Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1 Trung gian phân phối đem lại sự tiết kiệm

Hình 1.1 Trung gian phân phối đem lại sự tiết kiệm

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong Từ điển Kinh tế học hiện đại David. W. Pearce (1999) cho

rằng liên kết kinh tế chỉ tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một

nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối

hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của

quá trình phát triển. Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền

vững.

Trong các văn bản của Nhà nước mà cụ thể là trong quy định ban hành

theo Quyết định số 38-HĐBT ra ngày 10/04/1989 thì liên kết kinh tế là

những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng

nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến cơng việc

sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi

nhất. Sau khi bàn bạc thống nhất, các đơn vị thành viên trong tổ chức liên

kết kinh tế cùng nhau ký hợp đồng về những vấn đề có liên quan đến phần

hoạt động của mình để thực hiện.

Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các

hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực

hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến cơng việc sản xuất, kinh

doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển

theo hướng có lợi nhất. Được thực hiện trên ngun tắc tự nguyện, bình đẳng,

cùng có lợi thơng qua hợp đồng kinh tế kí kết giữa các bên tham gia và trong

khuôn khổ pháp luật của Nhà nước. Mục tiêu là tạo ra muối quan hệ kinh tế

ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến

hành phân công sản xuất chun mơn hóa và hiệp tác hóa, nhằm khai thác

tốt tiếm năng của từng đơn vị tham gia liên kết, để cùng nhau tạo thị trường

chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho

từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau.

Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau,

tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên

tham gia liên kết. Những hình thức liên kết phổ biến là hiệp hội sản xuất tiêu

7



thụ, nhóm sản xuất, nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành

hoặc theo vùng, liên đoàn xuất nhập khẩu... Các đơn vị thành viên có tư cách

pháp nhân đầy đủ, khơng phân biệt hình thức sở hữu, quan hệ trực thuộc

về mặt quản lý nhà nước, ngành kinh tế kĩ thuật hay lãnh thổ. Trong khi

tham gia liên kết kinh tế, khơng một đơn vị nào mất quyền tự chủ của

mình, cũng như không được miễn giảm bất cứ nghĩa vụ nào đối với Nhà

nước theo pháp luật hay theo nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết với các đơn vị

khác.

Như vậy, liên kết kinh tế là sự phối hợp của hai hay nhiều bên, khơng

kể quy mơ hay loại hình sở hữu. Mục tiêu của liêu kết kinh tế là các bên tìm

cách bù đắp sự thiếu hụt của mình, từ sự phối hợp hoạt động với các đối

tác nhằm đem lại lợi ích cho các bên.

* Liên kết bốn nhà:

- Nhà nơng: Chủ thể chính trong sản xuất nơng nghiệp của nước ta

chính là kinh tế hộ nơng dân.

Hộ nông dân là tổ chức kinh tế phổ biến nhất cho mọi nền nông

nghiệp, chiếm đại đa số trong cư dân nơng nghiệp. Có nhiều cách nhìn khác

nhau về khái niệm của hộ nơng dân nhưng nhìn chung thì: Hộ nơng dân là

hộ có phương tiện kiếm sống dựa trên ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động

gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về

cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức

độ khơng hồn hảo.

- Nhà nước: Là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ

máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý

đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo về lợi ích của

giai cấp thống trị trong xã hội.

- Nhà khoa học: là những người đã nghiên cứu khám phá ra những

kiến thức mới và mong muốn nghiên cứu đó được áp dụng trong thực tiễn

thay thế cho những nghiên cứu cũ khơng còn phù hợp. Nhà khoa học đóng

8



vai trò vơ cùng quan trọng trong việc chuyền tải tiến bộ kỹ thuật của mình ra

thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.

- Nhà doanh nghiệp: Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều

định nghĩa về doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang một nội dung với giá

trị nhất định. Doanh nghiệp được xét theo các quan điểm như: quan điểm

pháp luận, quan điểm chức năng, quan điểm phát triển, quan điểm hệ thống...

Từ các quan điểm trên thì có thể thấy rằng “Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế

có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính vật chất và con người

nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng tiêu thụ các sản phẩm hay

dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng thơng qua tối đa hóa

lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã

hội”.

