Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 -2015

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 -2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



phương. Căn cứ theo tiêu chuẩn quốc tế, nhiều chuyên gia đưa ra ước tính và

cho rằng tỷ lệ nợ cơng/GDP của Việt Nam đã vượt mức 100%.

Theo thông 1ệ quốc tế, ngưỡng nợ công tối ưu (nhằm đảm bảo nợ công là

động lực giúp tăng trưởng kinh tế) thông thường cho các nước phát triến là 90%,

các nước đang phát triển có nền tảng tốt là 60% và có nền tảng kém là 30-40%.

Vì vậy, mức ngưỡng nợ cơng/GDP được Quốc hôi đề ra 1à 65% 1à phù hợp với

thông 1ệ quốc tế; và việc vượt ngưỡng tối ưu có thể tiềm ẩn rủi ro .

2.1.2 Khó khăn trong quản lý nợ công về cơ cấu và kỳ hạn

Trước đây, nợ cơng hầu hết 1à nợ nước ngồi hay vốn vay ODA với lãi

suất từ 1% đến dưới 3%. Từ năm 2010, Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu

nhập trung bình nên nợ nước ngồi có mức độ ưu đãi giảm dần. Vì vậy, nợ cơng

dịch chuyển sang nguồn vay trong nước, tăng từ 40% năm 2011 lên 57,1% năm

2015. Cụ thể:

Về nợ nước ngồi: đạt bình qn 3 tỷ USD/năm, tương đương 11% tổng



vốn đầu tư toàn xã hội hay 17% tổng vốn đầu tư từ NSNN. Việc quản lý nguồn

vốn này còn tồn tại và hạn chế như: (i) quy trình và thủ tục quản lý chương trình

và dự án ODA còn phức tạp; và (ii) nhiều dự án chậm tiến độ, trung bình trong

những năm qua, tỷ 1ệ giải ngân vốn ODA chỉ đạt khoảng 71% tổng vốn đã ký

kết.

Về nợ công trong nước: Thực hiện chủ yếu qua phát hành trái phiếu Chính



phủ (TPCP). Về quy mô, 1ượng phát hành giai đoạn 2011-2015 đã tăng gấp 2,5

lần giai đoạn 2006-2010. Về kỳ hạn, 3 năm đầu giai đoạn, TPCP kỳ hạn ngắn ( 13 năm) chiếm khoảng 77 % khối 1ượng phát hành hàng năm. Hệ quả là, từ năm

2014, một 1ượng lớn TPCP đến hạn thanh tốn và Chính phủ đang phải liên tục

phát hành TPCP mới do NSNN khơng thể đáp ứng. Vì vậy, nhằm tránh rủi ro

trên, Quốc hội đưa ra quy định về kỳ hạn TPCP là trên 5 năm vào năm 2015,

theo đó, tỷ trọng TPCP kỳ hạn dài đã tăng lên 46%. Tuy nhiên, kỳ hạn của TPCP

gia tăng cũng gây ra bất cập cho: người mua chính có nguồn vốn huy động ngắn

hạn chiếm tỷ trọng 1ớn (khoảng 85% 1ượng phát hành 1à các ngân hàng thương



Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



mại (NHTM)); chi phí vốn của nền kinh tế có xu hướng tăng theo 1ãi suất TPCP

dài hạn.

2.1.3 Việc sử dụng nợ công còn bất cập

Hiệu quả sử dụng khơng cao: Nền kinh tế có mơ hình tăng trưởng theo

chiều rộng. Việc đầu tư dàn trải dẫn tới hiệu quả không cao, nhất 1à đầu tư công

và DNNN. Theo WB, ICOR của Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2005 1à 4,88;

giai đoạn 2006 - 2010 1ên đến 6,96 và sau 5 năm, vẫn ở mức 6,92 vào giai đoạn

2011 - 2014, chỉ đứng sau Ấn Độ 1à 7,31 tại Châu Á.

Mở rộng đầu tư công một cách ồ ạt nhưng không hiệu quả dẫn đến nợ

công tăng mạnh. Trong nhiều năm qua, Nhà nước đầu tư rất lớn cho các cơng

trình cơng cộng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng, cảng biển, sân bay, đặc khu kinh tế...

Các chuyên gia cho rằng, với tình hình tỉnh nào cũng lập kế hoạch xây dựng

cảng biển, đệ trình kế hoạch làm sân bay, tỉnh nào cũng xin làm đặc khu kinh tế,

thì đầu tư cơng dàn trải và lãng phí là điều tất yếu xảy ra. Theo Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, mỗi năm Việt Nam cần khoảng 25 tỷ USD để đầu tư cho cơ sở hạ tầng,

trong khi đó vốn huy động được hàng năm từ các nguồn của Nhà nước cũng như

của tư nhân chưa đến 16 tỷ USD, phần còn lại là phải vay nợ nước ngoài. Chi

tiêu và đầu tư nợ công kém hiệu quả đang đem lại những rủi ro đáng báo động

cho nền kinh tế. Nó khiến mức thâm hụt ngân sách của Việt Nam luôn ở mức rất

cao trong khu vực, đồng thời khiến hiệu quả đầu tư trên một đồng vốn luôn ở

mức thấp.

