Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.6: Nội dung tập huấn cho các hộ tham gia mô hình

Bảng 3.6: Nội dung tập huấn cho các hộ tham gia mô hình

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 3.7. Tình hình tập huấn hỗ trợ kỹ thuật trong 3 năm 2015 – 2017

của xã Thạch Sơn

Thời gian



Tháng 9-10/2014



Tháng 9-10/2015



Tháng 9-10/2016



Nội dung tập huấn



Số lượng

người

BQ/lớp



Tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc

khoai tây để lựa chọn các biện pháp

30

canh tác và kỹ thuật mới đảm bảo sản

xuất có hiệu quả và bảo vệ môi trường

Tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc

khoai tây để lựa chọn các biện pháp

40

canh tác và kỹ thuật mới đảm bảo sản

xuất có hiệu quả và bảo vệ môi trường

Tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc

khoai tây để lựa chọn các biện pháp

50

canh tác và kỹ thuật mới đảm bảo sản

xuất có hiệu quả và bảo vệ môi trường

(Nguồn: UBND xã Thạch Sơn)



Qua bảng 3.8 ta thấy, trong 3 năm số lượng người tham gia tập

huấn tăng cao qua các đợt tập huấn điều này cho thấy việc áp dụng kỹ

thuật mới vào sản xuất đã mang lại hiệu quả nên người nông dân hào hứng,

nhiệt tình tham gia hơn trước. Tuy vậy, để nâng cao chất lượng thì việc

thay đổi cách thức tập huấn là một điều đáng bàn, bởi lẽ hầu hết các đợt tập

huấn chủ yếu là cán bộ khuyến nông giảng giải theo các tài liệu lấy từ TTKN

Tỉnh, chưa có tài liệu tự biên soạn dẫn tới chưa thực sự bám sát thực tế

từng địa phương. Tài liệu phát cho nơng dân tham gia tập huấn hầu như

chưa có dẫn tới người nông dân đi tập huấn chỉ nghe là chủ yếu, hiệu quả

tiếp thu khơng cao vì người nơng dân chủ yếu là dựa trên kiến thức thực tế

là chủ yếu, quá nhiều lý thuyết sẽ khiến họ khó tiếp thu.

Sau khi tiến hành tập huấn người nông dân sẽ được trung tâm khuyến

nông hỗ 40kg/sào giống, 6kg đạm, 15kg lân, 6kg kali trên 1 sào sản xuất



58



thuộc mô hình trình diễn khoai tây... Người nơng dân được cán bộ khuyến

nông thường xuyên kiểm tra và chỉ đạo hướng dẫn hỗ trợ kỹ thuật kể từ khi

gieo mạ tới khi thu hoạch. Các cán bộ kỹ thuật ở các viện, cơ sở liên kết với

xã cũng thường xuyên về thăm đồng hướng dẫn kỹ thuật cho người nông dân

gieo trồng. Chính vì vậy nó sẽ tạo tiền đề cho phát triển vùng sản xuất nơng

sản hàng hóa được bền vững, năng suất, chất lượng sản phẩm được nâng cao.

Nói chung, việc tập huấn kỹ thuật cho người dân ở địa phương,

ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đâc đem lại những kết quả khả

quan. Người dân ứng dụng được tiến bộ mới vào sản xuất, tăng năng suất sản

lưởng. Tuy nhiên, cán bộ khuyến nông cần chú ý hơn về vấn đề nội dung

tập huấn, cần bám sát thực tế hơn vì lý thuyết quá nhiều người dân sẽ khó

tiếp thu.

*Vai trò của doanh nghiệp

Vai trò của Nhà doanh nghiệp trong mơ hình liên kết bốn nhà là

vơ cùng quan trọng vì nhà doanh nghiệp tiêu thụ phần lớn sản phẩm nông

nghiệp nông dân sản xuất ra. Họ ký kết bao tiêu sản phẩm cho nông dân, có

thể là ký trực tiếp với người nơng dân hoặc ký qua trung gian như HTX

nông nghiệp, hợp đồng quy định khối lượng sản phẩm thu mua, giá cả, tiêu

chuẩn chất lượng…Họ cũng là người chia sẻ với nông dân một phần khi có

rủi ro xảy ra.

