Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU BĐKH VÙNG TDMNBB THỜI KỲ 1970 - 2010

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU BĐKH VÙNG TDMNBB THỜI KỲ 1970 - 2010

Tải bản đầy đủ - 0trang

- BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình theo một xu thế nhất

định, hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài

thập kỷ hoặc dài hơn.[11]

- BĐKH là “những ảnh hưởng có hại của BĐKH”, là những biến đổi trong mơi

trường vật lí hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả

năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lí hoặc đến hoạt

động của các hệ thống KT - XH hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người. (theo Công

ước chung của Liên hợp quốc về BĐKH).[12]

Như vậy Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình

và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập

kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là do các q trình tự nhiên bên trong hoặc các

tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí

quyển hay trong khai thác sử dụng đất.

1.1.1.4. Kịch bản biến đổi khí hậu

Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến

triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa KT-XH, GDP, phát thải khí nhà kính, biến

đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Lưu ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự

báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và

hành động. [13]

1.1.1.5. Khí nhà kính – hiệu ứng nhà kính

Tại những vùng lạnh lẽo của Trái Đất, người ta sử dụng những ngơi nhà bằng kính

(hoặc vật liệu trong suốt) để trồng cây và rau. Kính có tác dụng cho ánh sáng đi vào

nhưng khơng cho nhiệt thốt ra bên ngồi.

Trái Đất có một lớp hỗn hợp các loại khí trong bầu khí quyển của mình có khả năng

giữ nhiệt từ ánh sáng mặt trời (như nhà kính) và vì thế làm cho Trái Đất khơng bị lạnh đi,

các khí đó được gọi là các khí nhà kính. Có nhiều khí nhà kính, gồm CO 2, CH4, CFC,

SO2, hơi nước ... Khi ánh sáng mặt trời chiếu vào Trái Đất, một phần được Trái Đất hấp

thu và một phần được phản xạ vào khơng gian. Các khí nhà kính có tác dụng giữ lại nhiệt

8



của mặt trời, khơng cho nó phản xạ đi, nếu các khí nhà kính tồn tại vừa phải thì chúng

giúp cho nhiệt độ Trái Đất khơng q lạnh nhưng nếu chúng có q nhiều trong khí

quyển thì kết quả là Trái Đất nóng lên. Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí

được xếp theo thứ tự sau: CO2 => CFC => CH4 => O3 =>NO2.

Hiệu ứng giữ nhiệt ở tầng thấp của khí quyển bởi các khí nhà kính hấp thụ bức xạ từ

mặt đất phát ra và phát xạ trở lại mặt đất làm cho lớp khí quyển tầng thấp và bề mặt Trái

đất ấm lên tựa như vai trò của một nhà kính và được gọi là hiệu ứng nhà kính.[8]



Hình 1.1. Hiệu ứng nhà kính [8]

1.1.2. Biểu hiện BĐKH ở Việt Nam

Ở Việt Nam, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các yếu tố

khí hậu và mực nước biển có những điểm đáng lưu ý sau:

- Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (1958 – 2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam

tăng lên khoảng 0,50C đến 0,70C. Nhiệt độ mùa đông tăng lên nhanh hơn nhiệt độ mùa hè

và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng khí hậu phía Nam

(Hình 5a). Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 – 2000) cao hơn trung

bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931 – 1960). Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ

1991 – 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của

thập kỷ 1931 – 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6 0C. Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở

cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 là 0,8 – 1,3 0C và cao hơn

thập kỷ 1991 – 2000 là 0,4 – 0,50C (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi

khí hậu, Bộ TNMT, 2008).

9



- Lượng mưa: Trên từng điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trong

9 thập kỷ vừa qua (1911 – 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác

nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. Lượng mưa năm giảm ở các vùng

khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam (Hình 5b). Tính trung bình trong

cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958 – 2007) đã giảm 2% (Chương trình

mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008).

- Khơng khí lạnh: Số đợt khơng khí ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai

thập kỷ qua. Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại thường xuất hiện mà gần đây nhất là

đợt khơng khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm

2008 ở Bắc Bộ (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT,

2008).

- Bão: những năm gần đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn. Quỹ đạo bão

có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão

có đường đi (Hình 6) dị thường hơn (Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho công ước

khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2003).

- Mực nước biển: Số liệu quan chắc tại các trạm hải văn dọc ven biển Việt Nam cho

thấy tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay khoảng

3mm/năm (giai đoạn 1993 – 2008), tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới.

Trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển (Hình 7) tại trạm hải văn Hòn Dấu dâng lên

khoảng 20cm (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT,

2008).



