Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Đặc điểm của làm việc nhóm

2 Đặc điểm của làm việc nhóm

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.3 Yêu cầu đối với làm việc nhóm

1.3.1 Yêu cầu đối với nhóm

- Có chung một mục tiêu: Tất cả các thành viên phải cam kết đạt được mục tiêu

chung.

- Mọi người đều tham gia lãnh đạo: dù có một nhóm trưởng được đề ra nhưng lý

tưởng nhất là tất cả mọi nguiời đều tham gia lãnh đạo.

- Mỗi thành viên đều có đóng góp độc đáo vào cơng việc của nhóm: Mơi trường làm

việc của nhóm phải giúp ghi nhận và sử dụng hữu hiệu khả năng/ tài năng của tất

cả thành viên trong nhóm

- Giao tiếp hiệu quả với các thành viên trong nhóm: Những buổi họp, trao đổi

thường xuyên, trung thực, hữu hiệu và sự cởi mở sẽ giúp đưa ra quyết định hiệu

quả hơn.

- Làm việc sáng tạo: tinh thần làm việc sáng tạo sẽ cung cấp thêm năng lực và động

lực cho nhóm. Tinh thần làm việc sáng tạo sẽ nhân lên sức mạnh tập thể.

- Quan hệ hài hòa giữa các thành viên: Các thành viên được tơn trọng khuyến khích,

có suy nghĩ tích cực với nhau và đối với công việc, Những mâu thuẫn sẽ được giải

tỏa và công việc sẽ trở nên thú vị và vui vẻ hơn.

- Lập kế hoạch và sử dụng nguồn lực hiệu quả: Chia nhỏ các công việc và lập kế

hoạch sử dụng tốt nguồn lực (con người, tiền bạc, thời gian)

1.3.2 Yêu cầu đối với từng thành viên

- Tham gia đầy đủ: Thành viên cần tham gia đầy đủ các buổi họp và đến đúng giờ.

Có độ tin cậy cao và trung thực. Nếu không tham gia được phải thông báo trước và

cung cấp mọi thông tin cần thiết.

- Có năng lực: Có những năng lực mà nhóm cần đến và đóng góp tối đa khả năng

của mình vào mục tiêu của nhóm, Khơng từ chối những cơng việc có thể làm. Giao

tiếp tích cực với nhóm.

- Làm việc sáng tạo và năng động: Là nguồn năng lượng cho nhóm, thể hiện tinh

thần phấn khích khi được tham gia vào nhóm. Tinh thần vượt khó khi giải quyết

các vấn đề phức tạp của nhóm

- Là người có nhân phẩm: Có đóng góp tích cực vào mơi trường làm việc của nhóm.

Có quan điểm tích cực, động viên khích lệ mọi người có liên quan. Đóng vai trò

hòa giải mỗi khi có mâu thuẫn xảy ra trong nhóm. Giúp nhóm đạt được sự đồng

lòng và đạt được kết quả cao nhất. Giúp tạo ra môi trường làm việc vui vẻ và năng

suất cao. Đóng góp những điều tốt nhất cho những thành viên trong nhóm.

Dưới đây là ví dụ về một trong những phương pháp tư duy được áp dụng khá phổ

biến: “Phương pháp 6 chiếc mũ tư duy”

13



2. Tạo động lực học tập

2.1 Mục tiêu học tập

- Năm thứ nhất, khối lượng kiến thức chuyên ngành chưa nhiều, bạn hãy dành thời

gian còn rảnh rỗi này để mở rộng các mối quan hệ xã hội, học các kỹ năng mềm và

ngoại ngữ. Có rất nhiều gợi ý cho bạn nếu muốn có năm học ĐH đầu tiên thật

thành công: tham gia một câu lạc bộ trong trường, tình nguyện mùa hè, đăng ký 1

lớp kỹ năng mềm và 1 lớp tin học, đăng ký lớp tiếng Anh giao tiếp, tìm kiếm cơ

hội giao lưu với các sinh viên thế giới qua những chương trình trao đổi văn hóa và

hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, cũng đừng quên công việc quan trọng nhất của bạn là

học tốt và giành những điểm số cao nhé.

Nếu có cơ hội, hãy ứng cử vào vị trí lớp trưởng hoặc bí thư lớp. Tuy có vất vả

hơn nhưng sẽ là cơ hội lớn để phát huy năng lực bản thân và là bước đệm để bạn

thực hiện những dự định tiếp theo của mình. Hãy làm mình nổi trội cả về học tập

lẫn hoạt động ngoại khoá.

