Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số khái niệm cơ bản về vị trí, vai trò của người giáo viên chủ nhiệm

Một số khái niệm cơ bản về vị trí, vai trò của người giáo viên chủ nhiệm

Tải bản đầy đủ - 0trang

thời gian nếu không vi phạm quy tắc của tổ chức. Ví dụ, một vị chủ tịch nước, thủ

tướng chính phủ, chủ tịch quốc hội sẽ đảm nhiệm vị trí ấy trong vòng năm năm đến

khi kết thúc nhiệm kỳ, nếu người đó mong muốn được tiếp tục đóng góp thì một lần

nữa họ sẽ phải tự ra ứng cử và có thể được tái bổ nhiệm. Trường học là một cấu trúc

hành chính – sư phạm đặc thù, là một tổ chức xã hội chặt chẽ có các bộ phận từ nhỏ

đến lớn; các bộ phận lớn có quyền hành chi phối và điều khiển hoạt động của các

thành phần nhỏ hơn và ở mỗi đơn vị sẽ có những người đảm nhiệm những vị trí nào đó

để quản lý và thực thi nhiệm vụ trong một giới hạn quyền hành nhất định. Trong

trường học, một giáo viên có thể đảm nhận các vị trí, có thể là một, hai hoặc nhiều vị

trí khác nhau. Ví dụ, hiệu trưởng là người có vị trí và quyền hành quản lý cao nhất

trong một trường; vị trí trưởng khoa dùng để chỉ người có nhiệm vụ điều hành hoạt

động của một khoa; vị trí giáo viên đơn thuần là những người trực tiếp giảng dạy các

mơn học trong chương trình giáo dục; hoặc vừa là giáo viên, các thầy cô vừa phải dạy

học, vừa phải đảm nhận thêm vị trí cơng tác chủ nhiệm lớp. Ở tiểu học, thầy cô làm

công tác chủ nhiệm phải gắn bó lâu dài với học sinh và lặp lại chu kỳ ấy sau một năm.

Trong suốt năm học ấy, thầy cô và học sinh được tiếp xúc với nhau liên tục để hiểu

nhau hơn. Vì thế đơi khi giáo viên chủ nhiệm có thể nắm bắt được hầu hết đặc điểm

tâm lý của từng đứa trẻ hơn là cha mẹ của chúng và khi ấy thầy cơ chủ nhiệm trong

lòng các em cũng sẽ chiếm một vị trí khơng kém phần quan trọng. Thơng thường, vị trí

chủ nhiệm một lớp học sẽ được hiệu trưởng và hội đồng sư phạm của trường đề cử khi

người giáo viên ấy hội tụ đủ các yếu tố về năng lực và phẩm chất xứng đáng để có thể

đưa tập thể lớp ngày càng đi lên.

Cùng với vị trí, vai trò cũng là danh từ dùng để chỉ “tác dụng, chức năng của ai hoặc

cái gì trong hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức” [2]. Khi đảm

nhiệm một vị trí cũng đồng nghĩa với việc người đó sẽ đóng một vai trò, một chức

năng nào đấy. Trong tổ chức không thể tồn tại tình trạng được bổ nhiệm vị trí mà

khơng thực hiện một sứ mệnh nào cả. Vai trò thường được phản ánh theo tên gọi của vị

trí. Ví dụ, giáo viên chủ nhiệm sẽ được chiết tự và giải nghĩa là “người giáo viên được

cấp trên bổ nhiệm sẽ là người đứng đầu, làm chủ một lớp và có vai trò, nhiệm vụ tổ

chức, quản lý, điều khiển lớp học đó sao cho tổ chức ấy tiến bộ”; hay cố vấn học tập là

“người có vai trò hướng dẫn, đưa ra lời khuyên với những vấn đề liên quan đến học

tập và rèn luyện của học sinh”. Vai trò cũng chính là trách nhiệm cần phải thực hiện

mà khơng thể thối thác. Người thực hiện tốt vai trò của mình trong một tổ chức sẽ

góp phần nâng cao uy tín của bản thân và thúc đẩy sự phát triển về chất lượng, hiệu

quả làm việc chung của cả tổ chức, tập thể.