10



Hình 1.2. Diến biến của nhiệt độ (a) và lượng mưa (b) ở Việt Nam trong 50 năm qua [6].



a)



b)

11



1.1.3. Phương pháp tính tốn các đặc trưng BĐKH TDMNBB

Đối với TDMNBB, trong khoảng thời gian từ 1970 – 2010, khi nghiên cứu về

mức độ BĐKH tác giả không thể đề cập đến tất cả các yếu tố mà chỉ dừng lại ở một số

yếu tố khí hậu cơ bản như: nhiệt độ khơng khí (T); tổng lượng mưa (R), tần số xoáy

thuận nhiệt đới.

1.1.3.1. Các trạm khí tượng, thời kỳ quan trắc và thập kỷ

BĐKH TDMNBB được tính tốn và nghiên cứu qua số liệu 4 trạm khí tượng của vùng

TDMNBB: 1 – Thái Nguyên; 2 – Lạng Sơn; 3 – Điện Biên; 4 – Sìn Hồ (bảng 1)

Bảng 1.1. Các trạm khí tượng nghiên cứu

Vĩ độ Bắc

(độ, phút)



Kinh độ Đông

(độ, phút)



Độ cao

(mét)



Thời kỳ

quan trắc



Thái Nguyên Thái Nguyên

Lạng Sơn

Lạng Sơn

Điện Biên

Điện Biên



21035’

21050’

21021’



105050’

106046’

103000’



36

258

479



1970 – 2010

1970 – 2010

1970 – 2010



Sìn Hồ



22021’



103015’



1529



1970 – 2010



Trạm



Tỉnh



Lai Châu



Các đặc trưng mơ tả chế độ khí hậu cũng như các đặc trưng phản ánh mức độ

BĐKH đều được tính tốn cho các chuỗi số liệu thời kỳ 1970 – 2010. Vì vậy BĐKH

TDMNBB thực chất là biến đổi trong 40 năm.

Những đặc trưng thống kê khí hậu khơng chỉ được tính tốn cho tồn bộ thời kỳ quan

trắc mà còn được tính riêng cho từng thập kỷ. Theo đó, từ 1970 – 2010 được chia

thành 4 thập kỷ: 1970 – 1979; 1980 – 1989; 1990 – 1999; 2000 – 2009.



1.1.3.2. Phương pháp tính tốn các đặc trưng khí hậu

- Tính chất cơ bản của chuỗi khí hậu

12



Biến đổi của các đặc trưng yếu tố khí hậu bao gồm nhiều loại trong đó có hai loại

cơ bản nhất:

1. Biến đổi (của trị số ngày) từ ngày này qua ngày khác trong quá trình năm.

2. Biến đổi (của trị số năm) từ năm này qua năm khác trong quá trình lịch sử.

Nội dung chủ yếu của vấn đề BĐKH hiện tại ở TDMNBB thuộc loại biến đổi thứ

hai, đó là biến đổi của các đặc trưng chủ yếu từ năm này qua năm khác, trong nhiều

thập kỷ gần đây.

Để thuận lợi cho việc tính tốn, phân tích và nghiên cứu BĐKH người ta thường

lập chuỗi thời gian. Đó là tập hợp các trị số quan trắc khí hậu của từng năm xếp theo

thứ tự trước sau. Đối với yếu tố X có nhiều năm, chuỗi khí hậu được kí hiệu {X t}.

{Xt}: x1, x2,..., xn-1, xn



(1.1)



Việc tính tốn các đặc trưng cơ bản đều dựa trên chuỗi thời gian. Ngồi ra, chuỗi

khí hậu cũng là cơng cụ nghiên cứu mối liên hệ có thể có giữa các thành viên trong

chuỗi. Một chuỗi số liệu khí hậu chịu ảnh hưởng của ba tính chất biến đổi cơ bản sau:

Tính ngẫu nhiên: với biến đổi có tính ngẫu nhiên các trị số trong chuỗi tăng lên hay

giảm đi một lượng nào đó, sự tăng lên hay giảm đi thường xen kẽ nhau, góp phần làm

cho trị số khí hậu dao động xung quanh một mức nhất định, mức này có thể là trị số

trung bình của chuỗi nếu như chuỗi đó khơng có tính xu thế.

Tính xu thế: với biến đổi mang tính xu thế, trị số của năm sau cao hơn năm trước

(xu thế tăng) hoặc thấp hơn năm trước (xu thế giảm). Trong chuỗi có xu thế tăng (hoặc

giảm) rõ rệt trị số đầu tiên đồng thời là cực tiểu (hoặc cực đại) và trị số cuối cùng đồng

thời là cực đại (hoặc cực tiểu).