- Năm thứ hai, việc nâng cao khả năng ngoại ngữ tương đương với mức IELTS 7.5

hay TOEFL 95 là điều rất cần thiết nếu bạn dự định đi du học, hoặc làm việc trong

các tập đồn tồn cầu.

Bạn cũng có thể trau dồi những kỹ năng cần thiết như làm việc nhóm, giải quyết

vấn đề, kỹ năng lãnh đạo hay lập kế hoạch cá nhân... thơng qua các khóa học, hoặc

qua những việc làm thêm. Có rất nhiều cơng việc phù hợp với sinh viên như: dịch

thuật, hướng dẫn du lịch, làm trợ lý tại các hội chợ, trợ giảng tại các trung tâm

Tiếng Anh, lễ tân, thực tập sinh tại các công ty, tổ chức phi chính phủ. Bất cứ một

cơng việc gì cũng giúp bạn có thêm kinh nghiệm và kiến thức cho tương lai của

mình.

Hãy theo dõi, và bắt đầu tham gia các cuộc thi dành cho sinh viên (cuộc thi ý

tưởng kinh doanh nếu là sinh viên ngành kinh doanh, cuộc thi Robocon nếu bạn

học ngành kỹ thuật, cuộc thi sáng tạo vì mơi trường nếu bạn học ngành mơi

trường). Những cuộc thi này sẽ thúc đẩy bạn nghiên cứu, nâng cao kiến thức, đồng

thời rèn luyện cho mình kỹ năng giao tiếp cũng như các mối quan hệ xã hội.

- Năm thứ ba là thời điểm bạn học nhiều môn chuyên ngành, và mong muốn áp

dụng kiến thức vào thực tế. Nhờ vào các mối quan hệ bạn xây dựng được trước đó,

và những kỹ năng được rèn luyện từ năm thứ nhất, chắc hẳn sẽ khơng khó khăn gì

để bạn tìm được một cơng việc thực tập tốt, phát huy được khả năng của mình, và

thậm chí còn được trả lương cao.

Nếu bạn có ý định du học, thì đây là thời điểm để tìm hiểu các chương trình học

bổng. Dành năm thứ 3 và năm thứ 4 để chuẩn bị một bộ hồ sơ hoàn hảo sẽ giúp

bạn đến gần hơn với ước mơ du học.

14



- Năm thứ tư với những thách thức mới, đó sẽ là năm quyết định bước ngoặt của

cuộc đời bạn. Trong năm này, bạn sẽ vơ cùng bận rộn với khóa luận tốt nghiệp và

tìm kiếm cơng việc sau khi ra trường. Trước khi ra trường, nhớ hoàn thành các kế

hoạch đã đặt ra từ năm đầu, như thi các chứng chỉ quốc tế, kết thúc khóa học với

điểm số cao, và thi một học bổng lớn để hoàn thành ước mơ du học.

Lập kế hoạch cho bốn năm học của mình bạn sẽ hình dung được những khó khăn

mà bạn phải trải qua cũng như những thách thức và cơ hội đang chờ đón bạn!

Đừng bao giờ qn nhìn nhận lại những kế hoạch đó bởi vì kế hoạch dù có chi tiết

đến đâu cũng có lúc cần phải sửa đổi cho phù hợp với sự thay đổi của chính bạn!



Hình 3: sinh viên Đại học Hàng Hải Việt Nam



2.2 Thiết kế và xác định mục tiêu

Để thực hiện mục tiêu bạn còn cần phải biết cách thiết lập chúng. Bạn khơng

thể chỉ nói: “Tơi muốn” và mong chờ phép màu xảy ra được vì thiết lập mục tiêu là

một quá trình lâu dài bắt đầu bằng việc xem xét cẩn thận những gì bạn muốn đạt

được và kết thúc với rất nhiều khó khăn phải hồn thành. Giữa lúc khởi đầu và kết

thúc cần xác định các bước rõ ràng để vượt qua yêu cầu của từng mục tiêu. Hiểu

được các bước này sẽ giúp bạn xây dựng mục tiêu khả thi. Dưới đây là năm quy

tắc vàng để thiết lập mục tiêu:

2.2.1 Nguyên tắc thứ 1: Mục tiêu phải tạo ra động lực.

15



Khi đặt ra mục tiêu, phải đảm bảo mục tiêu này có thể khuyến khích bạn thực

hiện vì nó rất quan trọng với bạn và tạo được giá trị khi hồn thành. Nếu bạn khơng

hào hứng với kết quả, hoặc mục tiêu khơng thích hợp với mục tiêu lớn hơn thì bạn sẽ

bỏ ít cơng sức để thực hiện và mục tiêu khó có khả năng hồn thành. Do đó động lực

chính là chìa khóa để đạt được mục tiêu.

