đương. Q trình đồng hóa của cơ thể còn thải nhiều khí thải qua da, nước tiểu

và phân …. Các phản ứng ơxi hóa trong cơ thể sẽ sinh nhiệt. Khi cơ thể hoạt động, cơ

bắp sinh ra lượng nhiệt khổng lồ, gấp 4 - 5 lần lúc bình thường; các cơ quan như gan,

thận, mơ xương, mơ sụn ... cũng sinh ra nhiệt. Vì thế, q trình tỏa nhiệt diễn ra liên

tục, 1 lít mồ hơi bốc hơi thải ra 600 Kcal, nếu hoạt động nặng nhọc có thể thải ra 9 lít

và phát tán ra 5000 Kcal, lượng nước qua hơi thở là 0,5 lít/người/ngày sẽ thải ra 300

Kcal, nếu lao động nặng nhọc, thở nhanh và mạnh thì sự tỏa nhiệt sẽ tăng gấp đôi. Sự

tỏa nhiệt này chiếm 75 - 85 % là qua da, 9 - 10 % qua hô hấp và ngồi ra qua đường

tiêu hóa phân và nước tiểu. Rõ ràng cơ thể con người là một nguồn phát thải gây ô

nhiễm.

Hơn nữa, mức sống ngày càng cải thiện, đồng nghĩa số lượng tiện nghi sinh hoạt

tăng lên nhanh chóng: điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt, ti vi, máy tính …. Do vậy

lượng nhiên liệu tiêu hao nhiều hơn, điện cho đời sống sinh hoạt cũng ngày càng tăng.

47



Mặt khác công nghệ làm lạnh, hoạt động của các thiết bị thải ra lượng nhiệt, khí thải

lớn.

Bảng 2.11. Tỉ lệ hộ sử dụng tiện nghi sinh hoạt của

vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

Đơn vị: %

Loại đồ dùng

Năm



2002

2004

2006

2008



Địa điểm



Ti

Dàn

Xe

Tủ

Đầu

Ơ tơ

vi

nghe

máy lạnh video

màu nhạc



Đơng Bắc

Tây Bắc

Đơng Bắc



0.1



Tây Bắc

Đơng Bắc



0.1



Tây Bắc



Máy

vi

tính



Máy

điều

hòa



Máy

giặt,

máy

sấy



Bình

tắm

nước

nóng



27



6.8



16.4



41.7



2.6



0.4



0.2



1.1



2.9



23.1



2.8



12.6



29.5



1.1



0.3



0.1



0.7



2.2



42.2



11.8



30.1



59.7



41.1



1.7



0.6



3



5.4



37.4



5.4



22.7



41.5



2.3



1.2



0.1



1.5



3.5



49.8



17.5



42



72.1



4.9



2.9



1.5



5



8



49.3



10.4



37.8



60.4



4



1.9



1



4.5



6.7



Đơng Bắc



0.3



63.6



27.1



48.9



82.6



6.8



5.7



2.7



7.7



11.3



Tây Bắc



0.4



66.1



17



46.8



74.8



4.2



4.2



1.2



6.7



8.2



Nguồn: Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình 2008[19]

Trong hoạt động sinh hoạt, bên cạnh đun gas, điện còn một bộ phận lớn gia đình

sử dụng than và củi đốt - nguồn phát thải đáng kể. Đun nấu bằng than, củi đốt - loại

chất đốt thô sơ, nên cường suất tỏa độc rất lớn, thải ra CO, CO2, SO2….

Tổng lượng thải sinh hoạt của vùng đặc biệt là khu vực các đô thị liên tục tăng.

Chất thải sinh hoạt chia thành ba nhóm cơ bản, song chiếm tỉ trọng cao nhất là nguồn

gốc hữu cơ (rau, củ, quả, rác nhà bếp…), nguồn gốc vô cơ (đất, gạch, đá, xỉ than,

tro…) và thuộc loại khác (kim loại, ni - lon, nhựa, giấy …). Chất thải sinh hoạt thường

có độ ẩm lớn 46 -70%, nhiệt trị 900 -1100 Kcal/kg. Trong khi đó, việc thu gom rác thải

sinh hoạt còn hạn chế, chưa phân loại hiệu quả, thu gom gián tiếp và thủ công, phương

tiện lạc hậu, ý thức của dân cư chưa cao. Do phần trong vùng có đơng các đồng bào

dân tộc thiểu số trình độ dân trí còn chưa cao, sống chủ yếu ở vùng nơng thơn. Ở các

48



khu vực đơ thị cơng nghệ xử lí chất thải lạc hậu, phân loại phục vụ sản xuất phân hữu

cơ - vi sinh và tái chế còn hạn chế chủ yếu vẫn là chôn lấp. Tuy nhiên nhiều bãi rác

chưa được nghiên cứu kĩ để thiết kế đúng tiêu chuẩn vệ sinh, hạn chế tối đa ảnh hưởng

của chúng đến môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước, không khí và lãng phí tài ngun

đất. Các bãi chơn lấp chưa thu hồi được khí, nhiệt thải và kết hợp sản xuất điện. Bởi

trong môi trường nhiệt ẩm cao, vi sinh vật phát triển, phản ứng sinh học diễn ra mạnh,

đẩy nhanh tốc độ phân hủy rác hữu cơ. Rác phân hủy sinh ra các khí nhà kính CO 2,

SO2, NH3, NH4, H2S… ngay từ khi thu gom đến chôn lấp, đóng góp đáng kể cho

BĐKH.