Tính chu kì: với BĐKH mang tính chu kì, các trị số cùng chung nhau đặc tính

(cao, thấp...) được lặp lại sau một số năm nhất định. Trong chuỗi mang biến đổi chu kì

có nhiều cực đại, cực tiểu và khoảng cách giữa các cực đại hay cực tiểu gần như là

hằng số.

Trong một trường hợp cần thiết có thể thay chuỗi {Xt} bằng chuỗi trình tự {x*t}

{x*t}: x*1, x*2, .... , x*n-1, x*n



(1.2)



Trong đó:

x*1 < x*2 < .... < x*n-1 < x*n

Như vậy, chuỗi trình tự bao gồm n thành viên của chuỗi thời gian được sắp xếp

theo thứ tự từ bé đến lớn.



13



- Để xem xét khả năng xuất hiện sự kiện người ta thường dùng ba đại lượng: tần suất

sự kiện, thời gian lặp lại sự kiện và các đặc trưng phản ánh trạng thái trung gian - trung

bình số học.

Trong đó tần suất sự kiện được hiểu là xác suất sự kiện xuất hiện và được tính

theo cơng thức:

m

P ( s ) = ´ 100%

n



(1.3)



Trong đó:

m: là số năm xuất hiện sự kiện S.

N: là số năm quan trắc.

Nếu P(s) là tần suất xuất hiện sự kiện khí hậu S nào đó thì:

T (s) =



1

P( s)



(1.4)



Là thời gian cần thiết để lặp lại hiện tượng S

Trung bình số học được kí hiệu là

1 n

x = å xt

n t-1



và được xác định bởi:

t – 1 -> n ?



(1.5)



- Mức độ biến đổi của một chuỗi số liệu được phản ánh thông qua các giá trị

+ Chuẩn sai được kí hiệu là ∆x t và nó chính là hiệu giữa các thành phần của chuỗi và

giá trị trung bình.

Dxt =xt - x



(1.6)



+ Phương sai S2(x) là đại lương đặc trưng cho mức độ tản mạn của các giá trị trung

bình của chuỗi xung quanh giá trị trung bình và được tính theo cơng thức:

1 n

S 2 ( x) =

( xt - x) 2

å

n - 1 t =1



(1.7)



+ Từ cơng thức 1.7, ta lấy phương sai có thứ ngun bằng bình phương thứ nguyên

của đại lượng được đo. Vì vậy, thay vì sử dụng phương sai, chúng tơi dùng độ lệch tiêu

chuẩn S(x) và được xác định bởi:

S ( x) =



Và Sr ( x ) =



1 n

( xt - x ) 2

å

n - 1 t =1



(1.8)



S ( x)

100% được gọi là biến suất hay hệ số biến động.

x



- Kiểm nghiện tính xu thế và sử dụng phương trình xu thế

14



+ Để xác định xu thế biến đổi của một số đặc trưng yếu tố khí hậu X, cần phải

thực hiện hai khâu:

1. Kiểm nghiệm xem X có tính xu thế khơng.

2. Lập phương trình xu thế sau khi chấp nhận X có tính xu thế. Việc kiểm nghiệm tính

xu thế được thực hiện theo nguyên kì sau: Từ chuỗi ban đầu {X t} lập chuỗi trình tự

{Yi}: Y1, Y2, ..., Yn-1, Yn với Y1 < Y2 <..... < Yn-1 < Yn.

Khi đó một x bất kì có thứ tự thời gian t trong chuỗi {X t} sẽ được xếp thứ i trong

chuỗi trình tự bé - lớn {Yi}. Bản thân {Yi} là chuỗi có xu thế (tăng dần) cho nên khi số

thứ tự thời gian t trong {Xt} bằng hoặc gần bằng thứ tự bé - lớn i trong {Yi}.

Chuỗi thời gian {Xt} được coi là có xu thế. Vấn đề là phải xác nhận sự bằng nhau hay

khác nhau giữa t và i theo quan điểm thống kê tốn học.

Để giải quyết vấn đề này, chúng tơi sử dụng kiểm nghiệm Spearman đối với độ

lớn của đại lượng rs

rs =1 -



6



n



n( n 2 - 1)



å [ t ( xt ) - i( yi )]



2



(1.9)



t =i



Khi chấp nhận X có tính xu thế, phải lập phương trình xu thế dưới dạng phổ biến.

yt =a +bt

n



å (y



Trong đó: b =



t



t =1



n



(1.10)



- y )(t - t )



å (t - t )



1 n

1 n

y

b

t

å t nå

n t =1

t =1



; a=



2



t =1



Để khử ảnh hưởng của các biến đổi ngẫu nhiên và loại bỏ được ảnh hưởng của

các biến đổi có chu kì ngắn ra khỏi chuỗi ban đầu tạo cơ sở để phân tích xu thế và dao

động có chu kì dài người ta dùng phương pháp trung bình trượt.