Chỉ nên đặt mục tiêu có liên quan tới những ưu tiên cao trong cuộc sống bởi

nếu có quá nhiều mục tiêu thì thời gian dành cho từng cái sẽ ít đi. Để đạt được mục

tiêu thì phải có cam kết, do đó để tối đa hóa khả năng thành cơng, bạn cần phải có

cảm thấy cấp bách phải thực hiện và một thái độ bức thiết rằng “tơi phải làm điều

này”. Nếu khơng, bạn sẽ có nguy cơ khơng hồn thành những việc cần làm để biến

mục tiêu thành hiện thực và từ đó thấy thất vọng với chính mình, gây nản chí. Và kết

quả cuối cùng là bạn sẽ gieo một phản ứng rất tiêu cực kiểu “Tơi chẳng làm nên trò

trống gì hết” vào trong tâm trí, có thể nói đây là một trong những điểm đáng lưu ý

khi bạn tham gia các khoá đào tạo kỹ năng sống.

Lời khuyên: Để đảm bảo mục tiêu của bạn mang tính thúc đẩy, hãy viết ra lý do

tại sao mục tiêu này có giá trị và quan trọng với bạn. Hãy tự hỏi mình, “Nếu tơi chia

sẻ mục tiêu này với người khác, tơi sẽ nói với họ những gì để thuyết phục họ rằng đó

là một mục tiêu đáng giá?” Bạn có thể sử dụng trạng thái giá trị động lực khi bắt đầu

nghi ngờ chính mình hoặc mất lòng tin.



2.2.2 Ngun tắc thứ 2: Đặt mục tiêu SMART





Thiết lập mục tiêu cụ thể: Mục tiêu phải rõ ràng và được xác định rõ, tránh đặt

mục tiêu mơ hồ hoặc chung chung vì khơng mang lại định hướng đầy đủ. Hãy nhớ

rằng, bạn cần mục tiêu để chỉ đường do đó phải làm cho mục tiêu trở nên dễ dàng

hơn bằng cách xác định chính xác nơi bạn muốn kết thúc.







Đặt mục tiêu đo lường được: Mục tiêu phải bao gồm khối lượng cơng việc chính

xác, ngày tháng, vv…để có thể đo lường mức độ thành cơng của mục tiêu đó. Nếu

mục tiêu của bạn chỉ đơn giản là “Giảm chi phí” thì làm sao bạn biết được khi nào

mình sẽ thành cơng? Trong một tháng nếu bạn giảm được 1% chi phí hay trong

thời gian hai năm khi bạn giảm được 10% chi phí? Nếu khơng có cách để đo lường

thành cơng, bạn bỏ lỡ dịp được ăn mừng thời điểm thành công tới.







Đặt mục tiêu khả thi: Phải đảm bảo mục tiêu đặt ra có khả năng thực hiện được

nếu khơng bạn sẽ dễ dàng mất tự tin và thấy nản lòng. Tuy nhiên, cũng tránh thiết

16



lập mục tiêu quá dễ dàng vì khi bạn không phải làm việc vất vả để đạt được mục

tiêu, chiến thắng sẽ chẳng còn ý nghĩa gì và khiến bạn nhát gan không dám đặt ra

các mục tiêu có nguy cơ cao. Tốt nhất nên thiết lập một mục tiêu thực tế nhưng thử

thách để cân bằng mọi thứ khiến bạn phải “nâng cao khả năng” và mang lại sự hài

lòng lớn nhất cho bản thân.







Đặt mục tiêu tương thích: Khi đặt mục tiêu tương thích với định hướng cuộc

sống và sự nghiệp, bạn có thể phát triển tập trung để ln tiến lên và hồn thiện

mình. Còn nếu đặt mục tiêu quá rộng và không phù hợp, bạn sẽ thấy thời gian sẽ đi

một đường, còn cuộc sống sẽ đi một nẻo.