1.2. Nội dung của liên kết “4 nhà” trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm.

Mỗi ngành hàng gồm nhiều công đoạn được thực hiện bởi những tác

nhân nhất định. Mỗi tác nhân có thể là pháp nhân độc lập hoặc các bộ

phận phụ thuộc nhau về mặt pháp lý nhưng đều thực hiện và hoàn thành

một số chức năng và tạo ra những sản phẩm nhất định.

Mối liên kết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các

tác nhân là những pháp nhân độc lập rất đa dạng và bao gồm cả liên kết

dọc và liên kết ngang đan xen nhau.

Các thoả thuận, cam kết phải thể hiện trách nhiệm của mỗi bên khi

thực hiện cam kết và các hình thức phạt nếu một bên không thực hiện

đúng, đủ theo thoả thuận, cam kết. Các mối liên kết này thể hiện thơng

qua các hình thức liên kết như sau:

Mua bán tự do trên thị trường: là hình thức giao dịch trực tiếp giữa

người mua và người bán. Người mua thấy được số lượng, chất lượng

hàng hóa mình cần, người bán sau khi thỏa thuận được giá cả sẽ bán và

thu được tiền mặt đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống.



9



Việc mua bán được thực hiện trên thị trường theo quan hệ cung cầu.

Bất kì bên mua hoặc bên bán hàng nào, nếu thỏa thuận được với nhau thì

hoạt động giao dịch được diễn ra. Thị trường có vai trò là người định giá.

Hợp đồng bằng văn bản: Theo Eaton and Shepherd (2001), hợp đồng

là sư thoả thuận giữa nông dân và các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ nông sản

về việc tiêu thụ sản phẩm trong tương lai và thường với mức giá đặt trước.

Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữa

các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm.

Hợp đồng được ký kết giữa các doanh nghiệp, tổ chức, ngân hàng, tín

dụng, trung tân khoa học kỹ thuật và hộ theo các hình thức:

+ Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại nơng

sản hàng hố;

+ Bán vật tư mua lại sản phẩm ;

+ Trực tiếp tiêu thụ sản phẩm, thuê mướn tư vấn kỹ thuật, mua vật tư,

thiết bị, nguyên liệu đầu vào, vay vốn...;

+ Liên kết sản xuất bằng việc góp vốn cổ phần, liên doanh liên kết với

các doanh nghiệp hoặc cho doanh nghiệp thuê đất, diện tích mặt nước, sau đó

hộ được sản xuất trên diện tích đó hoặc cho thuê và bán lại sản phẩm

cho doanh nghiệp tạo sự gắn kết bền vững giữa hộ và doanh nghiệp.

- Hợp đồng miệng (thoả thuận miệng): Là các thoả thuận không

được thể hiện bằng văn bản giữa các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện

một số hoạt động, cơng việc nào đó. Hợp đồng miệng cũng được hai bên

thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả, thời hạn và địa điểm. Cơ sở của

hợp đồng là niềm tin, độ tín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các

tác nhân tham gia hợp đồng. Hợp đồng miệng thường được thực hiện giữa

các tác nhân có quan hệ thân thiết (họ hàng, anh em ruột thịt, bạn bè,…)

hoặc giữa các tác nhân đã có q trình hợp tác, liên kết sản xuất kinh doanh

với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể hiện nguồn lực tài chính,

khả năng tổ chức và trách nhiệm, giữ chữ tín với các đối tác. Tuy nhiên,

10



hợp đồng miệng thường chỉ là các thoả thuận trên nguyên tắc về số lượng,

giá cả, điều kiện giao nhận hàng. Hợp đồng miệng cũng có thể hoặc khơng

có đầu tư ứng trước về tiền vốn, vật tư, cũng như các hỗ trợ giám sát kỹ

thuật. So với hợp đồng văn bản thì hợp đồng miệng lỏng lẻo và có tính chất

pháp lý thấp hơn.

Các hoạt động hỗ trợ thị trường được nhiều hiệp hội doanh nghiệp

thực hiện nhằm khắc phục một số kiếm khuyết của thị trường như tăng

cường các hoạt động phối hợp giữa các doanh nghiệp, cơ sở tiêu thụ và hộ

nơng dân qua đó dung hòa các mối quan hệ trong sản xuất và ra quyết định

đầu tư.