Như ở thơn Đồng Băm năm vừa qua, hợp đồng tiêu thụ khoai tây

được ký kết đã quy định tiêu chuẩn chất lượng và giá cả nhưng khi thị

trường thay đổi về giá thì doanh nghiệp có hướng giải quyết theo giá thị

trường nếu giá giảm và tăng giá nếu giá thị trường tăng. Khi thu hoạch,

kích cỡ khoai tây khơng đạt u cầu nhiều, sau khi thỏa thuận, doanh nghiệp

quyết định mua thêm một số lượng khoai tây không đạt chất lượng này với

gía thấp hơn số khoai tây đạt chuẩn. Như vậy, người nơng dân có thêm

thu nhập, rủi ro thì được được doanh nghiệp san sẻ…



59



Doanh nghiệp là đầu mối tiêu thụ quan trọng cho nơng sản hàng hóa

nhưng hiện nay, số lượng doanh nghiệp tham gia liên kết còn ít, đơi khi các

doanh nghiệp tham gia liên kết có xảy ra tình trạng phá hợp đồng lỗi

bên doanh nghiệp hoặc hộ nông dân khiến doanh nghiệp hay người nông dân

chán nản không muốn ký kết hợp đồng khiến cho sự liên kết khơng đem

lại hiệu quả như mong đợi. Vì thế, những biện pháp khắc phục tình trạng phá

vỡ hợp đồng, gắn chặt liên kết là rất cần thiết. Cán bộ xã thay mặt người dân

ký hợp đồng cần tìm hiểu kyc các điều khoản, quy định rõ các điều khoản để

các bên trong hợp đồng có sự gắn kết với nhau về lợi ích, giảm tình trạng

phá hợp đồng khi thị trường nơng sản có biến động.

*Vai trò của nhà nông

Nhằm thúc đẩy, tăng cường phát triển kinh tế nông nghiệp một

cách hiệu quả, nâng cao đời sống nông dân, đã qua có rất nhiều chính sách,

chủ trương được đề ra; trong đó, đáng chú ý nhất là chủ trương về chương

trình liên kết 4 nhà (Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nơng).

Trong đó, nhà nơng là mắt xích quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm

theo định hướng của doanh nghiệp nhưng cũng cần nói rõ là nhà nông là

đối tượng được hưởng lợi nhất trong mối liên kết đó. Song, trên thực tế, mối

liên kết này còn chưa đồng bộ nên nhiều nơi nhà nơng vẫn còn chịu cảnh

được mùa mất giá, đơi khi hàng nông sản làm ra không bán được…Các hộ

nông dân xã Thạch Sơn cũng ở trong tình trạng như trên.

Để có số liệu phục vụ cho nhu cầu nội dung nghiên cứu, tôi đã

tiến hành điều tra 100 hộ nông dân trong xã và chia làm hai nhóm: Hộ liên

kết và nhóm hộ khơng liên kết. Tình hình cơ bản của các hộ điều tra như sau:



60



Bảng 3.8. Tình hình chung của các hộ điều tra năm 2017

Diễn giải

1. Tổng số hộ điều tra

2. Tuổi BQ của chủ hộ

3. Trình độ của chủ hộ



ĐVT

Hộ

Tuổi



3.

Trình

- Cấp

1 độ văn hóa chủ hộ



Người



9



5



- Cấp 2

- Cấp 3

4. BQ nhân khẩu/hộ



Người

Người

Nguời



23

22

4,63



26

19

4,34



5. BQ lao động chính/hộ



Hộ liên kết Hộ khơng liên kết

50

50

49,26

46,62



hộ

3,6

3,17

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2017)



Qua bảng số liệu trên ta thấy tuổi bình qn của người chịu trách

nhiệm chính trong sản xuất của hộ liên kết là 49,26 tuổi còn hộ khơng

liên kết là 46,62 tuổi. Tuổi bình qn đó chứng tỏ họ đã có đầy đủ những

kinh nghiệm trong sản xuất nơng nghiệp, thích hợp với u cầu đòi hỏi tính tỉ

mỉ, cặn kẽ trong sản xuất.