Từ chuỗi ban đầu {Xt},{Xt}= x1, x2,..., xn-1, xn, biến đổi mỗi trị số thành các trị số của

m thành phần liên tiếp.

Trị số trung bình trượt {xmt} của một năm t bất kì với m lẻ là:

m- 1

t+



1 2

xtm = å xt

m t - m- 1



(1.11)



2



Như vậy trong chuỗi trung bình trượt khơng có trị số của



m- 1

m- 1

năm đầu,

2

2



năm cuối và do đó thời kỳ quan trắc của chuỗi trung bình trượt ít đi m - 1 thành viên

so với chuỗi ban đầu.



15



1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Đặc điểm chung về tự nhiên của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ gồm 14 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai,

Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai

Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình. Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có diện tích

hơn 95338.8 km² lớn nhất cả nước, chiếm 28.8 % diện tích cả nước. Dân số hơn 11.17

triệu người (năm 2010) chiếm khoảng 12.9% dân số cả nước.

Trung du và miền núi Bắc Bộ là khu vực có vị trí khá đặc biệt. Phía bắc giáp với

3 tỉnh Quảng Đơng, Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc, phía tây giáp Lào, phía

đơng và nam giáp Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ

Trung du và miền núi Bắc Bộ được chia thành 2 tiểu vùng là Tây Bắc (gồm 4

tỉnh phía tây) và Đơng Bắc (gồm 10 tỉnh còn lại).

1.2.1.1. Địa chất - địa hình

Tiểu vùng Đơng Bắc có lịch sử phát triển rất lâu dài (cách đây khoảng hơn 2 tỉ

năm), có cấu trúc địa chất của một miền địa máng Đơng Dương với những khu vực

uốn nếp điển hình có hướng cấu trúc sơn văn chính theo hướng tây bắc – đơng nam.

Phần lớn địa hình ở tiểu vùng Đơng Bắc có độ cao trung bình. Dọc theo biên giới Việt

– Trung của tiểu vùng Đơng Bắc có sơn ngun đá Đồng Văn – Lũng Cú. Nhiều dãy

núi cao trên 1500m như: Tây Côn Lĩnh (2419m), Kiều Liêu Ty (2402m), Mẫu Sơn

(1541m), Nam Châu Lãnh (1506m), Tam Đảo (1591m); các dãy núi hình cánh cung:

Sơng Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đơng Triều. Một số cánh đồng giữa núi có diện tích

rộng, tương đối bằng phẳng, dân cư đơng đúc, nơng nghiệp trù phú như Văn Chấn,

Nghĩa Lộ (Yên Bái), Hoài An ( Cao Bằng), Đại Từ (Thái Nguyên).

Tây Bắc là khu kiến tạo Inđôxini được nâng mạnh trong đại Tân sinh, có cấu tạo

địa chất được hoạt hóa nhiều lần và hoạt động tân kiến tạo nâng lên mạnh nhất ở Đông

Dương. Khu vực này gồm một hệ thống các phức nếp lồi và phức nếp lõm dạng dải,

hẹp ngang sắp xếp xen kẽ nhau theo hướng tây bắc – đơng nam. Đại bộ phận diện tích

lãnh thổ Tây Bắc là địa hình núi cao và chia cắt sâu. Đó là các cao ngun Tả Phình,

Sín Chải, Sơn La, Mộc Châu và những dãy núi dọc theo biên giới Việt – Trung, Việt –

Lào với đỉnh cao từ 1500m trở lên: Pu Si Lung (3076m), Khoan La San (1853m), Pu

Sam Sao (1897m), Pu Luông (1880m); Phanxipăng là đỉnh núi cao nhất Việt Nam

16



(3143m). Lưu vực sông Đà chiếm đại bộ phận Tây Bắc với nhiều thác gềnh có nguồn

thủy năng dồi dào. Tuy nhiên Tây Bắc cũng có những cánh đồng giữa núi chiếm diện

tích lớn như cánh đồng Mường Thanh, Tuần Giáo, Bình Lư.