Khái niệm vị trí và vai trò thường đi song hành với nhau vì tính biện chứng giữa

chúng nên khó có thể tách bạch. Vị trí càng cao thì vai trò càng nặng nề; ngược lại,

người làm tốt vai trò thì vị trí ấy là hồn tồn xứng đáng. Người lạm dụng vị trí hoặc

vượt quá quyền hạn sẽ bị xử lý theo nội quy, luật lệ của tổ chức, tập thể. Một người

giáo viên chủ nhiệm ở tiểu học sẽ có những vị trí và vai trò nhất định. Một số vị trí, vai

trò của người giáo viên tiểu học thường được nhắc đến như: giáo viên chủ nhiệm là

người thay mặt hiệu trưởng quản lí một lớp học; giáo viên chủ nhiệm là người xây

dựng tập thể học sinh thành một khối đoàn kết; họ là người tổ chức các hoạt động giáo

3



dục học sinh trong lớp; là cố vấn đắc lực cho các đoàn thể của học sinh trong lớp; và là

người giữ vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với các lực lượng giáo dục. Những vấn

đề này sẽ được bàn luận kỹ càng hơn ở phần sau.

1.2. Vài nét về người giáo viên tiểu học và công tác chủ nhiệm lớp

1.2.1. Giáo viên tiểu học – những nhà giáo dục đặc biệt

Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục, bậc học xây dựng những nền

móng tri thức ban đầu và là cơ sở bền vững cho trẻ tiếp tục học lên những cấp học cao

hơn, đồng thời nó góp phần khai sinh ra những đường nét cơ bản trong nhân cách của

mỗi đứa trẻ. Bậc tiểu học là một trong những cấp học quan trọng nhất trong cả tiến

trình xã hội hóa con người của q trình giáo dục. Ở nước ngoài, bậc tiểu học được

đánh giá cao và giáo viên phần đa được tuyển chọn là những thạc sĩ Giáo dục học tiểu

học. Do vậy giáo dục ở bậc tiểu học có tính chất đặc thù, có bản sắc riêng với tính sư

phạm đặc trưng. Người giáo viên tiểu học trước hết phải là nhà giáo dục, có tác động

tích cực đến học sinh thơng qua bản thân nhân cách của mình. Bản thân nhân cách của

người giáo viên có vai trò như một năng lực tổng hợp. Bên cạnh đó người giáo viên

cần có những năng lực nghề nghiệp mới kết hợp với những năng lực truyền thống. Có

thể liệt kê ra đây một vài năng lực cần được hình thành ở người giáo viên tiểu học như:

Một là, năng lực chẩn đoán. Tức là năng lực phát hiện và nhận biết đầy đủ, chính

xác và kịp thời sự phát triển của học sinh, những nhu cầu được giáo dục của từng học

sinh. Đối với giáo viên tiểu học đây là năng lực đặc biệt quan trọng vì sự phát triển về

các mặt của học sinh ở lứa tuổi tiểu học diễn ra rất nhanh, nhưng lại khơng đồng đều.

Hai là, năng lực đáp ứng. Đó là năng lực đưa ra được những nội dung và biện pháp

giáo dục đúng đắn, kịp thời, phù hợp với nhu cầu của người học và yêu cầu của mục

tiêu giáo dục.

Ba là, năng lực đánh giá. Đó là năng lực nhìn nhận sự thay đổi trong nhận thức, kỹ

năng thái độ và tình cảm của học sinh. Năng lực đánh giá giúp giáo viên nhìn nhận

tính đúng đắn của chuẩn đoán và đáp ứng.

Bốn là, năng lực thiết lập mối quan hệ thuận lợi với người khác như quan hệ đồng

nghiệp, quan hệ với phụ huynh học sinh và nhất là quan hệ với học sinh.

Năm là, năng lực triển khai chương trình dạy học. Đó là năng lực tiến hành dạy học

và giáo dục, tuy cần phải căn cứ vào mục đích và nội dung giáo dục, dạy học đã được

quy định nhưng lại phải phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng.

Sáu là, năng lực đáp ứng với trách nhiệm xã hội. Đó là năng lực tạo nên những điều

kiện thuận lợi cho giáo dục trong nhà trường và từ cuộc sống bên ngồi nhà trường.