Về trình độ học vấn của chủ hộ: Trình độ văn hóa và kinh nghiệm sản

xuất của chủ hộ có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất của hộ. Khi

trình độ càng cao thì người nơng dân dễ dàng tiếp cận những thông tin mới

về sản xuất hơn, cũng như mạnh dạn sử dụng những hình thức sản xuất và

tiến bộ kỹ thuật mới. Qua bảng số liệu nhận thấy trình độ văn hóa của chủ hộ

nhìn chung còn thấp, chủ yếu là từ cấp 2 tới cấp 3, trong đó trình độ cấp

2 là chủ yếu, trình độ đại học và cao đẳng khơng có hộ nào. Trình độ học

vấn nói lên sự hiểu biết của người đó về khoa học kỹ thuật tiến bộ trong

gieo trồng nông sản hàng hóa.

Số nhân khẩu và số lao động của hộ cũng có ảnh hưởng tới q

trình phát triển kinh tế của hộ nơng dân. Bình qn nhân khẩu của nhóm hộ

liên kết là 4,63 khẩu/hộ, của hộ không tham gia liên kết là 4,34 khẩu/hộ,

còn bình qn lao động chính của hộ liên kết là 3,6 lao động/hộ, hộ không

liên kết là 3,17 lao động/hộ. Điều này cho thấy, nguồn lao động trong nông

61



nghiệp của các hộ ở đây rất dồi dào, là điều kiện thuận lợi cho hộ phát triển

nơng nghiệp, vì tận dụng được lao động trong gia đình thì sẽ bớt được chi

phí th nhân cơng, từ đó tăng thêm thu nhập cho gia đình.

Bảng 3.9. Điều kiện sản xuất của các hộ điều tra

Chỉ tiêu

1. Đất

BQ đất khoai tây

2. Vốn

a) Vốn tự có

b) Vốn đi vay



ĐVT



Hộ liên kết



Hộ không liên kết



Sào/hộ



2,62



0,6



%

%



64,81

35,19



100



(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2017)

Qua bảng 3.10 ta thấy bình quân hộ tham gia liên kết có diện tích

khơng liên kết có bình qn diện tích đất th cao hơn hộ khơng liên kết.

Do nhu cầu sản xuất lớn nên hộ liên kết thường cần nhiều diện tích đất hơn

hộ khơng liên kết, khi mà đất được chia khơng đủ thì họ sẽ đi thuê thêm đất

của nhà nước hoặc của những hộ không sản xuất hết để gieo trồng. Các hộ

nông dân chủ yếu vẫn dựa trên lượng vốn sẵn có của gia đình mà ít khi đi

vay ngồi. Những hộ liên kết, mức độ đầu tư cao, nguồn vốn gia đình khơng

đủ họ có thể vay thêm để sản xuất, nguồn vay có thể là từ người thân, họ

hàng, hàng xóm hoặc vay của các tổ chức tín dung, nhưng số lượng này

vẫn còn ít. Các hộ khơng liên kết chủ yếu vẫn sử dụng vốn gia đình vì sản

xuất nhỏ, lại ít đầu tư đầu vào hơn hộ liên kết.

Về đầu tư sản xuất, mức đầu tư các yếu tố vật chất ngồi phụ thuộc vào

khả năng tài chính của nơng hộ, còn phụ thuộc vào các u cầu kỹ thuật của

từng cây trồng. Để sản xuất ra được một loại sản phẩm nông sản đặc biệt

là khoai tây cung cấp cho thị trường thì người sản xuất cần bỏ ra rất nhiều

khoản chi phí.



