Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN

CHƯƠNG 3: CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngày 13/11/1945, Bộ Giao Thơng Cơng Chính đã quyết định thành lập ủy ban quản lý

thương thuyền, có trách nhiệm quản lý ngành vận tải biển trong cả nước: “ Phụ trách việc

đi lại trên sông, biển, xem xét, kiểm tra tàu thuyển, thi hành luật pháp trên tàu, sông, thu

thuế, xét xử những vụ tranh chấp chủ tàu và cơng nhân”. Sau đó, nhiệm vụ trọng tâm của

ngành GTVT nói chung, vận tải thủy nói riêng tập trung phục vụ cho cuộc kháng chiến

chống Pháp của dân tộc.

Đầu tháng 4/1947, ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam đã thành lập hàng hải

Nam Bộ để tăng cường công tác vận tải trên biển – con đường duy nhất có thể vận

chuyển một số lượng lớn vũ khí và hàng hóa đảm bảo cho cuộc kháng chiến ở miền Nam.

Năm 1949, ta mua thêm một tàu Sông Lô, trọng tải 100 tấn, con tàu hiện đại đầu tiên

của ngành đường biển nước ta, đảm nhận chở vũ khí, thuốc men, giấy mực, máy in… bí

mật từ Thái Lan về Cà Mau.

Từ năm 1954 đến 1975, đất nước bị chia cắt làm hai miền. Với hai chế độ chính trị - xã

hội và kinh tế khác nhau, ngành vận tải biển được xây dựng và phát triển theo đường lối

kinh tế và phương thức sản xuất khác nhau.

Ở miền Bắc, để thể chế hóa ngành vận tải thủy, trong đó có vận tải biển và vận tải

sông, ngày 11/8/1956, Bộ trưởng bộ Giao Thơng Cơng Chính ( nay là Bộ GTVT) đã ban

hành quyết định số 70/ND thành lập Cục Vận Tải Thủy với chức năng quản lý các luồn

lạch sông biển, bao gồm: quản lý vận tải quốc doanh sông biển, xây dựng và quản lý các

xưởng sửa chữa và đóng tàu mới, cải tạo và hướng dẫn vận tải tư nhân. Trước đòi hỏi to

lớn của đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:” Xây dựng CNXH ở miền Bắc, đầu

tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước “, ngày 05/5/1965, Bộ GTVT ra quyết

định giải thể Cục Vận tải Đường thủy và thành lập Cục vận tải Đường biển. Đây là một

sự kiện to lớn về mặt cơ cấu tổ chức trong ngành GTVT của đất nước, đồng thời là một

bước ngoặt quan trọng, mở ra một chặng đường mới, một tiền đồ vô cùng vẻ vang.

Từ đó, ngày 05/5 trở thành ngày truyền thống của Cục Hàng Hải Việt Nam.

Ngày 10/7/1965, Chính Phủ có quyết định số 136/CP thành lập Cục Vận Tải Đường

Biển gồm các bộ phận: đội tàu biển, hệ thống cảng biển, đại lý hàng hải, bảo đảm an tồn

hàng hải, cơng nghiệp sửa chữa cơ khí, trường đào tạo cơng nhân kỹ thuật.

Giai đoạn 1965-1975, ngành Hàng Hải đã góp phần tích cực vào cơng cuộc xây dựng

và bảo vệ miền Bắc, giảo phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đã hồn thành xuất sắc

cơng tác tiếp nhận và vận chuyển bằng đường biển hàng hóa của bạn bè quốc tế, lương

thực và vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam, nổi bật là chiến dịch vận tải VTB5,

là chiến dịch chống phong tỏa bằng đường biển của Mỹ, là cơng trình khoa học chế tạo

thiết bị rà phá thủy lơi từ tính và bom từ trường bảo đảm giao thơng giai đoạn 1967-1972

( Cơng trình ngày đã được Chủ Tịch nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cùng với tập thể

các đơn vị khác vào năm 1998)



19



Để đáp ứng với sự phát triển của ngành Hàng Hải, ngày 28/11/1978, Chính Phủ ra

quyết định số 300 thành lập Tổng Cục Đường biển trực thuộc Bộ Giao Thông Vận tải “ là

tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh vận tải biển…, hoạt đơng theo chế độ hạch tồn kinh

tế, bao gồm các tổ chức, liên hiệp các xí nghiệp vận tải biển, xí nghiệp liên hợp, xí

nghiệp sản xuất và sửa chữa , đại lý tàu biển Việt Nam”.