Tóm lại, giáo viên tiểu học không chỉ là giáo viên đứng lớp hằng ngày mà còn bao

gồm cả những người làm cơng tác quản lý như hiệu trưởng, phó hiệu trưởng. Giáo

viên tiểu học đều là những người được đào tạo vững vàng về chuyên môn, được trang

bị kỹ càng và đầy đủ năng lực, phẩm chất khi còn là những giáo sinh ở các trường đại

học và cao đẳng trước khi trở thành những nhà sư phạm đặc biệt. Có thể nói, giáo viên

4



tiểu học phải là những chuyên gia tâm lý đầy bản lĩnh về giai đoạn lứa tuổi tiểu học vì

việc dạy học ở cấp này là cả một nghệ thuật và gian truân.

1.2.2. Khái niệm “công tác quản lý”

Trong quá trình hình thành và phát triển, con người muốn tồn tại và trưởng thành

cần có sự phối hợp với nhau trong một nhóm, một tổ chức. Khi ấy, một nhu cầu tất yếu

nẩy nở trong quá trình tổ chức, điều khiển hoạt động của tập thể là cần có sự nhất quán

và ổn định. Từ đó xuất hiện một loại hình lao động mới, hoạt động quản lý. Quản lý là

một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con

người. Quản lý bao trùm mọi mặt đời sống xã hội và là nhân tố không thể thiếu trong

sự phát triển của xã hội. Ngày nay, quản lý đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật,

một nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại.

Khái niệm quản lý là khái niệm rất chung, rất tổng quát. Nó dùng cho cả quá trình

quản lý xã hội, quản lý vật chất, quản lý giới sinh vật… trong quản lý xã hội có nhiều

lĩnh vực quản lý như quản lý sản xuất, kinh tế, quản lý hành chính, quản lý giáo dục…

Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Khái niệm quản lý được định nghĩa theo

nhiều cách khác nhau trên cơ sở của những cách tiếp cận đa chiều. Theo Đại từ điển

tiếng Việt: “quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan”.

[3] Harold Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối

hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi

nhà quản lý là nhằm hình thành một mơi trường mà trong đó con người có thể đạt

được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít

nhất” [4]. Hoặc tác giả Trần Kiểm cũng có định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục

đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình

lao động” [5]. Tác giả Bùi Minh Hiển, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo cho rằng: “quản

lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý

nhằm đạt mục tiêu đề ra”. [6]

Qua các khái niệm quản lý trên đây, tuy có sự dị biệt ở một chừng mực nào đó

nhưng chúng ta vẫn có thể tìm ra một mẫu số chung bao gồm: một là, quản lý là hoạt

động để điều khiển lao động, điều phối hoạt động khác của nhóm hay tập thể. Hai là,

yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động bởi trong quản lý bao giờ cũng

có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, chúng quan hệ với nhau bằng những tác động.

Những tác động quản lý chính là những quyết định, những nội dung của chủ thể quản

lý yêu cầu đối với đối tượng được quản lý. Qua đó, cả chủ thể quản lý và đối tượng

được quản lý đều phát triển. Ba là, quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của một

quá trình lao động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện tiên quyết làm cho xã hội loài

người tồn tại và phát triển. Bốn là, quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương

diện. Điều đó cũng xác lập rằng quản lý phải có một cấu trúc và vận hành trong một

môi trường xác định. Trong cấu trúc đó, ba thành tố: mục tiêu, chủ thể, khách thể quan

hệ chặt chẽ với nhau tạo nên hoạt động của bộ máy. Trong nhà trường, quản lý là cơng

việc của ban giám hiệu như hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng…hay gần gũi hơn,

công tác chủ nhiệm lớp cũng được xem là một loại hình quản lý trong đó giáo viên là

chủ thể tổ chức, điều khiển và tập thể học sinh là khách thể được quản lý.

