Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VÙNG TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ THỜI KỲ 1970 - 2010

Chương 2: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VÙNG TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ THỜI KỲ 1970 - 2010

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Nhiệt độ trung bình tháng I gia tăng đáng kể trong bốn thập kỷ gần đây, tuy

nhiên ở mỗi tiểu vùng và trạm tốc độ gia tăng hoàn toàn khác nhau.

Bảng 2.1. Nhiệt độ trung bình tháng I qua các thập kỷ tại các trạm khí tượng của

vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1970 - 2010

Đơn vị: 0C

Thập kỷ



Thái Nguyên



Lạng Sơn



Điện Biên



Sìn Hồ



1970 - 1979



15.3



12.7



15.8



9.8



1980 - 1989



16.0



13.1



16.7



10.2



1990 - 1999



16.5



13.3



17.3



10.9



2000 - 2009



16.5



13.4



16.9



10.4



- Nhiệt độ trung bình tháng I tại trạm Điện Biên cao nhất so với các trạm

(16.70C), cao hơn so với Thái Nguyên +0.6 0C, Lạng Sơn là +3.60C và Sìn Hồ là

+6.40C.

- Thập kỷ 1970 – 1979, nhiệt độ trung bình tháng I tại các trạm Điện Biên, và

Thái nguyên ở mức >150C, trong khi đó trạm Lạng Sơn chỉ là 12.7 0C và Sìn Hồ là

9.80C. Trong hai thập kỷ 1980 – 1999, các trạm đều tăng nhiệt độ trung bình tháng I,

trong đó trạm Điện Biên tăng nhiều nhất và là trạm có nhiệt độ cao nhất (17.3 0C).

Thập kỷ gần đây nhất, riêng Lạng Sơn tăng 0.1 0C và Thái Nguyên giữ nguyên con số

của thập kỷ trước còn các trạm khác đều giảm.

- Tốc độ tăng nhiệt độ trung bình tháng I tại các trạm cũng rất khác nhau. Chuẩn

sai nhiệt độ trung bình tháng I tại tất cả các trạm đều đạt âm trong hai thập kỷ 1970 –

1989 và đổi dấu trong hai thập kỷ tiếp theo.

Bảng 2.2. Chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng I qua các thập kỷ tại các trạm khí

tượng của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1970 – 2010

Đơn vị: 0C

Thập kỷ



Thái Nguyên



Lạng Sơn



Điện Biên



Sìn Hồ



1970 - 1979



-0.756



-0.437



-0.872



-0.553



1980 - 1989



-0.116



-0.027



-0.012



-0.133



1990 - 1999



0.424



0.183



0.628



0.557

26



2000 - 2009



0.448



0.281



0.256



0.129



- Độ lệch chuẩn của nhiệt độ trung bình tháng I trong thời kỳ 1970 – 2010, tại

trạm Lạng Sơn là cao nhất 1.60C, thấp nhất là ở trạm Sìn Hồ và Điện Biên 1.2 0C, Thái

Nguyên 1.40C.

- Trong thời kỳ 1970 – 2010, Biến suất của nhiệt độ trung bình tháng I tại trạm

Lạng Sơn 12%, thấp nhất là trạm Điện Biên 7.1%, các trạm khác dao động 7.8 –

11.7%.

- Trạm khí tượng Điện Biên có phương trình xu thế của nhiệt độ trung bình tháng

I là: yt = 70.958 + 0.0441t. Nghĩa là tại trạm Điện Biên, nhiệt độ trung bình tháng I

tăng trung bình 0.04410C/năm, tương đương với 0.440C/thập kỷ cao nhất so với các

trạm còn lại: Thái Ngun 0.31 0C/thập kỷ, Sìn Hồ là 0.30 0C/thập kỷ, và thấp nhất là

Lạng Sơn 0.240C/thập kỷ.

Như vậy có thể thấy nhiệt độ trung bình tháng I ở vùng trung du và miền núi Bắc

Bộ trong thời kỳ 1970 – 2010 có xu thế gia tăng nhưng tại mỗi thập kỷ và tại mỗi trạm

có tốc độ tăng khác nhau.



27



}{{{



Hình 2.1. Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế

của nhiệt độ tháng I, thời kỳ 1970 – 2010.



28



Hình 2.2. Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế

của nhiệt độ tháng I, thời kỳ 1970 – 2010 (tiếp)

2.1.1.2. Nhiệt độ tháng VII

Trong tháng VII, tháng tiêu biểu cho mùa hè, nhiệt độ trung bình các thập kỷ

khơng khác nhau nhiều như trong mùa đơng do nhiệt độ mùa hè ít biến đổi hơn.