Tuy nhiên trong tình hình chung của cả nước, ngành Hàng Hải trong giai đoạn này cũng

gặp khơng ít khó khăn, đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất, đẩy mạnh đầu tư, đẩy mạnh ứng

dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, mở rộng liên doanh liên kết với các địa phương với

các ngành trong và ngoài nước.

Từ thực tiễn hoạt động, lãnh đạo Tổng Cục Đường Biển đã mạnh dạn trình bày phương

pháp kinh doanh vận tải biển tự trang trải. Bộ GTVT và Nhà Nước đã chấp nhận phương

án này. Đến ngày 14/5/1995, Hội Đồng Bộ Trưởng ( nay là Chính Phủ) ra quyết định

thành lập Liên Hiệp Hàng Hải Việt Nam. Từ đây các đơn vị thành viên đã gọi là các xí

nghiệp thành viên do Liên Hiệp quản lý điều hành theo kế hoạch của bộ.

Liên Hiệp Hàng Hải ra đời với chức năng là tổ chức sản xuất kinh doanh đồng thời được

bộ GTVT ủy quyển tham mưu giúp Bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà Nước chuyên

ngành trong phạm vi cả nước.

Năm 1990, Quốc Hội thông qua Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam, một bộ luật chuyên

ngành đầu tiên của nước ta, thể hiện tư duy quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với

ngành Hàng Hải.

Bằng nghị định 239/HĐBT ngày 29/6/1992, Cục Hàng Hải Việt Nam được thành

lập, tách hầu hết nhiệm vụ quản lý sản xuất kinh doanh, tập trung làm công tác quản lý

nhà nước chuyên ngành Hàng Hải. Năm 1993 thành lập Tổng công ty Hàng Hải Việt

Nam trực thuộc Chính Phủ, là doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ đạo trong ngành

Hàng Hải Việt Nam. Có thể nói đây là những thời điểm quan trọng về mặt tổ chắc và thể

chế của ngành Hàng Hải, thời điểm bắt đầu thốt khỏi khó khăn của thời kỳ bao cấp,

cùng cả nước đổi mới và phát triển.

Như vậy, từ năm 1993, trong hoạt động của ngành Hàng Hải đã hình thành hai tổ chức

rõ ràng về quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngày nay, công cuộc đổi

mới đất nước đang đặt ra cho ngành Hàng Hải nhiều nhiệm vụ to lớn. Toàn ngành đang

tiến lên với một quyết tâm cao, tiếp tục vững bước tiến vào thế kỷ XXI.

Thương mại quốc tế của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh trong vòng hai mươi lăm

năm trở lại đây từ khi mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là từ khi Việt

Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO).

Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế đều đặn hàng năm, tốc độ tăng trưởng kim ngạch

xuất nhập khẩu, giao thương hàng hóa cũng tăng mạnh và trong đó chủ yếu được vận tải

đường biển( chiếm 80% tổng hàng hóa vận chuyển ) là tiền để phát triển ngành đường

biển Việt Nam.

2 Các tuyến thương mại chính trong vận tải hàng hóa bằng đường biển

20



2.1 Các tuyến vận chuyển hàng khơ khối lượng lớn.

Trong lưu thơng hàng hố bằng đường biển hàng khơ là một nhóm hàng cơ

bản và đã được vận chuyển từ rất lâu. Trong nhóm hàng khơ khối lượng lớn

đóng vai trò chủ yếu là quặng sắt, than, lương thực, ngun liệu phân bón.