5



1.2.3. Công tác chủ nhiệm lớp ở bậc tiểu học – một loại hình quản lý

Cơng tác chủ nhiệm lớp là một hoạt động quản lý của giáo viên đối với tập thể học

sinh. Trong trường học, lớp học là đơn vị cơ bản được thành lập để tổ chức giảng dạy

và giáo dục học sinh. Để quản lý, giáo dục học sinh trong lớp, nhà trường phân công

một trong những giáo viên đang giảng dạy có năng lực chun mơn tốt, có kinh

nghiệm làm cơng tác quản lý, giáo dục học sinh, có tinh thần trách nhiệm cao và lòng

nhiệt tình trong cơng tác, có uy tín với học sinh và đồng nghiệp làm chủ nhiệm lớp.

Công tác chủ nhiệm ở trường tiểu học có sự khác biệt tương đối so với trường trung

học cơ sở và trung học phổ thông. Ở cấp hai ba, người giáo viên chủ nhiệm sẽ là một

trong những giáo viên trực tiếp giảng dạy một mơn học nào đó như Tốn học, Vật lý,

Hóa học, Ngữ Văn...và họ sẽ được phân bổ dạy theo tiết tương ứng với mỗi lớp học

khác nhau. Do vậy, thời gian được gặp mặt và tiếp xúc giữa giáo viên chủ nhiệm và

học sinh trong lớp thật sự chưa nhiều, chủ yếu thông qua các tiết sinh hoạt chủ nhiệm

vào cuối thứ bảy hàng tuần và tiết chào cờ đầu thứ hai. Hoạt động theo dõi tình hình

học tập và rèn luyện của tập thể học sinh được giáo viên chủ nhiệm thực hiện và nắm

bắt thông qua sổ đầu bài, hay trao đổi với các giáo viên có tiết dạy ở lớp đó hoặc thơng

qua ban cán sự lớp…Sự hạn chế về cơ hội được tiếp xúc giữa người quản lý lớp và

người được quản lý làm cho sức ảnh hưởng và chi phối của giáo viên chủ nhiệm cấp

trung học cơ sở và trung học phổ thông sẽ tạo nên kẽ hở về tình cảm và kém phần tác

động hơn so với giáo viên cấp tiểu học - là những người trực tiếp đứng lớp chủ nhiệm

hằng ngày để có thể nắm chắt mọi diễn biến về tình hình học tập của lớp mình và đề ra

biện pháp tương xứng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.

Ở đầu mỗi năm học, giáo viên chủ nhiệm lớp ở tiểu học cần phải có những hồ sơ để

thực hiện công tác chủ nhiệm như là những kế hoạch dự tính trước và dùng để theo

dõi, ghi chép tình hình học tập của lớp, bao gồm: sổ chủ nhiệm lớp; kế hoạch công tác

chủ nhiệm hàng tháng; sổ ghi các nội dung thu chi quỹ lớp và các khoản thu khác; sổ

liên lạc với gia đình học sinh; nội quy của học sinh; sổ thi đua của lớp; các văn bản

liên quan đến công tác chủ nhiệm; sổ theo dõi kết quả học tập của học sinh để phối

hợp với giáo viên dạy lớp lên kế hoạch nâng học sinh kém hoặc bồi dưỡng học sinh

giỏi, sổ điểm; giáo án lên lớp tiết chủ nhiệm và sinh hoạt dưới cờ; các bài kiểm tra

chuyên môn; các bài báo cáo, bài tập về nhà để kiểm tra; sổ họp phụ huynh học sinh,

biên bản các cuộc họp phụ huynh học sinh; sổ theo dõi các hoạt động ngoài giờ lên

lớp, chương trình phụ đạo và bồi dưỡng học sinh giỏi… tất cả được thể hiện đầy đủ và

được tổng hợp để báo cáo với tổ trưởng, hiệu trưởng của trường.

