Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.4 Hiện trạng nhà văn hóa xã năm 2017

Bảng 2.4 Hiện trạng nhà văn hóa xã năm 2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

nền kinh tế phát triển, dân cư tập trung đông đúc. Cơ sở hạ tầng là một yếu tố

góp phần tích cực vào việc nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm. Nó tạo

ra một mơi trường thuận lợi cho việc phát triển KT - XH, để ổn định đời sống

cho nhân dân. Do vậy chúng ta cần phải tu bổ và đầu tư xây dựng mới để đảm

bảo cho yêu cầu phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Về giao thơng: Hệ thống giao thơng nhìn chung thực hiện tốt cho việc

đi lại của nhân dân. Toàn xã có 15km đường liên xã là đường bê tơng. Hệ

thống giao thông được sửa chữa, đổ đất san lấp ổ gà hàng năm. Đến năm 2017

trong toàn xã đã cứng hóa được hầu hết các tuyến đường giao thơng liên thơn

trong tồn xã, điều kiện đi lại của người dân cũng thuận lợi hơn.

Về thuỷ lợi: Tập trung chủ yếu vào sản xuất nơng nghiệp, diện tích lúa

chiếm ưu thế. Do vậy mà công tác thuỷ lợi rất được sự quan tâm của Đảng uỷ,

UBND xã. Hàng năm xã đều huy động các lực lượng lao động của xã tập

trung tu bổ, nạo vét kênh mương nội đồng, cung cấp lượng nước tương đối

đầy đủ cho sản xuất nông nghiệp. Tồn xã có 29 tầm cống, 2 hồ chứa nước,

kênh mương được kiên cố hoá với chiều dài là 4 km đã tưới tiêu đủ cho 75%

diện tích đất.

* Phong thục tập quán.

Ở Thạch Sơn có 8 dân tộc anh em gồm: Kinh, Tày, Nùng, Dao, San Chí,

Cao Lan, Mường, Giáy sinh sống đan xen trong 3 thôn bản. Mỗi dân tộc có

những phong tục tập quán riêng, những nét riêng đó tạo nên bản sắc riêng của

mỗi dân tộc như: Lễ cấp sắc của dân tộc Dao, Hát Soong hao của dân tộc

Nùng, lễ xuống đồng (lễ lồng tổng) của người Tày tổ chức vào ngày 6/6..

nhưng có nhiều phong tục, tập quán chung như:

Tết Nguyên đán có ý nghĩa trọng đại, là những ngày có điều kiện xum họp

gia đình đơng đủ hơn cả. Trong những ngày tết, mọi người chúc nhau năm mới

mạnh khỏe, làm ăn phát tài, con cháu ngoan ngoãn, học hành giỏi giang. Những

xích mích, mâu thuẫn đều xếp lại. Mọi nhà đều tổ chức ăn uống.



39



Ngồi tết Ngun Đán, trong năm còn có các ngày tết: Tết Ngun tiêu,

còn gọi là tết Thượng nguyên (rằm tháng giêng); tết Hàn thực (mồng 3 tháng

3); tết Thanh minh; tết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5); tết Vu lan hay tết Xá tội

vong nhân (người Kinh tổ chức vào ngày 15/7; người Tày, Nùng tổ chức vào

ngày 14/7); tết Trung thu (rằm tháng 8); tết Cơm mới (mồng 10 tháng 10), tết

ông Công, ông Táo (23 tháng chạp); Những ngày tết này mỗi dân tộc có hình

thức tổ chức khác nhau tùy theo phong tục, tập quán của từng dân tộc.

- Các tục lệ: Cũng như các địa phương khác trong vùng, các tục lệ xưa

kia của các dân tộc ở Thạch Sơn được quy định cụ thể trong đó có nhiều tục

lệ khá phiền phức và tốn kém.