Ngồi ra còn có đường, gỗ cây, sắt cũ,…

2.2 Các tuyến vận chuyển quặng sắt

– Trong các loại hàng khơ, quặng có khối lượng lớn vận chuyển bằng đường

biển.

– Các nước xuất quặng sắt chủ yếu là: úc, Canada, Thuỷ Điển, ấn Độ, Pháp và

một số nước thuộc Nam Mỹ.

– Các tuyến vận chuyển chủ yếu:

+ ở Châu Âu: quặng được xuất từ các nước thuộc bán đảo Scandynavơ, Biển

Đen đến các nước nằm trong lục địa. (Anh, ý).

+ ở Bắc Mỹ: quặng được vận chuyển từ các cảng của Canada trên bờ Đại Tây

Dương đến các cảng của Mỹ trên Ngũ Hồ, Anh, ý. Các cảng của Mỹ, Canada

ở bờ Thái Bình Dương lại xuất quặng sang Nhật.

+ ở Châu á: quặng được xuất từ các cảng phía Tây ấn Độ sang Tây Âu, Nhật,

ý và từ Malaixia sang Nhật.

+ Các nước Nam Mỹ cung cấp quặng cho hầu hết các lò luyện thép trên thế

giới.

+ ở Châu Phi: các cảng xuất quặng hầu hết ở phía Tây.

+ Nước xuất quặng nhiều nhất là úc chủ yếu xuất sang Nhật.

2.3 Các tuyến vận chuyển than đá

Trong số các hàng khô, rời thì than chiếm vị trí quan trọng do sự phát triển của

công nghiệp và giao thông vận tải.

Tuỳ theo từng thời kỳ các nước xuất khẩu và nhập khẩu khác nhau. Các tuyến

vận chuyển cũng có sự thay đổi.

VD: Trước chiến tranh thế giới thứ 2 nước xuất khẩu than truyền thống là

Anh. (Chiếm 50% than xuất khẩu của thế giới). Sau chiến tranh, do khủng

hoảng than nên khối lượng xuất than của Anh giảm đi nhiều.

Những năm 1960 sản lượng than xuất của úC tăng lên một cách nhanh chóng.

Hiện nay Mỹ là nước xuất khẩu than bằng đường biển lớn nhất thế giới (40%),

thứ 2 là úC, thứ 3 là BaLan. Các nước nhập khẩu than là Phần Lan, Đan Mạch,

Pháp, ý, Tây Ban Nha, Đức…

2.4 Các tuyến vận chuyển lương thực

Hàng lương thực là một trong những mặt hàng rời lâu đời nhất được vận

chuyển bằng đường biển. Lương thực là loại hàng thứ 3 sau quặng và than.

Khối lượng lương thực dao động nhiều theo thời gian do ảnh hưởng của sự

buôn bán giữa các nước và thu hoạch của nước xuất khẩu.

Trước đây nước xuất khẩu nhiều nhất là Mỹ, Canada, úC, Achentina. Nhưng

trong những năm gần đây Thái Lan, Việt Nam là những nước xuất khẩu gạo

lớn. Với các nước nhập khẩu là CuBa, Philippin, ấn Độ và các nước thuộc

Liên Xô cũ,…

21



2.5 Các tuyến vận chuyển nguyên liệu phân bón

– Các tuyến vận chuyển nguyên liệu phân bón:

+ Từ Marốc sang các nước ở Tây Âu (Phốt phát: chiếm khoảng 35% khối

lượng hàng)

+ Từ Marốc sang các nước khu vực Địa Trung Hải (28%)

+ Từ Mỹ sang các cảng Tây Âu (30% )

+ Từ Mỹ sang các nước khu vực ĐTH (6%)

+ Từ Mỹ sang Nhật (17%)

– Các tuyến vận chuyển quặng nhôm:

Trên 80% sản lượng khai thác tại úc, Jamaica, Guam. Các nước tiêu thụ nhiều

là Mỹ, Canada, Đức, Pháp, Nhật và các quốc gia thuộc Liên Xô cũ.