Đặt mục tiêu có thời hạn: Mục tiêu ln phải có thời hạn. Điều đó có nghĩa rằng

bạn sẽ biết được thời điểm chính xác để ăn mừng thành công. Khi bạn làm việc

dưới sức ép của hạn chót, bạn sẽ thấy cấp thiết và đạt được thành công nhanh hơn.

2.2.3 Nguyên tắc thứ 3: Ghi mục tiêu ra giấy



Ghi mục tiêu thành văn bản làm cho mục tiêu trở nên thực tế và hữu hình hơn vì bạn sẽ

khơng có lý do gì để qn được. Khi bạn viết, sử dụng từ “sẽ” thay vì “muốn” hay “có

thể”. Ví dụ, “Tơi sẽ làm giảm chi phí điều hành xuống dưới 10% trong năm nay”, thay vì

“Tơi muốn giảm chi phí điều hành xuống dưới 10% trong năm nay.” Cách ghi đầu tiên

trơng có vẻ thực tế hơn và bạn “thấy” rõ mình đang cắt giảm chi phí. Còn cách ghi thứ

hai có vẻ thiếu đam mê và sẽ cho bạn một cái cớ để xao lãng.









Lời khuyên 1: Viết mục tiêu bằng giọng văn tích cực. Nếu bạn muốn nâng cao

khả năng duy trì mục tiêu hãy nói “Tơi sẽ giữ lại tất cả nhân viên cho q tiếp

theo” thay vì nói “Tơi sẽ cắt giảm tình trạng nhân viên nghỉ việc.” Câu đầu tiên tạo

ra động cơ thúc đẩy còn câu thứ hai lại tạo thêm điều kiện “cho phép” bạn thành

công ngay cả khi một số nhân viên ra đi.

Lời khuyên 2: Nếu bạn đang sử dụng Danh sách việc cần làm thì nên để mục tiêu

lên đầu danh sách đó. Nếu bạn đang sử dụng một Chương trình hành động thì mục

tiêu cũng nên được đặt lên trên cùng của Thư mục dự án.) Nên đặt mục tiêu ở

những nơi dễ nhìn thấy như trên tường, trên bàn làm việc, trên màn hình máy tính

hoặc dán lên gương phòng tắm hay tủ lạnh để liên tục nhắc nhở mình phải thực

hiện mục tiêu. Bạn cũng có thể chia sẻ mục tiêu này với các thành viên khác để

tiếp thêm động lực cho mình.

2.2.4 Nguyên tắc thứ 4: Lập kế hoạch hành động

Bước này thường bị bỏ qua trong quá trình thiết lập mục tiêu do người thiết lập

thường quá quan tâm tới “đầu ra” mà quên lập kế hoạch cho tất cả các bước trên

đường đi. Bằng cách viết ra từng bước đi một, bạn sẽ biết được mình đang đi tới

đâu và thấy được cả quá trình đi tới mục tiêu cuối cùng. Đây là ghi chú cực kì quan

trọng nếu mục tiêu của bạn quá lớn và lâu dài. Nếu bạn muốn rèn luyện nâng

17



cao kỹ năng giao tiếp hiệu quả, hãy lập kế hoạch khắc phục các nhược điểm hiện

tại, sau đó là những hành động nhỏ tạo thành thói quen giao tiếp chuyên nghiệp.

2.2.5 Nguyên tắc thứ 5: Bám sát mục tiêu!

Hãy nhớ rằng, thiết lập mục tiêu là cả một q trình chứ khơng đơn thuần chỉ là sự

kết thúc. Ln ghi nhớ và nhắc nhở mình theo dõi mục tiêu và dành thời gian xem

xét lại mục tiêu thường xuyên. Đích đến qua thời gian dài vẫn có thể giống như ban

đầu nhưng kế hoạch hành động để đi tới mục tiêu khám phá bản thân có thể thay đổi

đáng kể. Nhớ đảm bảo giữ vững tính tương thích, giá trị và sự cần thiết của mục

tiêu.

3. Kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả

Để có thể quản lý thời gian hiệu quả, trước hết ta cần phải lập một danh sách

những công việc cần làm của từng ngày cụ thể. Mục tiêu của từng ngày sẽ là cách

tốt nhất để ta có thể có thêm động lực làm việc mỗi ngày. Thay vì cứ suy nghĩ về

những mặt tiêu cực của công việc mà làm nản trí, chúng ta nên suy nghĩ về những

lợi ích mà chúng ta có thể có được sau khi hồn thành cơng việc. Ví dụ: Khi bạn

phải làm bài tập về nhà, thay vì nản chí vì những bài tập khó, khơng tìm được

cách giải thì chúng ta có thể suy nghĩ xem có thể nhờ được ai sẽ giúp ta làm được.