1.2.1.2. Khí hậu

Trung du và miền núi Bắc Bộ có

khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với nhiệt

độ trung bình năm 20 – 220C, lượng

mưa 1800 – 2000mm. Do ảnh hưởng

của vị trí địa lí (nằm sát chí tuyến Bắc),

lại chịu sự chi phối của độ cao và

hướng địa hình, đồng thời ảnh hưởng

của gió mùa đồng bắc mà thời tiết địa

phương thường lạnh và ít mưa về mùa

đơng, khí hậu có tính pha trộn cận

nhiệt và ôn đới núi cao.

Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có

sự phân hóa khí hậu theo đai cao rất

điển hình:

- Từ 0 – 600m là đai nội chí tuyến chân

núi với đặc điểm là mùa hè nóng, nhiệt

độ trung bình tháng 250C, tổng nhiệt

trên 75000C, thích hợp với các loại sinh

vật nhiệt đới. Có thể phân đai này

thành ba á đai: Á đai thấp đến 100m:

chỉ có mùa đơng lạnh (nhiệt độ trung

bình tháng <180C). Á đai 100 đến

300m: có nơi đã có mùa đơng rét (nhiệt

độ trung bình tháng <150C). Á đai 300

đến 600m: nhiều nơi đã có mùa đơng

rét

- Từ 600 – 2600m: là đai á nhiệt

đới từ ẩm đến ẩm ướt trên núi, với tổng nhiệt độ trên 4500 0C và mùa hè mát với nhiệt

17



độ trung bình tháng dưới 250C. Trong đai này có ba á đai:

+ Á đai 600m – 1000m: đây là á đai có tính chất chuyển tiếp từ nội chí tuyến

chân núi lên á đai nhiệt đới trên núi.

+ Á đai 1000m – 1600m: Á đai này mang tính chất á nhiệt đới rõ rệt.

+ Á đai 1600m – 2600m: đây là á đai mang tính chất chuyển tiếp lên đai ơn đới

do tháng nóng nhất khơng q 200C, nghĩa là có mùa nóng tương đương với mùa hè ơn

đới. Ở đây mùa đông chưa lạnh bằng mùa đông ôn đới, chưa có băng tuyết thường

xuyên.

- Từ 2600m trở lên: là đai ôn đới từ ẩm đến ẩm ướt trên núi với tổng nhiệt xuống

dưới 45000C, quanh năm rét dưới 150C, mùa đơng cần phân ra các á đai vì đai ơn đới

chiếm diện tích rất nhỏ và hạn chế trên một số đỉnh núi cao phía bắc.

Sự phân hóa khí hậu cũng thể hiện ở sự khác biệt giữa hai tiểu vùng Đơng Bắc và

Tây Bắc lấy dãy Hồng Liên Sơn làm ranh giới tự nhiên. Khí hậu vùng Đơng Bắc

mang tính chất nhiệt đới ẩm có mùa đơng lạnh, còn Tây Bắc khí hậu nhiệt đới có mùa

đơng lạnh vừa do bức chắn địa hình.

1.2.1.3. Thủy văn

Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ là khu vực có hệ thống sơng ngòi khá dày đặc

với nhiều con sơng lớn và lượng nước phong phú. Vùng có 5 hệ thống sơng chính là hệ

thống sơng Hồng, sơng Thái Bình, sơng Kì Cùng – Bằng Giang, sơng Mã và hệ thống

sơng ven biển Quảng Ninh. Trong đó trừ hệ thống sơng ven biển Quảng Ninh thì bốn

hệ thống sơng trên nằm trong 9 hệ thống sông lớn nước ta.

Tiểu vùng Đơng Bắc có lưu lượng khá lớn, mơđun dòng chảy trung bình hàng

năm đạt 20 – 30 l/s/km2. Cao nhất là mơđun dòng chảy tại khu vực thượng nguồn sơng

chảy, sông Lô ở Hà Giang và khu vực ven biển Quảng Ninh, thường lên tới 40 – 50

l/s/km2. Chế độ dòng chảy trên các con sơng trong năm chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa

lũ thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó 3 tháng lũ cao nhất là 6, 7, 8. Mùa

cạn trên các lưu vực sông ở tiểu vùng này thường diễn ra từ tháng 11 đến tháng 4,

trong đó tháng 2, tháng 3 thường đạt trị số thấp nhất. Sự chênh lệch giữa lưu lượng

nước thấp nhất và cao nhất đã làm cho tiểu vùng này thường xảy ra tình trạng thiếu

nước tưới vào mùa cạn.

Đối với tiểu vùng Tây Bắc thì phần lớn các sông chảy theo hướng sơn văn, các

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU BĐKH VÙNG TDMNBB THỜI KỲ 1970 - 2010

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×