– Các tuyến vận chuyển quặng Mangan

Sản lượng mangan hầu như tập trung ở 5 nước: Các quốc gia thuộc Liên Xô

cũ, Brazin, Nam Phi, ấn Độ, Tây Phi.

2.6 Các tuyến vận chuyển hàng lỏng

Hàng hoá ở thể lỏng hiện nay chiếm khoảng 50% khối lượng hàng vận chuyển

bằng đường biển quan trọng nhất là dầu và sản phẩm dầu với các tuyến thay

đổi theo từng thời kỳ.

Trước đây nếu xét về dầu và sản phẩm của nó ta thấy 40% khối lượng dầu của

thế giới được khai thác ở vùng Trung Đông. 22% Bắc Mỹ, 15% Liên Xô cũ,

10% ở Châu Nam Mỹ và Châu Phi.

Hiện nay các nước xuất khẩu dầu chủ yếu là vùng Trung Đông với một nửa số

dầu xuất sang Châu Âu, 1/5 số dầu của các nước vùng vịnh Péc xích xuất sang

Nhật Bản. Ngồi ra các nước phía Bắc và Tây Phi, Canada, Indonexia xuất với

khối lượng nhỏ hơn,..

Ngồi dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ còn có các mặt hàng lỏng khác như nước

ngọt, lưu huỳnh, dầu thực vật. Nhưng khối lượng không lớn lắm và lẻ tẻ được

vận chuyển bằng tàu dầu.

VD: vận chuyển mêtan lỏng chạy chủ yếu trên tuyến từ Vịnh Ba Tư và Bắc

Phi sang Anh và Pháp.



2.7Các tuyến vận chuyển hàng bách hố

2.7.1

Đặc điểm chung

Gồm nhiều loại hàng thơng thường có đặc điểm:

– Được vận chuyển bằng các loại tàu theo các tuyến tàu chợ (liner)

– Hàng bách hoá là những loại hàng có giá trị cao.

– Hàng bách hố có hình dạng, kích thước, bao gói, tiêu chuyển, u cầu bảo

quản rất khác nhau.

2.7.2

Các tuyến vận chuyển cố định trên thế giới

– Các tuyến vận chuyển hàng bách hoá trùng hợp với các tuyến vận chuyển cố

định (Liner) tập trung chủ yếu ở Tây Âu từ đó toả đi khắp các lục địa trên thế

giới chủ yếu là đến vùng kinh tế phát triển. Đặc biệt tới Mỹ, Nhật là những

vùng có trung tâm bn bán lớn.

22



+ Tuyến Tây Âu – Mỹ – Canada

+ Tuyến Châu Âu – Nam Mỹ

+ Tuyến Châu Âu – Mỹ – Nhật, Indonexia

+ Tuyến Nhật – Mỹ – Canada

+ Tuyến Tây Âu – Châu Phi

+ Tuyến Châu Âu – úc, Niudilân.

+ Tuyến Viễn Đông – Vùng ấn Độ Dương.

-Năm 1966 các tuyến Liner được phân ra vận chuyển container gồm 9 tuyến

phát triển nhất là Tây Âu – Bắc Mỹ.

-Từ năm 1970 là các tuyến Container mới mở:

– Tây Âu, Bắc Âu – Mỹ

– Mỹ (Bờ TBD) – Nhật, Philippin, Malai

– úc, Niudilân – Vịnh Mêxicô

– úc, Niudilân – Mỹ, Canada

– Từ năm 1971 tuyến Container Tây Âu – Viễn Đông với sự chuyển tải bằng

đường sắt qua được được đưa vào khai thác.