* Nguyên tắc liên kết:

Quá trình liên kết kinh tế của các doanh nghiệp nói chung, của liên kết

sản xuất và thương mại nói riêng đều phải tuân theo các nguyên tắc sau:

Một là, phải đảm bảo sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát

triển và có hiệu quả ngày càng tăng.

Xuất phát từ mục tiêu nói trên dù tiến hành liên kết kinh tế dưới

hình thức và mức độ nào đi nữa thì yêu cầu của hoạt động liên kết kinh tế ấy

phải đảm bảo để sản xuất và kinh doanh của từng doanh nghiệp nói

riêng, của doanh nghiệp liên kết với nhau nói chung khơng ngừng phát triển,

doanh thu ngày càng tăng, cơng nhân viên chức có nhiều việc làm, thu

nhập ngày một tăng, năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng cao. Liên

kết kinh tế phải nâng cao được trình độ cơng nghệ, mở rộng mặt hàng, sản

xuất ngày càng phù hợp với nhu cầu thị trường, giá thành hạ, tiết kiệm

phí lưu thơng, đem lại nhiều lợi nhuận cho các doanh nghiệp trên cơ sở giá

bán và chất lượng sản phẩm mà người tiêu dùng chấp nhận.

Hai là, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện giữa các bên tham gia liên

kết. Các hoạt động hợp tác, liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp được

thực hiện một cách thuận lợi, trôi chảy, thành công và đem lại hiệu quả

cao chỉ có thể diễn ra khi các doanh nghiệp tự nguyện tìm đến với nhau, tự

11



thỏa thuận quan hệ hợp tác, liên kết làm ăn với nhau lâu dài trên tinh

thần bình đẳng, cùng chịu trách nhiệm đến cùng về các thành công cũng như

thất bại rủi ro. Tất cả các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế, các tổ chức liên

kết kinh tế được thiết lập trên cơ sở những ý đồ không xuất phát từ

nguyên tắc tự nguyệ n, từ những liên hệ tất yếu về phương diện kinh tế,

nghĩa là tiến hành trên cơ sở gò bó gượng ép bắt buộc đều hoạt động

khơng thành công, kém hiệu quả.

Ba là, phải đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên

tham gia liên kết.

Lợi ích kinh tế chính là động lực thúc đẩy các bên tham gia liên kết

với nhau, là chất kết dính các bên lại với nhau trong quá trình liên kết.

Các bên tìm đến với nhau chỉ vì họ tìm thấy, nhìn thấy ở nhau những mối

lợi nếu làm ăn với nhau lâu dài. Cho nên việc đảm bảo thống nhất hài hòa lợi

ích giữa các bên tham gia liên kết sẽ tạo nên chất kết dính bền vững cảu tổ

chức liên kết đó. Khi lợi ích kinh tế của một hoặc một số thành viên nào đó

bị xâm phạm hoặc thiếu sự cơng bằng, thống nhất hài hòa sẽ tạo ra sự rạn

nứt của mối liên hệ bền vững, dẫn đến phá vỡ tổ chức liên kết, mối quan

hệ liên kết đã được thiết lập. F.Ăng – ghen cũng đã từng nhận xét rằng: ”Ở

đâu không có sự nhất trí về lợi ích, ở đó khơng thể có sự thống nhất về

hành động”. Sự phân chia lợi nhuận, phân bổ thiệt hại rủi ro, các tính tốn

về giá cả, chi phí...cần phải được tiến hành thỏa thuận, bàn bạc một cách

cơng khai, dân chủ, bình đẳng và đảm bảo sự cơng bằng trên cơ sở những

đóng góp của các bên liên kết.

Bốn là, phải được thực hiện trên cơ sở những ràng buộc pháp lý

giữa các bên tham gia liên kết và thông qua hợp đồng kinh tế.