Trong những năm gần đây, các tục lệ của các dân tộc trong xã đã được

đổi mới, một số phong tục lạc hậu, tốn kém, lãng phí bị bãi bỏ, chỉ giữ lại

những thuần phong, mỹ tục, phù hợp với chủ trương của Đảng nhằm xây

dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

2.1.3. Khái quát tình hình phát tiển kinh tế - xã hội của địa phương

Với việc chú trọng thực hiện nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và

Nhà nước, của địa phương vào phát triển kinh tế đặc biệt là kinh tế nông nghiệp

nông thôn như chủ chương “dồn điền đổi thửa”, chương trình phủ xanh đất

trống đồi núi trọc và chủ trương chuyển đổi, thành lập, hoạt động của hợp tác

xã kiểu mới nên nền kinh tế của xã trong thời gian qua có những bước phát

triển đáng kể.

Tốc độ phát triển kinh tế hàng năm đạt 7,5%. Tốc độ phát triển kinh tế

năm sau cao hơn năm trước và ổn định. Đây là điều kiện thuận lợi để Đảng

và nhân dân trong xã đặt ra những mục tiêu phát triển cao hơn cho các năm

tiếp theo.

Trong những năm qua thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế, cùng với sự

phát triển kinh tế - xã hội của huyện Sơn Động và cả tỉnh, tình hình kinh tế

của xã Thạch Sơn đã có những chuyển đổi theo hướng phát triển, từng bước

đi lên ổn định. Bên cạnh những thuận lợi được nhà nước đầu tư các chương

40



trình dự án phát triển kinh tế - xã hội đối với xã Thạch Sơn đặc biệt khó khăn,

nhất là chương trình 30a của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững

đối với 62 huyện nghèo và Sơn Động là một trong 62 huyện nghèo. Thạch

Sơn còn nhiều khó khăn do xuất phát điểm nền kinh tế thấp, nguồn thu ngân

sách hạn hẹp,hạ tầng kinh tế thấp kém,trình độ dân trí hạn chế và không đồng

đều, thời tiết diễn biến phức tạp khó lường. Song được sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước các cấp, trên hết là phát huy nguồn lực nội sinh và ý trí vươn lên

mạnh mẽ, cán bộ và nhân dân các dân tộc xã đã đoàn kết vượt qua khó khăn,

linh hoạt sáng tạo trong lao động, sản xuất và công tác, đạt được nhiều thành

tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phóng

từng bước được cải thiện và nâng cao cuộc sống người dân.

- Về kinh tế xã ln duy trì tốc độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn

năm trước. Về nông nghiệp: nhờ đẩy mạnh áp dụng KHKT, đưa các cây trồng

mới vào sản xuất năm 2016; Tổng sản lượng lương thực: 175.635 kg, bình

quân lương thực đầu người: 318kg/người/năm.

+ Trồng trọt: Trong những gần đây, mặc dù sản xuất còn gặp rất nhiều

khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai hạn hán, sâu bệnh, nhưng ngành trồng

trọt vẫn giữ thế ổn định và chuyển dịch cơ cấu cây trồng đúng hướng, đặc biệt

là khai thác triệt để diện tích đất lúa, chuyển dần đất nương rẫy, đồi trống đồi

núi trọc sang trồng cây ăn quả đem lại giá trị kinh tế cao.

+ Chăn ni: Do có sự phân vùng kinh tế, nghề chăn nuôi do tác động

của khoa học kỹ thuật và sự hỗ trợ của Nhà nước nên các đàn gia súc, gia cầm

phát triển nhanh và liên tục. Theo số liệu thống kê của toàn xã năm 2016 tổng

số đàn Trâu 455 con, đàn Bò 270 con, đàn Dê 285 con, đàn Lợn 263 con, đàn

Gia Cầm 3.199 con, đàn Ong 185 đàn.

- Về lâm nghiệp phát huy lợi thế về rừng và đất lâm nghiệp, tổng diện

tích đất lâm nghiệp của xã là 752,82 ha, những năm qua xã đã tập trung cao

chỉ đạo phát tiển lâm nghiệp theo hướng sản xt hàng hóa, diện tích đất rừng



41



sản xuất là 224,92 ha, diện tích rừng trồng quay vòng tập trung là 61 ha. Bên

cạnh đó cơng tác bảo vệ rừng vẫn được chú trọng và quan tâm.

Ngoài ra khu du lịch sinh thái Đồng Cao hàng năm thu hút hàng

nghìn lượt khách tham quan,nghỉ mát tạo thu nhập cho những gia đình

bn bán nhỏ.

- Cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng, đầu tư làm mới một

công trình thủy lợi, tuyến đường liên xã Thạch Sơn - Vân Sơn và các tuyến

đường liên thôn, đầu tư xây mới trường học sửa chữa những trường học, trụ

sở ủy ban nhân dân. Năm 2015 xã được nhà nước đầu tư kéo điện lưới quốc

gia đến 3/3 thơn trong tồn xã, tạo cho xã diện mạo nông thôn miền núi ngày

càng khởi sắc.

- Lĩnh vực văn hóa - xã hội luôn được quan tâm đầu tư phát triển, vận

động nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà

nước. Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao tạo mơi

trường lành mạnh trong cộng đồng dân cư, tổ chức vận động “tồn dân đồn

kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư ”. Thực hiện chỉ thị 27 của Bộ

chính trị, Cấp Ủy, các ngành và nhân dân hưởng ứng tích cực việc thực hiện

nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang đã được đưa vào hương ước,

quy ước của thơn được nhân dân đồng tình hưởng ứng.

- Về giáo dục: Công tác giáo dục được nâng lên rõ rệt, cơ sở vật chất,

trường lớp tiếp tục được đầu tư đáp ứng nhu cầu dạy và học, công tác xã hội

hóa giáo dục được chú trọng, thực hiện phong trào “trường học thân thiện,

học sinh tích cực” do Bộ giáo dục và đào tạo phát động. Đồng thời Hội phát

động phong trào tồn dân tích cực học tập nâng cao trình độ văn hóa, bên

cạnh đó hội còn làm tốt vai trò tham mưu cho đảng ủy, chính quyền địa

phương thành lập hội khuyễn học nhằm tôn vinh những tấm gương hiếu học,

những con em vượt khó vươn lên học giỏi. Đẩy mạnh phong trào dạy và học

nghề tại chỗ nâng cao tay nghề cho người dân, đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Công tác giáo dục luôn được kiểm tra, giám sát, kịp thời triển khai, thực hiện

42



các chất lượng trong dạy và học. Xây trường học thân thiện, học sinh tích cực,

duy trì và giữ kết quả phổ cập, giáo dục tiểu học – xóa tái mù chữ. Hoàn

thành các chỉ tiêu dạy và học trong năm. Chuyển lớp, tiểu học đạt 100%,

trung học đạt 100%, thi tốt nghiệp đạt 95,2%.

- Về Y tế: Luôn được quan tâm để bảo đảm chăm sóc cho sức khỏe

người dân, thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia như: như phòng chống

dịch tiêm chủng mở rộng. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức

trạm y tế xã đủ về số lượng, có trình độ chun môn nghiệp vụ, nâng cao y

đức của người thầy thuốc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân.

Đảng ủy luôn quan tâm chỉ đạo tiêm chủng mở rộng đạt hiệu cao, đảm bảo

tiêm đủ, tiêm đúng cho người bệnh. Trẻ em từ 1 tuổi được tiêm đủ 7 loại vắc

xin, số người bệnh điều trị được chăm sóc chu đáo, trách nhiệm.

2.1.4. Một số đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.4.1. Thuận lợi

- Khí hậu và điều kiện thổ nhưỡng trên địa bàn đa dạng, thích hợp cho

nhiều loại cây trồng vật ni có thể phát triển tốt, đặc biệt là các loại cây công

nghiệp dài ngày, ngắn ngày và các loại cây ăn quả như: vải thiều, nhãn, hồng,

... Đây là một lợi thế so sánh rất lớn của xã mà tiềm năng để khai thác, tận

dụng còn rất lớn.

- Đặc điểm địa hình và thuỷ văn có nhiều ưu thế để xây dựng các cơng

trình thuỷ lợi, bố trí kênh mương phục vụ cho việc cung cấp nước trong điều

kiện bình thường cho sản xuất nơng nghiệp của xã.