Bên cạnh đó, vùng trung du và miền núi Bắc Bộ là địa bàn sinh sống của hơn 30

tộc người thiểu số thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau. Theo số liệu Tổng điều tra

dân số năm 2009, các dân tộc thiểu số chiếm khoảng gần 62% tổng dân số của cả khu

vực miền núi phía Bắc. Người dân các đồng bào dân tộc có tập quán sản xuất theo

phương thức “du canh”. Du canh ở Việt Nam có thể chia làm 3 nhóm: (sx nơng lâm

kết hợp)

- Nhóm thứ nhất là du canh truyền thống, ở đây du canh gắn liền với du cư, khi

di chuyển vị trí nương rẫy người dân di chuyển cả nhà ở. Đây là phương thức canh tác

rất lạc hậu gắn liền là đời sống thấp, tạm bợ và thường gặp ở các dân tộc ít người như

H’Mơng, Dao.

- Nhóm thứ hai là du canh khơng du cư, nơi trồng trọt thay đổi còn nhà ở cố định.

Phần lớn đây cũng là những dân tộc ít người sống ở các làng bản.

- Nhóm thứ ba là “du canh phụ”, bao gồm những người chủ yếu sống bằng canh

tác ruộng đất cố định, thường là trồng lúa. Để bổ sung cho nhu cầu lương thực họ

trồng thêm ngô, sắn hoặc rau quả ở nương rẫy. Trước đây kiểu canh tác bổ sung này

hạn chế về quy mô nhưng với sức ép tăng dân số nó trở thành phổ biến ở nhiều vùng

khắp Việt Nam; nhiều đồi núi đã bị mất hết độ màu mỡ đến mức không thể trồng trọt

hàng năm được.

Ở vùng núi Bắc Bộ du canh thuộc nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai là chủ yếu.

Khi mật độ dân số rất thấp, du canh tỏ ra vẫn có tác dụng nhất định để đảm bảo cuộc

sống của người dân mà không phải đầu tư nhiều trong điều kiện của người dân sống

cách biệt với các trung tâm kĩ thuật và dịch vụ, giao thơng lại cực kì khó khăn. Mặt

49



khác nó cũng khơng làm tổn hại nhiều đến đất rừng do thời gian bỏ hoá rất dài (10 đến

15 năm) đủ để có thể phục hồi lại được độ phì của đất rừng đã bị mất do xói mòn và

canh tác nơng nghiệp nhờ vào cây rừng thứ sinh mọc lên nhanh chóng trên diện tích

đó. Nhưng khi sức ép dân số tăng lên, thời gian bỏ hoá bị rút ngắn đi rất nhiều, việc

canh tác liên tục với sự trả lại cho đất rất ít, cộng với mưa mùa nhiệt đới đã làm suy

giảm độ phì của đất theo đó là sản lượng cây trồng bị giảm sút. Như vậy lại phải phát

quang nhiều diện tích hơn để đủ bù số lương thực bị giảm năng suất, dẫn đến vòng

quay “đất nghỉ” càng ngắn hơn, cứ như vậy hình thành cái vòng luẩn quẩn khơng thể

thốt ra khỏi. Chính tập qn sản xuất này đã góp phần làm cho độ che phủ rừng giảm

đi rất nhiều. Diện tích rừng giảm làm mất đi bể hấp thụ khí nhà kính của vùng.

Bảng 2.12. Diện tích có rừng và độ che phủ rừng ở các tỉnh thuộc vùng trung du

và miền núi Bắc Bộ giai đoạn 2007 - 2009

Đơn vị: Diện tích - nghìn ha; Độ che phủ - %

2008

2009



2007

Diện

tích



Độ che

phủ



Diện tích



Độ che

phủ



Diện

tích



Độ che

phủ



Hà Giang



393.0



48.0



422.5



52.6



427.5



51.6



Cao Bằng



329.8



49.0



333.5



49.5



334.9



49.8



Bắc Kạn



267.6



54.5



274.4



55.7



281.3



56.6



Tuyên Quang



376.3



61.5



386.1



62.5



386.1



62.8



Lào Cai



307.6



47.1



314.9



47.8



323.3



49.4



n Bái



396.1



57.5



400.2



56.3



404.4



56.9



Thái Ngun



164.4



44.5



167.9



45.3



171.7



45.7



Lạng Sơn



372.5



43.3



382.4



44.1



393.9



45.1



Bắc Giang



157.7



37.3



156.9



36.5



159.0



37.6



Phú Thọ



171.9



47.0



175.4



47.8



178.9



48.8



Điện Biên



379.2



39.7



397.1



41.6



394.6



41.1



Lai Châu



346.4



37.9



349.8



38.1



363.4



39.4



Sơn La



580.3



41.2



583.5



41.2



587.0



41.4



Hòa Bình



210.5



40.7



213.9



42.2



227.5



45.5



Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - http://www.agroviet.gov.vn



50



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Lượng mưa trung bình theo mùa.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×