Hợp đồng kinh tế là khế ước, là những thỏa thuận, những điều

khoản ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi giữa các bên tham gia làm

ăn với nhau, được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Trong nền kinh tế thị

trường và Nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động kinh tế đều phải tiến

12



hành trên cơ sở pháp luật Nhà nước cho phép, đồng thời được pháp luật bảo

hộ những tranh chấp giữa các bên quan hệ làm ăn với nhau. Cho nên để có

những căn cứ pháp lý cho các cơ quan pháp luật phán quyết những tranh

chấp giữa các quan hệ kinh tế với nhau đều phải “có khế ước” hay “hợp

đồng kinh tế” được ký kết theo đúng pháp luật quốc tế (nếu quan hệ làm ăn

giữa các bên vượt ra ngồi khn khổ một nước). Nước ta đang trong quá

trình chuyển đổi nền kinh tế sang vận động theo cơ chế thị trường có sự

điều tiết của Nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền cho nên mọi

hoạt động kinh tế, mọi mối quan hệ làm ăn giữa các doanh nghiệp muốn phát

triển lâu dài, cần phải thực hiện theo đúng pháp luật, phải thơng qua hợp

đồng kinh tế. Có như vậy Nhà nước mới có đủ căn cứ pháp lý để giải quyết

những tranh chấp, bất đồng nếu xảy ra giữa các bên. Đối với hoạt động liên

kết kinh tế là những mối quan hệ kinh tế ổn định, thường xuyên, lâu dài lại

càng cần phải được tiến hành thông qua “Hợp đồng kinh tế”. Nó còn là

những căn cứ để các bên tiến hành đàm phán giải quyết những bất đồng,

tranh chấp nhỏ xảy ra giữa các bên, làm cho các quan hệ liên kết ngày càng

bền chặt hơn. Việc thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế sẽ tạo thuận lợi cho

các bên tham gia liên kết thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của

mình.

Năm là, đối với các tổ chức liên kết kinh tế, cấn phải được tiến

hành hoạt động thông qua “điều lệ” của tổ chức liên kết kinh tế đó.

“Điều lệ” là những qui định về tơn chỉ mục đích, nội dung và cơ

chế hoạt động của một tổ chức được tự nguyện sáng lập giữa các thành

viên. Nó qui định những quyền hạn, quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của

các thành viên gia tổ chức, những điều được phép và không được phép để

đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích chung của các thành viên và sự tồn tại

lâu dài, phát triển của tổ chức. Có thể nói, nó là cơ sở pháp lý để ràng buộc

các thành viên tham gia tổ chức lại với nhau. Vì vậy, các tổ chức liên kết

kinh tế muốn tồn tại và phát triển lâu dài cần phải tiến hành xây dựng và

13



thực hiện thông qua “điều lệ” của tổ chức của mình. ðiều lệ phải được thảo

luận một cách cơng khai, dân chủ, tính đến lợi ích lâu dài và sự tồn tại phát

triển của tổ chức của tổ chức liên kết kinh tế, giữa các thành viên tham gia

sáng lập và được điều chỉnh sửa đổi thích hợp với điều kiện tình hình của

từng giai đoạn, phải tuân thủ pháp luật của quốc gia và đăng ký với Nhà

nước, chính quyền địa phương sở tại để được phép hoạt đông công khai và

được Nhà nước bảo hộ.

1.3. Vai trò của liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây

1.3.1. Vai trò các tác nhân trong mối liên kết

Liên kết là hình thức hợp tác đảm bảo đem lại lợi ích chắc chắn cho

các bên liên quan. Liên kết giữa hộ nông dân với nhà khoa học giúp cho sản

phẩm nông nghiệp có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường,

bảo đảm sức khoẻ cho người tiêu dùng, giảm chí phí sản xuất, tăng giá

bán của hàng hóa nơng sản. Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến

và hộ nơng dân cho phép xố bỏ độc quyền đối với các doanh nghiệp trong

việc ép cấp, ép giá khi mua sản phẩm của người nông dân. Khác với mọi

liên kết lỏng lẻo trước đây liên kết kinh tế thông qua hợp đồng loại bỏ vai

trò của các tầng lớp mua bán trung gian nên trực tiếp bảo vệ được người

sản xuất, nhất là người nghèo khi bán sản phẩm. Mặt khác, thực hiện liên

kết thông qua hợp đồng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến có

nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định để phấn đấu giảm giá thành sản phẩm,

nâng cao được khả năng cạnh tranh đối với sản phẩm của mình trên thị

trường trong nước và quốc tế.