- Trong thời kỳ 1970 – 2010, nhiệt độ trung bình tháng VII tại trạm khí tượng

thuộc tiểu vùng Đơng Bắc cao hơn so với Tây Bắc, trong đó trạm Thái Nguyên là cao

nhất 28.580C, sau đó là Lạng Sơn 27.10C (thấp hơn 1.50C), Điện Biên 25.90C (thấp hơn

2.730C), thấp nhất là Sìn Hồ 19.90C (thấp hơn 8.720C).

Bảng 2.3. Nhiệt độ trung bình tháng VII qua các thập kỷ tại các trạm khí tượng

vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1970 - 2010

Đơn vị: 0C

Thập kỷ



Thái Nguyên



Lạng Sơn



Điện Biên



Sìn Hồ



1970 - 1979



28.5



27.0



25.6



19.6



1980 - 1989



28.6



27.4



26.0



20.0



1990 - 1999



28.4



27.0



25.9



19.9



2000 - 2009



28.8



27.1



26.0



20.0



- Trong bốn thập kỷ gần đây, nhiệt độ trung bình tháng VII có những biến động

khá phức tạp. Trong thập kỷ 1970 – 1979, nhiệt độ trung bình tháng VII ở các trạm

Đông Bắc đạt từ 270C trở lên, trong khi đó, trạm Điện Biên 25.6 0C và Sìn Hồ thấp nhất

19.60C. Sang thập kỷ tiếp theo, 1980 – 1989, tất cả các trạm đều tăng nhiệt độ trung

bình tháng VII, trong đó tăng nhiều nhất là Lạng Sơn, và hai trạm Tây Bắc +0.4 0C,

Thái Nguyên chỉ tăng +0.1 0C. Thập kỷ 1990 – 1999, nhiệt độ các trạm đều giảm và

giảm mạnh nhất là Lạng Sơn (giảm 0.4 0C), Thái Nguyên 0.20C và các trạm còn lại

0.10C . Thập kỷ gần đây nhất thì nhiệt độ trung bình tháng VII tại các trạm đều tăng

lên.

- Giống như tháng I, nhiệt độ trung bình tháng VII tại các trạm có tốc độ tăng rất

khác nhau. Tất cả các trạm đều có chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng VII âm trong

thập kỷ 1970 – 1979 và đổi dấu trong thập kỷ tiếp theo. Nhưng đến thập kỷ 1990 –

1999, 3/4 trạm lại trả về dấu âm, riêng trạm Sìn Hồ vẫn có chuẩn sai dương. Sang thập

29



kỷ gần đây nhất thì chỉ có trạm Lạng Sơn là chuẩn sai âm, các trạm khác đều mang giá

trị dương.

Bảng 2.4. Chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng VII tại các trạm khí tượng

vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1970 - 2010

Đơn vị: 0C

Thập kỷ



Thái Nguyên



Lạng Sơn



Điện Biên



Sìn Hồ



1970 - 1979



-0.106



-0.133



-0.273



-0.277



1980 - 1989



0.064



0.247



0.147



0.073



1990 - 1999



-0.156



-0.083



-0.003



0.063



2000 - 2009



0.197



-0.031



0.130



0.141



- Trong thời kỳ 1970 – 2010, Độ lệch chuẩn của nhiệt độ trung bình tháng VII

chênh lệch khơng đáng kể giữa các trạm. Cao nhất là Lạng Sơn 0.6 0C, trạm Thái

Nguyên là 0.50C, thấp nhất là hai trạm Tây Bắc 0.4 0C. Trong thời kỳ này, biến suất

của nhiệt độ trung bình tháng VII cũng khơng lớn chỉ dao động trong khoảng từ 1.7 –

2.1%.



30



Hình 2.3. Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế

của nhiệt độ tháng VII, thời kỳ 1970 – 2010



31



Hình 2.4. Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế

của nhiệt độ tháng VII, thời kỳ 1970 – 2010 (tiếp)

- Phương trình xu thế của nhiệt độ trung bình tháng VII trong thời kỳ 1970 –

2010 tại các trạm khí tượng vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đều có hệ số b khơng

lớn, cao nhất là Sìn Hồ và Điện Biên 0.015 0C/năm nghĩa là trung bình nhiệt độ tháng

VII tăng trung bình 0.150C/thập kỷ, Thái Nguyên là 0.140C/thập kỷ, thấp nhất là Lạng

Sơn tăng 0.060C/thập kỷ.

Như vậy, nhiệt độ trung bình tháng VII vùng trung du miền núi Bắc Bộ cũng có

xu hướng tăng nhưng tốc độ tăng khơng lớn lắm.

2.1.1.3. Biến đổi nhiệt độ theo mùa.

- Nhiệt độ trung bình tháng mùa hạ (tháng V- IX, theo quan niệm của GS.TS

Nguyễn Trọng Hiệu và GS. TS Lê Đình Quang), trong thời kỳ 1970 – 2010, các trạm

khí tượng Đơng Bắc cao hơn Tây Bắc, trong đó cao nhất là Thái Nguyên với 27.9 0C

cao hơn, Lạng Sơn +1.670C, Điện Biên +2.290C và thấp nhất là Sìn Hồ thấp hơn Thái

Nguyên 8.360C.