– Cuối năm 1960 xuất hiện phương thức vận chuyển hàng bách hoá theo kiểu

tàu chở xà lan. Tuyến phát triển nhất là Bắc Mỹ – Tây Âu, ĐTH, Nhật, úc,

Philippin, Indonexia.



23



KẾT LUẬN



Vận tải là huyết mạch của nền kinh tế, vận tải phát triển sẽ thúc đẩy các ngành kinh

tế khác phát triển theo. Trong thời đại tồn cầu hố hiện nay vận tải đóng vai trò rất quan

trọng, nhất là vận tải biển. Vận tải liên kết các nền kinh tế, rút ngắn khoảng cách về

không gian địa lý, nhằm giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, thúc đẩy thương mại

phát triển, làm lợi cho cả người sản xuất và tiêu dùng. Trong thương mại quốc tế thì vận

tải biển đóng vai trò đặc biệt quan trọng, khoảng 80% hàng hoá xuất nhập khẩu được vận

chuyển bằng đường biển, đó là do đặc thù ngành vận tải biển tạo ra lợi thế cho mình, như

phạm vi vận tải rộng, sức chuyên chở lớn và chi phí vận chuyển thấp.Do vậy ngành vận

tải biển trở thành ngành kinh doanh dịch vụ rất tiềm năng. Việt Nam với những lợi thế

lớn để phát triển hình thức vận tải biển như vị trí địa lý có bờ biển dài và có nhiều cảng

biển lớn nhỏ.Trong những năm gần đây ngành vận tải biển của Việt Nam không ngừng

phát triển và vươn xa, đóng góp khơng nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế đất

nước.Bên cạnh đó, ngành vận tải biển Việt nam còn nhiều tồn tại cần giải quyết. Để

ngành vận tải biển phát triển thuận lợi, đó là những bài tốn khó khăn đặt ra cho nhà quản

lý. Những năm qua, đặc biệt từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa , ngành vận tải

biển Việt Nam đã và đang phát triển nhanh chóng, thị trường vận tải biển Việt Nam đang

dần dần mở rộng theo nhịp độ chung của xu thế thương mại khu vực và toàn cầu Sự

nghiệp đổi mới, chính sách mở cửa, hồ nhập của Việt Nam với cộng đồng quốc tế đã tạo

điều kiện cho khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng với tốc độ nhanh.

Tồn cầu hố khu vực đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan

hệ quốc tế hiện đại. Xu thế này sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong thời gian tới. Các nước

đặc biệt là các nước đang phát triển ngày càng áp dụng chính sách mở cửa và tự do hố

thương mại đầu tư và tài chính. Trong bối cảnh đó bất cứ nước nào cũng phải nỗ lực hội

nhập vào xu thế chung, điều chỉnh chính sách, giảm dần hàng rào thuế quan và dỡ bỏ

hàng rào phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển vốn, lao động, công

nghệ và kỹ thuật trên phạm vi tồn thế giới ngày càng thơng thống hơn. Việt nam không

thể không theo xu hướng này. Trong điều kiện đó, mức độ quốc tế hố các ngành sản xuất

và dịch vụ ngày càng tăng, thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, giữa các quốc gia

trong lĩnh vực kinh tế ngày càng gay gắt hơn. Đất nước mở cửa hội nhập với khu vực và

thế giới cùng với nền kinh tế phát triển, xuất nhập khẩu tăng đã tạo điều kiện cho hàng

loạt những hãng tàu lớn quốc tế có mặt tại thị trường Việt Nam cạnh tranh với nhau, với

ngành hàng hải Việt Nam còn non yếu. Trong khi đó, chúng ta lại chưa có một đề tài

nghiên cứu một cách toàn diện về năng lực cạnh tranh của ngành hàng hải Việt Nam để

từ đó đưa ra các giải pháp khả thi, đáp ứng điều kiện kinh tế của đất nước đảm bảo khả

năng cạnh tranh của ngành hàng hải Việt Nam trong điều kiện mới.



24



25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×