62



Bảng 3.10 Kết quả, hiệu quả sản xuất khoai tây của hộ điều tra

(Tính bình qn hộ điều tra vụ đông năm 2017)

Chỉ tiêu



Hộ



ĐVT



Hộ



So sánh



liên kết khơng liên kết

(%)

(1)

(2)

(3)

(4)

(5) = (3)/(4)

1. Năng suất bình qn

Kg/sào

468,5

441,3

106,2

2. Giá trị sản xuất (GO) 1000đ/sào 3017,8

2695,6

112,0

3. CF trung gian (IC)

1000đ/sào 1747,4

1651,5

105,8

4. Giá trị gia tăng (VA)

1000đ/sào 1270,4

1044,1

121,7

121,7

5. Thu nhập hỗn hợp (MI) 1000đ/sào 1270,4

1044,1

Một số chỉ tiêu BQ

GO/IC

VA/IC

MI/IC



Lần

1,73

1,63

106,1

Lần

0,73

0,63

115,9

Lần

0,73

0,63

115,9

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra 2017)



Qua bảng số liệu ta thấy, năng suất khoai tây của nhóm hộ liên kết

cao hơn nhóm hộ khơng liên kết. Chi phí trung gian của nhóm hộ liên kết

cũng cao hơn nhiều so với nhóm hộ khơng liên kết chứng tỏ nhóm hộ liên

kết đầu tư vào sản xuất nhiều hơn so với nhóm hộ không liên kết. Các hộ

liên kết thường được xã triển khai tập huấn gieo trồng giống chất lượng cao,

chuyển giao kỹ thuật tiên tiến nên chất lượng đầu ra cao hơn, củ to đều, bán

được với giá cao; trong khi hộ khơng liên kết ít đầu tư hơn và giá bán

thường không cao, đầu ra lại không ổn định, vì thế mà thu nhập của hộ liên

kết cao hơn hộ khơng liên kết.

Nói chung, hộ nơng dân trong mối liên kết đóng vai trò chính trong

việc quyết định hiệu quả của liên kết, vì nơng dân là người sản xuất ra sản

phẩm để tiêu thụ, họ cũng là người dễ bị tổn thương nhất khi thị trường xảy ra

rủi ro.



63



3.1.2.2. Đánh giá vai trò của các tác nhân tham gia liên kết

* Đối với nhà nước

Trong những năm vừa qua, để đưa nền sản xuất nông nghiệp của

huyện phát triển thì chính quyền huyện Sơn Động đã đề ra các chủ trương

biện pháp tổ chức thực hiện nhằm phát huy truyền thống sản xuất ở địa

phương, mạnh dạn tiếp thu khoa học kỹ thuật vào sản xuất điển hình như

ứng dụng chương trình SRI, cấy mơ hình trình diễn… vào sản xuất.

Chính quyền xã đã chủ động liên kết với TTKN về cung ứng đầu vào

cho dân, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Đặc biệt đưa vào thử nghiệm

giống có chất lượng cao nhằm thay đổi cơ cấu giống cũ, mang lại năng suất

và hiệu quả kinh tế cao hơn. Bên cạnh đó, TTKN huyện cũng như xã đã

từng bước hoàn thiện các khâu dịch vụ nâng cao chất lượng phục vụ sản xuất,

nhằm giúp dân an tâm sản xuất. Từ đó đã tạo ra được một số kết quả quan

trọng như chuyển đổi được giống cây trồng ở địa phương, tăng giá trị sản

xuất nông nghiệp cũng như diện tích gieo trồng. Mối liên kết ở huyện, thực

sự đã đem lại những hiệu quả thiết thực, chỉ đạo của cán bộ nhà nước đang

dần tốt hơn, thông thạo hơn.

Tuy vậy, mối liên kết ở huyện vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả do

nhiều nguyên nhân. Trước hết phải kể đến sự điều hành của nhà nước

chưa thực sự hiệu quả. Sự quản lý còn thiên nhiều về lý thuyết, chưa thực sự

linh động nên nhiều lúc gây sự cứng nhắc nên việc đưa giống mới vào sản

xuất còn nhiều hạn chế, người dân chưa thực sự tiếp nhận nên sản xuất chưa

hiệu quả. Việc đưa chương trình từ xã xuống cấp huyện còn chưa hiệu quả,

cán bộ xã chưa nhận thức hết được về mối liến kết nên việc truyền đạt cho

người dân còn nhiều hạn chế, việc nhận thức mơ hồ vậy khiến người dân

không hiểu được hết lợi ích mà mối liên kết đem lại, vì thế mà việc triển

khai mối liên kết khơng đạt hiệu quả như mong muốn.



64



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.6: Nội dung tập huấn cho các hộ tham gia mô hình

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×