Bảng 2.5. Nhiệt độ trung bình mùa hạ tại các trạm khí tượng

vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1970 - 2010

Đơn vị: 0C

Thập kỷ



Thái Nguyên



Lạng Sơn



Điện Biên



Sìn Hồ



1970 - 1979



27.7



26.1



25.3



19.3



1980 - 1989



27.9



26.3



25.7



19.6



1990 - 1999



28.0



26.3



25.6



19.7



2000 - 2009



28.1



26.3



25.8



19.7



- Trong mỗi thập kỷ, nhiệt độ trung bình mùa hạ cũng rất khác nhau giữa các

trạm. Trong thập kỷ 1970 – 1979, nhiệt độ trung bình mùa hạ tại trạm Thái Nguyên là

cao nhất 27.70C, thấp nhất là Điện Biên và Sìn Hồ 25.3 0C và 19.30C, Lạng Sơn ở mức

26.10C. Sang thập kỷ tiếp theo nhiệt độ trung bình mùa hạ tại các trạm đều tăng nhưng

tốc độ tăng khác nhau, Thái Nguyên là trạm có nhiệt độ cao nhất 27.9 0C, thấp nhất vẫn

32



là Sìn Hồ (19.60C), Điện Biên tăng mạnh nhất 0.40C, Lạng Sơn là 0.20C chỉ tăng nhẹ

0.10C. Thập kỷ 1990 – 1999, nhiệt độ trung bình mùa hạ tại các trạm có nhiều biến

động. Trạm Lạng Sơn chững lại ở 26.3 0C, Điện Biên giảm 0.10C, trong khi Thái

Nguyên và Sìn Hồ tăng nhẹ (0.10C).

- Nhiệt độ trung bình mùa đơng (XI – III) thời kỳ 1970 – 2010 ở các trạm có sự

khác nhau. Giống mùa hạ cao nhất là ở trạm Thái Nguyên 18.5 0C và Điện Biên 18.40C,

Lạng Sơn là 15.80C và thấp nhất là Sìn Hồ 12.30C.

Bảng 2.6. Nhiệt độ trung bình mùa đơng tại các trạm khí tượng

vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1970 - 2010

Thập kỷ



Thái Nguyên



Lạng Sơn



Điện Biên



Đơn vị: 0C

Sìn Hồ



1970 - 1979



18.0



15.5



17.7



11.8



1980 - 1989



18.1



15.4



18.4



12.2



1990 - 1999



18.8



16.0



18.7



12.5



2000 - 2009



19.1



16.1



18.7



12.5



- Nhiệt độ trung bình mùa đơng tại các trạm có những biến động khác nhau trong

bốn thập kỷ. Trong thập kỷ 1970 – 1979, Thái Ngun có nhiệt độ trung bình mùa

đơng cao nhất 180C, cao hơn Điện Biên +0.3 0C, Lạng Sơn +2.50C và Sìn Hồ là 6.20C.

Sang thập kỷ tiếp theo, trừ Lạng Sơn giảm 0.1 0C, các trạm khác đều tăng với tốc độ

khác nhau. Tuy nhiên, Thái Nguyên vẫn có nhiệt độ trung bình mùa đơng cao nhất.

Thập kỷ 1990 – 1999, nhiệt độ trung bình mùa đơng tại các trạm đều tăng 0.3 – 0.7 0C

và cao nhất vẫn là Thái Nguyên, thấp nhất vẫn là Lạng Sơn 18.7 0C và Sìn Hồ 12.50C.

Thập kỷ gần đây nhất, nhiệt độ tại các trạm Thái Nguyên và Lạng Sơn tăng (19.1 0C,

16.10C), các trạm còn lại đều giữ nguyên con số của thập kỷ trước.

Như vậy, có thể thấy nhiệt độ trung bình mùa của vùng trung du và miền núi Bắc

Bộ có xu hướng tăng trong thời kỳ 1970 – 2010. Mức độ thay đổi nhiệt độ ở hai tiểu

vùng: Đông Bắc và Tây Bắc là tương đương nhau.

2.1.1.4. Nhiệt độ trung bình năm.

- Khảo sát chuỗi số liệu thời kỳ 1970 - 2010 cho thấy, dù nhiệt độ trung bình năm

là 21,40C nhưng rất khác biệt ở các trạm khí tượng. Cụ thể, trong bốn thập kỷ qua Thái

33



Ngun là trạm có nhiệt độ trung bình năm ln cao nhất (23.4 0C), sau đó là Điện

Biên (22.20C), Lạng Sơn (21.30C) và thấp nhất là Sìn Hồ (16.10).