Tuy nhiên, chúng ta khơng nên có suy nghĩ dựa dẫm, nhờ cậy mọi người liên tục

được vì chúng ta sẽ có thói quen ỷ lại người khác và thụ động.

Việc quản lý thời gian hiệu quả là vơ cùng quan trọng và buộc chúng ta cần phải

có sự sắp xếp một cách hợp lý. Không nên xem thường giờ giấc hoạt động của

chúng ta. Bạn nên xếp việc lên lịch ngay từ những việc nhỏ nhất. Việc bạn thức

dậy vào giờ nào mỗi ngày sẽ thay đổi cả lịch sinh hoạt cả ngày của bạn. Bạn nên

kỉ luật với bản thân của mình.



CHƯƠNG 3: CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN

1. Lịch sử ngành

Vận tải biển Việt Nam quá trình hình thành và phát triển

Vào đầu thế kỷ XX, một số nhà tư bản Việt Nam bắt đầu kinh doanh nghề vận tải

thủy. Tiêu biểu là nhà tư bản Bạch Thái Bưởi với đội ngũ thương thuyền có tổng trọng tải

4.069 tấn, vận chuyển hành khách là chủ yếu, có các cơ sở đóng và sửa chữa tàu.

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm

thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra tuyên cáo về việc quản lý các ngành GTVT,

kiến trúc, thủy lợi và bưu điện.



18



Ngày 13/11/1945, Bộ Giao Thơng Cơng Chính đã quyết định thành lập ủy ban quản lý

thương thuyền, có trách nhiệm quản lý ngành vận tải biển trong cả nước: “ Phụ trách việc

đi lại trên sông, biển, xem xét, kiểm tra tàu thuyển, thi hành luật pháp trên tàu, sông, thu

thuế, xét xử những vụ tranh chấp chủ tàu và cơng nhân”. Sau đó, nhiệm vụ trọng tâm của

ngành GTVT nói chung, vận tải thủy nói riêng tập trung phục vụ cho cuộc kháng chiến

chống Pháp của dân tộc.

Đầu tháng 4/1947, ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam đã thành lập hàng hải

Nam Bộ để tăng cường công tác vận tải trên biển – con đường duy nhất có thể vận

chuyển một số lượng lớn vũ khí và hàng hóa đảm bảo cho cuộc kháng chiến ở miền Nam.

Năm 1949, ta mua thêm một tàu Sông Lô, trọng tải 100 tấn, con tàu hiện đại đầu tiên

của ngành đường biển nước ta, đảm nhận chở vũ khí, thuốc men, giấy mực, máy in… bí

mật từ Thái Lan về Cà Mau.

Từ năm 1954 đến 1975, đất nước bị chia cắt làm hai miền. Với hai chế độ chính trị - xã

hội và kinh tế khác nhau, ngành vận tải biển được xây dựng và phát triển theo đường lối

kinh tế và phương thức sản xuất khác nhau.

Ở miền Bắc, để thể chế hóa ngành vận tải thủy, trong đó có vận tải biển và vận tải

sông, ngày 11/8/1956, Bộ trưởng bộ Giao Thông Công Chính ( nay là Bộ GTVT) đã ban

hành quyết định số 70/ND thành lập Cục Vận Tải Thủy với chức năng quản lý các luồn

lạch sông biển, bao gồm: quản lý vận tải quốc doanh sông biển, xây dựng và quản lý các

xưởng sửa chữa và đóng tàu mới, cải tạo và hướng dẫn vận tải tư nhân. Trước đòi hỏi to

lớn của đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:” Xây dựng CNXH ở miền Bắc, đầu

tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước “, ngày 05/5/1965, Bộ GTVT ra quyết

định giải thể Cục Vận tải Đường thủy và thành lập Cục vận tải Đường biển. Đây là một

sự kiện to lớn về mặt cơ cấu tổ chức trong ngành GTVT của đất nước, đồng thời là một

bước ngoặt quan trọng, mở ra một chặng đường mới, một tiền đồ vơ cùng vẻ vang.