Thực hiện liên kết thông qua hợp đồng giúp cho các cơ sở chế biến, xuất

khẩu có điều kiện để mở rộng quy mơ hoạt động do có sự đảm bảo ổn định về số

lượng, chất lượng và tiến độ của nguyên liệu nông sản cung cấp cho sản xuất.

Việc tăng khả năng tiếp cận các công nghệ, kỹ thuật mới còn giúp người

nơng dân giải phóng sức lao động, cho phép giảm giá thành và tăng khả năng

cạnh tranh của hàng nơng sản. Đây là hướng tích cực và có nhiều triển vọng cho

14



hàng triệu hộ nơng dân sản xuất nhỏ chưa có điều kiện để tích luỹ đất đai, có

điều kiện áp dụng cơng nghệ mới trong sản xuất, đồng thời cũng là chìa khố mở

lối thốt cho thị trường nông lâm sản Việt Nam.

Việc chuyển tổ chức sản xuất từ liên kết ngang (người sản xuất/người thu

gom/người chế biến/người kinh doanh xuất khẩu...) sang hình thức liên kết dọc

theo ngành hàng (sản xuất – chế biến – tiêu thụ), đã đem lại tác dụng to lớn sau:

+ Chuyển một phần lợi nhuận của người mua bán trung gian hoặc công

ty kinh doanh sang cho người sản xuất trực tiếp đầu tư phát triển vùng nguyên

liệu.

+ Thông qua hợp đồng sẽ tập trung được nhiều hộ sản xuất tiểu nơng

nhỏ lẻ thành vùng sản xuất hàng hố tập trung với chất lượng đồng đều và

ổn định.

+ Chia sẻ một phần rủi ro trong sản xuất nông nghiệp sang các cơ

sở chế biến, tiêu thụ tham gia gánh chịu, người sản xuất nơng nghiệp chỉ

còn chịu rủi ro trong khâu sản xuất nguyên liệu, hạn chế tối đa rủi ro

trong thị trường giá cả.

+ Nối kết thông tin hai chiều giữa thị trường tiêu dùng với người sản

xuất, nhờ đó sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng,

vệ sinh an toàn thực phẩm do thị trường đòi hỏi, trên cơ sở đó tăng cường

khả năng cạnh tranh và nâng cao được giá trị sản phẩm.

+ Gắn kết được công nghiệp chế biến và hoạt động kinh doanh dịch vụ

với địa bàn kinh tế nông thơn, góp phần quan trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế

nơng nghiệp nơng thơn theo hướng đa dạng hố, cơng nghiệp hố, thúc

đẩy liên kết nơng nghiệp – cơng nghiệp phát triển.

+ Thông qua liên kết các đơn vị kinh tế, các tổ chức có điều kiện hỗ

trợ, giúp đỡ cho các nhóm hộ, hợp tác xã phát triển, tạo ra những khả năng

phát triển năng lực nội tại của kinh tế hộ, đồng thời tạo lập môi trường kinh

tế - xã hội cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển.

1.3.2. Vai trò của từng nhà trong mối liên kết 4 nhà thể hiện như sau

15



+ Vai trò của nhà nông: Trước hết phải xác định đây là mắt xích quan

trọng trong việc tạo ra sản phẩm theo định hướng của doanh nghiệp..., nhưng

cũng cần nói rõ là nhà nông là đối tượng được hưởng lợi nhất trong mối

liên kết này. Do đó, nhà nơng cần liên kết với các nhà khác để mang lại lợi

ích cao nhất. Nhà nông liên kết với nhà khoa học để nhận được sự hỗ trợ kỹ

thuật, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhà nông và doanh nghiệp đều

rất cần liên kết với nhau một cách lâu bền trong việc bán và mua nơng sản.

Doanh nghiệp chế biến nơng sản cần có nguồn cung cấp hàng hóa ổn định,

cung ứng nơng sản nguyên liệu thường xuyên đạt chất lượng, giá cả hợp lý

với số lượng theo yêu cầu của công nghệ chế biến và thị trường tiêu thụ.