Bảng 2.7. Nhiệt độ trung bình năm tại các trạm khí tượng

vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kỳ 1970 - 2010

Đơn vị: 0C

Thập kỷ



Thái Nguyên



Lạng Sơn



Điện Biên



Sìn Hồ



1970 - 1979



23.0



21.1



21.7



15.7



1980 - 1989



23.2



21.1



22.3



16.2



1990 - 1999



23.5



21.3



22.4



16.3



2000 - 2009



23.8



21.6



22.5



16.3



- Trong thập kỷ 1970 – 1979, nhiệt độ trung bình năm tại Thái Nguyên là 23 0C,

thấp nhất là Sìn Hồ 15.70C, Lạng Sơn và Điện Biên ở mức 210C. Sang thập kỷ 1980 –

1989, Lạng Sơn duy trì ở mức 21.10C còn các trạm khác đều tăng 0.2 – 0.60C. Trong

thập kỷ tiếp theo, nhiệt độ trung bình năm tại các trạm đều tăng nhẹ và nhiệt độ tại

Thái Nguyên vẫn cao nhất 23.50C, thấp nhất vẫn là ở Sìn Hồ 16.3 0C. Thập kỷ gần đây

nhất, nhiệt độ trung bình tại các trạm đều tăng riêng chỉ có Sìn Hồ là giữ nguyên mức

16.30C.

- Độ lệch chuẩn của nhiệt độ trung bình năm tại cả 4 trạm đều nhỏ hơn so với độ

lệch chuẩn của nhiệt độ trung bình tháng. Giá trị độ lệch chuẩn của nhiệt độ trung bình

năm cũng khơng có mấy chênh lệch giữa các trạm: Thái Ngun là 0.5 0C, các trạm còn

lại đều là 0.40C.

- Biến suất của nhiệt độ trung bình năm ở các trạm thuộc Đơng Bắc ít chênh lệch

giữa các trạm hơn so với các trạm thuộc Tây Bắc. Cao nhất là Sìn Hồ 2.3%, Thái

Nguyên là 2.1%, Lạng Sơn 2.0%, thấp nhất là Điện Biên 1.9%.

- Trong thập kỷ 1970 – 1979, chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm của cả 4 trạm khí

tượng đều âm: Thái Nguyên -0.380C, Lạng Sơn -0.170C, Điện Biên -0.490C, Sìn Hồ

-0.380C. Ở thập kỷ tiếp theo các trạm khí tượng thuộc Tây Bắc đã đổi dấu còn các trạm

Đơng Bắc vẫn mang dấu âm. Hai thập kỷ sau, chuẩn sai trung bình năm có giá trị

dương. Cao nhất là thập kỷ 2000 - 2009, chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm đều đạt

đỉnh: Thái Nguyên 0.430C, Lạng Sơn 0.290C, Điện Biên 0.200C và Sìn Hồ 0.210C.

34



- Phương trình xu thế của nhiệt độ trung bình năm tại các trạm: Thái Nguyên: y t

= 33.425 + 0.0286t, Điện Biên: y t = 29.048 + 0.0258t, Lạng Sơn: y t = 15.263 +

0.0184t, Sìn Hồ: yt = 20.336 + 0.0138t.



Hình 2.5. Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế

của nhiệt độ trung bình năm, thời kỳ 1970 – 2010



35



Hình 2.6. Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế

của nhiệt độ trung bình năm, thời kỳ 1970 – 2010 (tiếp)

Như vậy có thể thấy nhiệt độ trung bình năm vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

có xu hướng tăng trong thời kỳ 1970 – 2010. Tuy nhiên từng giai đoạn khác nhau tốc

độ gia tăng nhiệt độ cũng nhau. Nhiệt độ tại các trạm khí tượng cũng có những khác

biệt, các trạm Đơng Bắc gia tăng nhiều hơn nhưng mức độ chênh lệch giữa các trạm

không lớn như các trạm Tây Bắc.

2.1.2. Biến đổi lượng mưa

2.1.2.1. Lượng mưa trung bình nhiều năm.

- Trong thời kỷ 1970 – 2010, lượng mưa trung bình nhiều năm tại các trạm khí

tượng vùng trung du và miền núi Bắc Bộ dao động trong khoảng từ 1323 – 2727 mm.

Sìn Hồ là trạm có lượng mưa trung bình nhiều năm lớn nhất 2727 mm, đứng thứ hai là

Thái Nguyên 1932 mm, thấp hơn nữa có Điện Biên 1577 mm và thấp nhất là Lạng Sơn

1323 mm. Rõ ràng lượng mưa trung bình nhiều năm tại các trạm khí tượng vùng trung

du miền núi Bắc Bộ có mức chênh lệch khá lớn.

36



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VÙNG TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ THỜI KỲ 1970 - 2010

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×