- Quy mơ diện tích đất trên đầu người của xã tương đối cao, đây là lợi

thế rất lớn để phát triển kinh tế của người dân trong xã. Đất đai chưa sử dụng

còn nhiều cũng là một lợi thế trong việc mở rộng diện tích gieo trồng, phát

triển nơng nghiệp nếu có các chính sách và giải pháp đúng đắn và phù hợp.

- Nguồn lao động dồi dào nên thuận lợi cho việc sử dụng và khai thác

có hiệu quả diện tích đất. Người dân cần cù chịu khó, tiềm năng về nguồn



43



nhân lực lớn cũng là một trong những thuận lợi lớn cho cơng cuộc phát triển

kinh tế nói chung và kinh tế hộ nơng dân nói riêng.

- Hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông nông thôn, thông tin liên lạc

được quan tâm tốt đã giúp đỡ rất nhiều trong đời sống, sản xuất của người dân.

- Công tác khuyến nông được chú trọng và phát triển cả về lượng và

chất, giúp cho nơng dân có những kiến thức cơ bản về trồng, chăm sóc cây

trồng vật ni. Cơng tác phòng, chữa các dịch bệnh lây lan trong vùng cũng

được tiến hành thường xuyên, người dân an tâm hơn trong sản xuất.

- Được sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự đồng tình, ủng hộ của các ban

ngành tồn thể từ xã đến thôn và sự giúp đỡ của mọi tầng lớp nhân dân nên

việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của

UBND xã Vân Sơn cơ bản hồn thành tốt.

2.1.4.1. Khó khăn

- Do địa bàn trải rộng, dân cư phân tán nên khó khăn trong việc triển khai

các mơ hình đại trà trên tồn xã, việc thu gom nơng sản cũng gặp nhiều trở ngại.

- Mùa mưa thường đến sớm và kết thúc muộn, nhưng có những thời kỳ

hạn hán kéo dài dẫn đến ảnh hưởng tới mùa vụ thu hoạch và chất lượng nông

sản phẩm do công nghệ chế biến sau thu hoạch còn thơ sơ.

- Là xã thuần nơng nhưng đất đai phần lớn có tầng canh tác mỏng, hàm

lượng dinh dưỡng nghèo, làm hạn chế khả năng nâng cao hiệu quả của ngành

trồng trọt.

- Ít ruộng nước, ít khe suối, ao hồ, lượng mưa hàng năm ít hơn so với

toàn khu vực, độ ẩm thất thường, thời tiết khắc nghiệt với cây trồng, nước suối,

nước giếng hàng năm không đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu cho cây trồng.

- Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn xã cũng

còn thiếu về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng cũng là một khó khăn

cho phát triển kinh tế trên địa bàn.

- Về dân số, những năm vừa qua đã tăng nhanh về tự nhiên cũng như cơ

học dẫn đến một loạt vấn đề cần đáp ứng phải đặt ra.

44



- Nhiều đồng bào của nhiều dân tộc cùng sinh sống, trình độ dân trí

còn hạn chế, phong tục và tập qn đời sống, sản xuất khác nhau cũng dẫn

đến những khó khăn nhất định cho việc thống nhất qui hoạch phát triển của

các cấp chính quyền địa phương cùng như việc tiếp thu khoa học công nghệ

cho phát triển sản xuất và đảm bảo đời sống.

- Thiếu y, bác sĩ thú y nên việc phát triển chăn ni còn hạn chế;

khuyến nơng cho các hộ nơng dân mới chỉ mang tính hình thức, chưa tiếp thu

và phỏng vấn những tâm tư nguyện vọng của hộ nông dân khi họ cần. Số lần

cán bộ khuyến nơng đến thăm còn hạn chế.

- Chưa có chợ, hệ thống thu mua nông sản phát triển chậm nên giá cả

biến động thường xuyên.

- Cơ cấu sản xuất nơng nghiệp vẫn thiên về trồng trọt là chính, chưa chú ý

đến chăn ni. Trồng trọt vẫn chỉ mang tính chất độc canh, trình độ thâm canh

yếu, năng suất thấp. Chăn ni còn manh mún, qui mơ nhỏ, chủ yếu chú trọng vào

phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của hộ, chưa mang tính hàng hóa.