Từ đó, ngày 05/5 trở thành ngày truyền thống của Cục Hàng Hải Việt Nam.

Ngày 10/7/1965, Chính Phủ có quyết định số 136/CP thành lập Cục Vận Tải Đường

Biển gồm các bộ phận: đội tàu biển, hệ thống cảng biển, đại lý hàng hải, bảo đảm an tồn

hàng hải, cơng nghiệp sửa chữa cơ khí, trường đào tạo cơng nhân kỹ thuật.

Giai đoạn 1965-1975, ngành Hàng Hải đã góp phần tích cực vào cơng cuộc xây dựng

và bảo vệ miền Bắc, giảo phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đã hồn thành xuất sắc

cơng tác tiếp nhận và vận chuyển bằng đường biển hàng hóa của bạn bè quốc tế, lương

thực và vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam, nổi bật là chiến dịch vận tải VTB5,

là chiến dịch chống phong tỏa bằng đường biển của Mỹ, là cơng trình khoa học chế tạo

thiết bị rà phá thủy lơi từ tính và bom từ trường bảo đảm giao thông giai đoạn 1967-1972

( Cơng trình ngày đã được Chủ Tịch nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cùng với tập thể

các đơn vị khác vào năm 1998)



19



Để đáp ứng với sự phát triển của ngành Hàng Hải, ngày 28/11/1978, Chính Phủ ra

quyết định số 300 thành lập Tổng Cục Đường biển trực thuộc Bộ Giao Thông Vận tải “ là

tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh vận tải biển…, hoạt đông theo chế độ hạch toàn kinh

tế, bao gồm các tổ chức, liên hiệp các xí nghiệp vận tải biển, xí nghiệp liên hợp, xí

nghiệp sản xuất và sửa chữa , đại lý tàu biển Việt Nam”.

Tuy nhiên trong tình hình chung của cả nước, ngành Hàng Hải trong giai đoạn này cũng

gặp khơng ít khó khăn, đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất, đẩy mạnh đầu tư, đẩy mạnh ứng

dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, mở rộng liên doanh liên kết với các địa phương với

các ngành trong và ngoài nước.

Từ thực tiễn hoạt động, lãnh đạo Tổng Cục Đường Biển đã mạnh dạn trình bày phương

pháp kinh doanh vận tải biển tự trang trải. Bộ GTVT và Nhà Nước đã chấp nhận phương

án này. Đến ngày 14/5/1995, Hội Đồng Bộ Trưởng ( nay là Chính Phủ) ra quyết định

thành lập Liên Hiệp Hàng Hải Việt Nam. Từ đây các đơn vị thành viên đã gọi là các xí

nghiệp thành viên do Liên Hiệp quản lý điều hành theo kế hoạch của bộ.

Liên Hiệp Hàng Hải ra đời với chức năng là tổ chức sản xuất kinh doanh đồng thời được

bộ GTVT ủy quyển tham mưu giúp Bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà Nước chuyên

ngành trong phạm vi cả nước.

Năm 1990, Quốc Hội thông qua Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam, một bộ luật chuyên

ngành đầu tiên của nước ta, thể hiện tư duy quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với

ngành Hàng Hải.

Bằng nghị định 239/HĐBT ngày 29/6/1992, Cục Hàng Hải Việt Nam được thành

lập, tách hầu hết nhiệm vụ quản lý sản xuất kinh doanh, tập trung làm công tác quản lý

nhà nước chuyên ngành Hàng Hải. Năm 1993 thành lập Tổng công ty Hàng Hải Việt

Nam trực thuộc Chính Phủ, là doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ đạo trong ngành

Hàng Hải Việt Nam. Có thể nói đây là những thời điểm quan trọng về mặt tổ chắc và thể

chế của ngành Hàng Hải, thời điểm bắt đầu thốt khỏi khó khăn của thời kỳ bao cấp,

cùng cả nước đổi mới và phát triển.

Như vậy, từ năm 1993, trong hoạt động của ngành Hàng Hải đã hình thành hai tổ chức

rõ ràng về quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngày nay, công cuộc đổi

mới đất nước đang đặt ra cho ngành Hàng Hải nhiều nhiệm vụ to lớn. Toàn ngành đang

tiến lên với một quyết tâm cao, tiếp tục vững bước tiến vào thế kỷ XXI.

Thương mại quốc tế của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh trong vòng hai mươi lăm

năm trở lại đây từ khi mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là từ khi Việt

Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO).

Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế đều đặn hàng năm, tốc độ tăng trưởng kim ngạch

xuất nhập khẩu, giao thương hàng hóa cũng tăng mạnh và trong đó chủ yếu được vận tải

đường biển( chiếm 80% tổng hàng hóa vận chuyển ) là tiền để phát triển ngành đường

biển Việt Nam.

2 Các tuyến thương mại chính trong vận tải hàng hóa bằng đường biển

20



2.1 Các tuyến vận chuyển hàng khô khối lượng lớn.

Trong lưu thơng hàng hố bằng đường biển hàng khơ là một nhóm hàng cơ

bản và đã được vận chuyển từ rất lâu. Trong nhóm hàng khơ khối lượng lớn

đóng vai trò chủ yếu là quặng sắt, than, lương thực, ngun liệu phân bón.

Ngồi ra còn có đường, gỗ cây, sắt cũ,…

2.2 Các tuyến vận chuyển quặng sắt

– Trong các loại hàng khơ, quặng có khối lượng lớn vận chuyển bằng đường

biển.

– Các nước xuất quặng sắt chủ yếu là: úc, Canada, Thuỷ Điển, ấn Độ, Pháp và

một số nước thuộc Nam Mỹ.

– Các tuyến vận chuyển chủ yếu:

+ ở Châu Âu: quặng được xuất từ các nước thuộc bán đảo Scandynavơ, Biển

Đen đến các nước nằm trong lục địa. (Anh, ý).

+ ở Bắc Mỹ: quặng được vận chuyển từ các cảng của Canada trên bờ Đại Tây

Dương đến các cảng của Mỹ trên Ngũ Hồ, Anh, ý. Các cảng của Mỹ, Canada

ở bờ Thái Bình Dương lại xuất quặng sang Nhật.

+ ở Châu á: quặng được xuất từ các cảng phía Tây ấn Độ sang Tây Âu, Nhật,

ý và từ Malaixia sang Nhật.

+ Các nước Nam Mỹ cung cấp quặng cho hầu hết các lò luyện thép trên thế

giới.

+ ở Châu Phi: các cảng xuất quặng hầu hết ở phía Tây.

+ Nước xuất quặng nhiều nhất là úc chủ yếu xuất sang Nhật.

2.3 Các tuyến vận chuyển than đá

Trong số các hàng khơ, rời thì than chiếm vị trí quan trọng do sự phát triển của

cơng nghiệp và giao thông vận tải.

Tuỳ theo từng thời kỳ các nước xuất khẩu và nhập khẩu khác nhau. Các tuyến

vận chuyển cũng có sự thay đổi.

VD: Trước chiến tranh thế giới thứ 2 nước xuất khẩu than truyền thống là

Anh. (Chiếm 50% than xuất khẩu của thế giới). Sau chiến tranh, do khủng

hoảng than nên khối lượng xuất than của Anh giảm đi nhiều.

Những năm 1960 sản lượng than xuất của úC tăng lên một cách nhanh chóng.

Hiện nay Mỹ là nước xuất khẩu than bằng đường biển lớn nhất thế giới (40%),

thứ 2 là úC, thứ 3 là BaLan. Các nước nhập khẩu than là Phần Lan, Đan Mạch,

Pháp, ý, Tây Ban Nha, Đức…

2.4 Các tuyến vận chuyển lương thực

Hàng lương thực là một trong những mặt hàng rời lâu đời nhất được vận

chuyển bằng đường biển. Lương thực là loại hàng thứ 3 sau quặng và than.

Khối lượng lương thực dao động nhiều theo thời gian do ảnh hưởng của sự

buôn bán giữa các nước và thu hoạch của nước xuất khẩu.

Trước đây nước xuất khẩu nhiều nhất là Mỹ, Canada, úC, Achentina. Nhưng

trong những năm gần đây Thái Lan, Việt Nam là những nước xuất khẩu gạo

lớn. Với các nước nhập khẩu là CuBa, Philippin, ấn Độ và các nước thuộc

Liên Xô cũ,…

21



2.5 Các tuyến vận chuyển nguyên liệu phân bón

– Các tuyến vận chuyển nguyên liệu phân bón:

+ Từ Marốc sang các nước ở Tây Âu (Phốt phát: chiếm khoảng 35% khối

lượng hàng)

+ Từ Marốc sang các nước khu vực Địa Trung Hải (28%)

+ Từ Mỹ sang các cảng Tây Âu (30% )

+ Từ Mỹ sang các nước khu vực ĐTH (6%)

+ Từ Mỹ sang Nhật (17%)

– Các tuyến vận chuyển quặng nhôm:

Trên 80% sản lượng khai thác tại úc, Jamaica, Guam. Các nước tiêu thụ nhiều

là Mỹ, Canada, Đức, Pháp, Nhật và các quốc gia thuộc Liên Xô cũ.