Nhà nông cần phải biết chắc chắn nơng phẩm do mình làm ra được tiêu

thụ hết với giá cả hợp lý để yên tâm sản xuất. Mặt khác, 3 vấn đề lớn mà

từng nhà nông khơng thể giải quyết được đó là (1) thị trường tiêu thụ và

thương hiệu (2), công nghệ mới (3), vốn đầu tư. Chỉ có doanh nghiệp chế

biến - tiêu thụ nơng sản mới có thể giải quyết tốt 3 vấn đề này. Giải quyết 3

vấn đề này không chỉ mang lại lợi ích cho nhà nơng mà cho cả doanh nghiệp

chế biến - tiêu thụ khoai tây.

+ Vai trò của doanh nghiệp: Để thành công các doanh nghiệp chế

biến – Tiêu thụ khoai tây không chỉ giải quyết các vấn đề công nghệ chế biến,

bảo quản mà cả các vấn đề sản xuất nông phẩm của nông dân, để không

ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất. Nhờ đó, sự liên kết

giữa doanh nghiệp, nhà nơng với các nhà khoa học được thiết lập ngày càng

vững chắc trên qui mơ lớn.

+ Doanh nghiệp vì lợi ích của mình, không chỉ đầu tư áp dụng các

công nghệ mới trong khâu chế biến - bảo quản - tiêu thụ khoai tây, mà còn

đầu tư giúp nhà nơng áp dụng cơng nghệ mới trong sản xuất.

+ Vai trò của nhà khoa học: Tổ chức khoa học giữ vai trò rất quan trọng

trong q trình liên kết. Họ chính là người giúp nông dân ứng dụng các công

nghệ, kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất,

16



tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của hàng hố. Ngồi ra, hoạt động khuyến

nơng làm cầu nối giữa các nhà khoa học và nhà nơng, đóng vai trò quyết định

trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và góp phần phát triển vùng sản xuất hàng

hóa tập trung qui mơ lớn trong nơng nghiệp.

+ Vai trò của Nhà nước: Giữ vai trò quan trọng hơn cả trong liên kết

“4 nhà” phải kể đến là Nhà nước. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về

vốn, miễn giảm thuế cho doanh nghiệp thu mua nông sản để đảm bảo tiêu

thụ cho nông dân ngay cả khi giá thị trường biến động xấu... Hiện nay,

Quyết định 80 đã có, nhiều nơi chưa quan tâm nên chỉ còn liên kết 3 nhà

hoặc 2 nhà khiến doanh nghiệp không yên tâm đầu tư cho nơng dân. Nhà

nước đóng vai trò hướng dẫn điều tiết quá trình nhập khẩu nhằm đảm bảo lợi

ích cho người sản xuất. Nhà nước hỗ trợ xúc tiến thương mại, việc này chỉ có

Nhà nước mới làm được chứ bản thân các doanh nghiệp không thể làm. Nhà

nước có định hướng trên cơ sở thơng tin về thương mại, khuyến cáo người

sản xuất, như thế người sản xuất sẽ chủ động có giải pháp xử lý khi có khó

khăn. Nhà nước cần quy hoạch sản xuất nơng nghiệp hợp lý hơn để tạo ra

sản phẩm hàng hóa. Nhiều ý kiến cho rằng việc quy hoạch cần gắn với nội

dung liên kết 4 nhà. Còn nếu 4 nhà vẫn rời rạc như hiện nay, thì nơng sản

vẫn sẽ chỉ là sản phẩm thô và điệp khúc được mùa mất giá vẫn sẽ tiếp diễn.

1.3.3 Các hình thức liên kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm

Liên kết kinh tế là thực hiện một quan hệ xã hội, mà ở đây là quan hệ

kinh tế - kỹ thuật - tài chính giữa hai chủ thể kinh tế độc lập là doanh

nghiệp chế biến và nông dân. Quan hệ đó cần phải được pháp luật điều tiết và

bảo vệ thì mới có cơ sở để thực hiện một cách có hiệu quả, bảo đảm

quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên tham gia liên kết. Vì vậy, quan hệ liên kết

đó phải được thực hiện dưới một hình thức pháp lý nhất định, làm cơ sở để

ràng buộc trách nhiệm giữa hai bên liên kết và được pháp luật bảo vệ (Hồ

Quế Hậu, 2008).



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1 Trung gian phân phối đem lại sự tiết kiệm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×