- Thương nghiệp, dịch vụ chậm phát triển, chưa có hệ thống phân phối

vật tư phục vụ sản xuất điển hình như phân bón, giống cây trồng...

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Chọn điểm nghiên cứu

- Chọn điểm nghiên cứu: Chon một số thôn đã có liên kết “4 nhà”

trong sản xuất và tiêu thụ nông sản thời gian qua ở xã Thạch Sơn.

- Chọn mẫu điều tra: Mẫu điều tra bao gồm 50 hộ/nhóm hộ nông dân

đã tham gia liên kết và 50 hộ chưa hoặc khơng tham gia liên kết

Ngồi ra còn điều tra phỏng vấn các doanh nghiệp, các trường, các nhà

khoa học đã tham gia liên kết và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất/chế

biến nông sản ở xã Thạch Sơn thời gian qua.

2.2.2. Phương pháp thu thập tài liệu

- Số liệu thứ cấp: Dựa trên cơ sở các báo cáo, số liệu thống kê

45



hàng năm của cán bộ thống kê, hội nông dân và UBND xã, các doanh nghiệp

đã tham gia liên kết SX và tiêu thụ nông sản.

- Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua điều tra phỏng vấn các đối

tượng thuộc mẫu điều tra ở trên theo bảng hỏi đã chuẩn bị sẵn.

2.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Xử lý số liệu đã công bố: Dựa vào các số liệu đã được công bố, chúng

tôi tổng hợp, đối chiếu để chọn ra những thông tin phù hợp với hướng nghiên

cứu của đề tài.

- Xử lý số liệu điều tra: Toàn bộ số liệu điều tra được xử lý trên máy

tính theo chương trình MICROSOFT EXCEL. Tơi sử dụng phương pháp phân

tổ thống kê là phương pháp chủ yếu trong quá trình nghiên cứu.

- Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp thống kê mô tả thực hiện

thông qua việc sử dụng số bình quân, tần suất, số tối đa và tối thiểu, so sánh

cả số tương đối và số tuyệt đối để đánh giá sự vật hiện tượng theo không gian

và thời gian.

Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính tốn cho từng hộ nơng dân theo các

dạng phân tổ, có thể so sánh các vùng khác nhau, giữa các năm với nhau và

giữa các dân tộc với nhau, nhằm rút ra nhứng ưu điểm, những hạn chế của các

đối tượng, làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp phát triển phù hợp.

2.2.4. Các chỉ tiêu dùng nghiên cứu thực trạng sản xuất và tiêu thụ

khoai tây ở xã Thạch Sơn

2.2.4.1. Chỉ tiêu đánh giá chung về chủ hộ nơng dân

Trình độ học vấn, trình độ chun mơn nghiệp vụ, kinh nghiệm sản

xuất, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, khả năng tiếp cận thị trường, độ

tuổi bình qn, giới tính.



2.2.4.2. Chỉ tiêu đánh giá trình độ và hiệu quả sản xuất của hộ nông dân



46



Chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ, về điều kiện sản

xuất, phương hướng sản xuất, kết quả sản xuất, mức thu nhập - Sản lượng

BQ/ hộ, năng suất BQ/ hộ.



47



CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thực trạng liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây tại

xã Thạch Sơn

3.1.1. Thực trạng sản xuất và tiêu thụ khoai tây

3.1.1.1. Thực trạng sản xuất khoai tây

Là xã trọng điểm về nông nghiệp, nhiều năm Thạch Sơn dẫn đầu

toàn huyện về năng suất lúa. Bình qn lương thực ở một số xã có điều

kiện canh tác thuận lợi đã đạt gần 350 kg/người/năm. Khi an ninh lương

thực được bảo đảm, một phần sản lượng lúa được bán ra thị trường. Tuy

nhiên, với lúa thuần, lúa lai thông thường, do chất lượng gạo thấp nên giá bán

chỉ ở mức “khiêm tốn”. Lời lãi từ cây lúa khơng cao. Từ thực tế ấy, khơng

ít nơng dân đã chuyển đổi từ lúa sang cây trồng khác nhưng lại gặp khó khăn

về thị trường tiêu thụ, kỹ thuật canh tác. Tại đại hội đảng bộ xã lần thứ XX

tổ chức vào giữa năm 2015, xã Thạch Sơn đề ra định hướng mới trong

phát triển cây lương thực. Đó là xây dựng khoai tây hàng hoá.