– Các tuyến vận chuyển quặng Mangan

Sản lượng mangan hầu như tập trung ở 5 nước: Các quốc gia thuộc Liên Xô

cũ, Brazin, Nam Phi, ấn Độ, Tây Phi.

2.6 Các tuyến vận chuyển hàng lỏng

Hàng hoá ở thể lỏng hiện nay chiếm khoảng 50% khối lượng hàng vận chuyển

bằng đường biển quan trọng nhất là dầu và sản phẩm dầu với các tuyến thay

đổi theo từng thời kỳ.

Trước đây nếu xét về dầu và sản phẩm của nó ta thấy 40% khối lượng dầu của

thế giới được khai thác ở vùng Trung Đông. 22% Bắc Mỹ, 15% Liên Xô cũ,

10% ở Châu Nam Mỹ và Châu Phi.

Hiện nay các nước xuất khẩu dầu chủ yếu là vùng Trung Đông với một nửa số

dầu xuất sang Châu Âu, 1/5 số dầu của các nước vùng vịnh Péc xích xuất sang

Nhật Bản. Ngồi ra các nước phía Bắc và Tây Phi, Canada, Indonexia xuất với

khối lượng nhỏ hơn,..

Ngoài dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ còn có các mặt hàng lỏng khác như nước

ngọt, lưu huỳnh, dầu thực vật. Nhưng khối lượng không lớn lắm và lẻ tẻ được

vận chuyển bằng tàu dầu.

VD: vận chuyển mêtan lỏng chạy chủ yếu trên tuyến từ Vịnh Ba Tư và Bắc

Phi sang Anh và Pháp.



2.7Các tuyến vận chuyển hàng bách hoá

2.7.1

Đặc điểm chung

Gồm nhiều loại hàng thơng thường có đặc điểm:

– Được vận chuyển bằng các loại tàu theo các tuyến tàu chợ (liner)

– Hàng bách hố là những loại hàng có giá trị cao.

– Hàng bách hố có hình dạng, kích thước, bao gói, tiêu chuyển, yêu cầu bảo

quản rất khác nhau.

2.7.2

Các tuyến vận chuyển cố định trên thế giới

– Các tuyến vận chuyển hàng bách hoá trùng hợp với các tuyến vận chuyển cố

định (Liner) tập trung chủ yếu ở Tây Âu từ đó toả đi khắp các lục địa trên thế

giới chủ yếu là đến vùng kinh tế phát triển. Đặc biệt tới Mỹ, Nhật là những

vùng có trung tâm buôn bán lớn.

22



+ Tuyến Tây Âu – Mỹ – Canada

+ Tuyến Châu Âu – Nam Mỹ

+ Tuyến Châu Âu – Mỹ – Nhật, Indonexia

+ Tuyến Nhật – Mỹ – Canada

+ Tuyến Tây Âu – Châu Phi

+ Tuyến Châu Âu – úc, Niudilân.

+ Tuyến Viễn Đông – Vùng ấn Độ Dương.

-Năm 1966 các tuyến Liner được phân ra vận chuyển container gồm 9 tuyến

phát triển nhất là Tây Âu – Bắc Mỹ.

-Từ năm 1970 là các tuyến Container mới mở:

– Tây Âu, Bắc Âu – Mỹ

– Mỹ (Bờ TBD) – Nhật, Philippin, Malai

– úc, Niudilân – Vịnh Mêxicô

– úc, Niudilân – Mỹ, Canada

– Từ năm 1971 tuyến Container Tây Âu – Viễn Đông với sự chuyển tải bằng

đường sắt qua được được đưa vào khai thác.

– Cuối năm 1960 xuất hiện phương thức vận chuyển hàng bách hoá theo kiểu

tàu chở xà lan. Tuyến phát triển nhất là Bắc Mỹ – Tây Âu, ĐTH, Nhật, úc,

Philippin, Indonexia.



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Đặc điểm của làm việc nhóm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×