2. Bối cảnh xã hội hiện nay – những thuận lợi và khó khăn đối với cơng tác chủ

nhiệm ở tiểu học

Hiện nay Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo,

chăm lo đến việc “trồng người” vì lợi ích của đất nước. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ

XI đã xác định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn

nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền

văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển

khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư

6



cho phát triển”. Mục tiêu của giáo dục nước nhà càng cao cũng là bài tốn khó đặt ra

đối với mỗi nhà trường tiểu học và tác động trực tiếp đến hoạt động chủ nhiệm của

giáo viên. Gia đình, nhà trường và xã hội là cái kiềng ba chân trong hoạt động giáo

dục học sinh. Thế nhưng ngày nay, bên cạnh những thuận lợi của thời đại mới, thời đại

cơng nghệ 4.0, góp phần tích cực vào việc cải thiện và phát triển nền giáo dục thì xã

hội vẫn còn tồn đọng những vấn đề bất cập, ảnh hưởng xấu đến giáo dục và trực tiếp

gây khó khăn cho cơng tác chủ nhiệm học sinh của giáo viên, vì tác động xấu sẽ gây

hiệu ứng ngược so với mục tiêu giáo dục ban đầu mà mỗi người giáo viên chủ nhiệm

đã đặt ra.

2.1. Thuận lợi

Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 là cuộc cách mạng về sản xuất thông minh dựa trên

các thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,

công nghệ nano…với nền tảng là các đột phá của công nghệ số. Cuộc cách mạng công

nghệ hiện đại này đã hình thành nên khái niệm thế giới phẳng, nơi mà thông tin kiến

thức về mọi lĩnh vực dễ dàng được cập nhật và lan truyền rộng rãi, nhanh chóng.

Chính những bước tiến vượt bậc về cơng nghệ và khoa học đã tạo nên những điều kiện

thuận lợi giúp các em học sinh học tập tốt hơn. Cơ sở vật chất trường học tiện nghi,

hiện đại, quy mô; phương tiện di chuyển nhanh chóng, tiện lợi; internet và các thiết bị

cơng nghệ thơng minh như smartphone, máy tính được phổ biến khắp cả nước từ thành

thị đến nông thôn, học sinh ngồi hình thức được học trên lớp thì có thể thơng qua các

trang mạng để được học tập trực tuyến hoặc tham gia thi các cuộc thi học thuật như thi

học sinh giỏi, Olympic tiếng Anh, giải Toán trên máy tính…So với ngày trước, học

sinh ngày nay khá giỏi về những kiến thức xã hội và học tập nhờ vào các thiết bị cơng

nghệ hiện đại có thể cập nhật nhanh chóng và mang đến tri thức một cách tiện lợi đến

cho các em. Đặc biệt, giáo dục ngày nay đã nhận được sự quan tâm và ủng hộ của Nhà

nước và toàn thể xã hội, trẻ em được tự do đến trường và nạn mù chữ không còn phổ

biến như trước đây. Chính những thuận lợi ấy cũng ủng hộ và tác động tích cực đến

các hoạt động giáo dục trong đó có cơng tác chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm có thể

trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập của học sinh qua sổ liên lạc trực tuyến

hoặc đưa ra các thông báo của nhà trường đến phụ huynh và học sinh một cách nhanh

chóng. Mặc khác, giáo viên chủ nhiệm còn có thể ứng dụng các phần mền máy tính hỗ

trợ cho việc quản lý hồ sơ học sinh hoặc soạn giáo án, các tài liệu học tập…

2.2. Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi của xã hội thì khó khăn là những mặt trái không thể tránh

khỏi. Mặt trái của thời đại công nghệ mới bắt nguồn từ chính những tiện nghi về sinh

hoạt, học tập và vui chơi. Vật chất càng tiện nghi thì học sinh càng dễ bị cuốn hút bởi

những thứ không thật sự cần thiết và sao nhãng, đánh rơi những giá trị tốt đẹp. Phần

lớn trẻ có dấu hiệu lãng phí thời gian vào các trò chơi vơ bổ trên điện thoại thay vì

dành thì giờ để học tập hay tham gia các hoạt động sinh hoạt bổ ích, điều đó dẫn tới trẻ

dễ thiếu vắng sự quan tâm, cảm thông và chia sẻ với những người xung quanh mà gần

gũi nhất là cha mẹ và thầy cô. Một khi trẻ ít nói, trầm cảm thì việc quản lý và giáo dục

của giáo viên chủ nhiệm cũng gặp rất nhiều khó khăn. Mặc khác, trẻ con ngày nay có

dấu hiệu phát triển sớm về phương diện sinh lý (dậy thì sớm) hay còn được gọi là hiện

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số khái niệm cơ bản về vị trí, vai trò của người giáo viên chủ nhiệm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×