Khi nắm bắt được những điều kiện thuận lợi về thị trường, xã Thạch

Sơn đã có những chính sách "tạo đà" cho khoai tây phát triển như trợ giá về

giống, về ni-lông che phủ. Xã đã tìm được "đầu mối" cung ứng giống khoai

tây bảo đảm chất lượng, đưa giống về tận tay nông dân, không để bà con

tự mua giống trôi nổi từ nhiều nguồn khác dẫn tới khơng kiểm sốt được chất

lượng. Vì hiệu quả kinh tế cao nên khaoi tây đã nhanh chóng được nơng dân

tiếp nhận. Trong năm 2015, năm đầu thực hiện chương trình sản xuất

nơng nghiệp hàng hố giai đoạn 2015-2020, toàn xã đã trồng 20 ha khoai

tây, tập trung ở các thôn Non Tá và Đồng Băm, trong khi những năm trước

đó, khoai tây chỉ được trồng rải rác tại một số điểm với quy mô diện tích nhỏ

đến năm 2016, xã Thạch Sơn đã đạt được 25 ha khoai tây.

Nếu như ở một số địa phương khác diện tích cây khoai tây một vài

năm gần đây có xu hướng giảm thì trong cơ cấu cây trồng vụ đông của xã

48



Thạch Sơn, khoai tây vẫn là cây trồng chính. Ưu điểm của khoai tây là

thời vụ trồng không gấp rút, tạo điều kiện cho nông dân "rải vụ" khi

trồng cây vụ đơng đồng thời có thị trường và giá cả ổn định. Khắc phục

những hạn chế trong khâu giống và khâu bảo quản, hàng năm cứ đến

tháng 7 xã chủ động ký hợp đồng mua 20 tấn giống khoai tây Hà Lan và

khoai tây Đức theo đăng ký của các thơn. Ngồi ra, vụ đơng năm 2015 cũng

là vụ đầu tiên, xã triển khai mơ hình trồng khoai tây nguyên chủng với quy

mô 6 ha, xây dựng 1 kho lạnh bảo quản khoai tây theo dự án của Sở Khoa

học và Công nghệ tỉnh. Vụ đông 2015 toàn xã đã trồng được hơn 20 ha

khoai tây. Trong đó, diện tích khoai giống mới cấp ngun chủng và xác

nhận đạt gần 10 ha được trồng thành vùng tập trung với quy mô từ 2-4ha.

Những vùng khoai giống cùng hệ thống kho lạnh đang được xây dựng trên

địa bàn là tiền đề để những năm tới, Thạch Sơn nâng cao chất lượng và mở

rộng diện tích khoai tây.

Khoai tây cũng là một trong những nơng sản hàng hóa được xã Thạch

Sơn mở rộng diện tích sản xuất và triển khai mối liên kết bốn nhà.

Bảng 3.1. Biến động năng suất sản lượng khoai tây 2015 – 2017

Chỉ tiêu/năm

2015

2016

2017

1. Diện tích khoai tây (Ha)

11

16

25

Tốc độ phát triển (%)

145,5

156,3

2. Năng suất (Tấn/Ha)

9,3

11,5

13

Tốc độ phát triển (%)

123,7

113,1

3. Tổng sản lượng (Tấn)

800

1150

1270

Tốc độ phát triển (%)

143,75 110,4

(Nguồn: UBND Thạch Sơn năm 2017)

Nhìn vào bảng 3.1 ta có thể thấy diện tích khoai tây tăng dần qua các

năm từ 2015 đến 2017. Cụ thể, năm 2016 tăng 45,5% so với năm 2015 và

năm 2017 tăng so với 2016 là 10,8% tương đương với lượng tuyệt đối là 9

ha. Bên cạnh việc mở rộng diện tích khoai tây, xã cũng chú trọng vào chất

lượng giống, đưa vào sản xuất những giống có chất lượng tốt cho năng suất



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.4 Hiện trạng nhà văn hóa xã năm 2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×