Công tác quản lý nợ cơng có bước tiến nhưng vẫn còn hạn chế: Trong giai

đoạn này, công tác quản lý nợ công đã được cải thiện. Tuy nhiên, việc phân bổ

mang tính chủ quan, dàn trải, hiệu quả thấp, số liệu thống kê khơng đồng nhất,

thiếu tính kịp thời đặc biệt việc quản lý ODA còn khá phức tạp.

2.2. Đánh giá hiệu quả quản lý nợ công

2.2.1. Thành tựu đạt được

Thứ nhất, thể chế chính sách về nợ đã có bước đột phá với việc Quốc hội

đó ban hành Luật quản lí nợ cơng và phê duyệt của Chính phủ về “Chiến lược



Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



nợ cơng và nợ nước ngồi của quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn năm

2030”. Nhằm khắc phục những nhược điểm về khung pháp lí quản lí nợ cơng

đang tồn tại, Luật Quản lí nợ cơng ra đời đã tạo ra những thay đổi rõ rệt. Lần

đầu tiên Việt Nam có luật điều chỉnh chuyên biệt về lĩnh vực nợ công, ghi nhận

một cách tổng thể các cơng cụ quản lí nợ cơng. Luật Quản lí nợ cơng qui định

ngun tắc Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước về nợ công từ vay, giám sát

sử dụng vốn vay đến trả nợ và đảm bảo an toàn nợ theo Chiến lược nợ dài hạn

và Chương trình quản lí nợ chung hạn. Cùng với đó, trong “Chiến lược nợ cơng

và nợ nước ngồi của quốc gia giai đoạn 2011– 2020 và tầm nhìn năm 2030” đã

đạt được bước tiến quan trọng khi quy định việc huy động vốn vay và trả nợ

phải nằm trong giới hạn các chỉ tiêu an tồn về nợ cơng, nợ Chính phủ, nợ nước

ngoài của quốc gia và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia; chuyển

đổi cơ cấu vay theo hướng tăng dần huy động vốn vay trong nước, giảm dần

mức độ vay nước ngồi và hạn chế bảo lãnh Chính phủ đồng thời Chính phủ

thống nhất việc quản lí huy động, phân bổ, trả nợ và quản lí nợ cơng, nợ nước

ngoài an toàn hiệu quả.

Thứ hai, đáp ứng được nhu cầu bổ sung vốn cho đầu tư phát triển và cân

đối NSNN, nhiều dự án cơ sở hạ tầng, các chương trình xóa đói giảm nghèo, cải

thiện mơi trường, giải quyết việc làm, an sinh xã hội, các dự án tăng trọng quốc

gia... đều được đầu tư bằng nguồn vốn vay công.

Thứ ba, các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia vẫn nằm

trong giới hạn an tồn, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia. Việc xử lí nợ q

hạn các khoản nợ cũ thơng qua Câu lạc bộ Paris, Luân Đôn…

là một thành công lớn, đưa tỷ lệ tổng số nợ nước ngoài từ mức rất cao, gần

150% GDP năm 1993 trở về mức an tồn 43,1% vào năm 2015; tạo điều kiện

khai thơng quan hệ tài chính – tín dụng với các tổ chức quốc tế và các Chính phủ

nước ngồi.

Thứ tư, các hình thức huy động vốn vay ngày càng đa dạng, linh hoạt, tạo

tiền đề cho sự hình thành và phát triển đồng bộ thị trường tài chính. Bên cạnh



Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



việc huy động vốn ưu đãi ODA, vay thương mại nước ngoài, vay qua

phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước là cơng cụ huy động vốn có hiệu quả

của nhà nước. Mặt khác, trong năm 2005, Chính phủ đã phát hành trái phiếu

quốc tế đợt 1 với tổng trị giá 750 triêu USD dành cho các dự án đóng tàu, đây là

hình thức tương đối mới ở Việt Nam. Ngoài việc trực tiếp phát hành nợ, trong

thời gian qua Chính phủ đã thực hiện cấp bảo lãnh Chính phủ cho các doanh

nghiệp vay vốn.

Thứ năm, cơ cấu đồng tiền vay đa dạng; đặc biệt những năm gần đây tỷ

giá đồng Việt Nam và đồng đô la tương đối ổn định; Nhật Bản nới lỏng chính

sách tiền tệ nên đồng yên yếu đi, chúng ta sẽ có lợi rất nhiều trong chính sách tỷ

giá, giảm thiểu rủi ro.

2.2.2.Hạn chế

Thứ nhất, chính sách sử dụng nợ công không hiệu quả. Các khoản vốn

vay chủ yếu được sử dụng trong khu vực đầu tư công, mặc dù được đầu tư vốn

rất lớn nhưng nó khơng mang lại hiệu quả biểu hiện bởi chỉ số ICOR rất cao. Sự

thiếu hiệu quả chủ yếu đến từ các doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là khu vực

được Chính phủ bảo lãnh. Các doanh nghiệp Nhà nước thường đầu tư vào các

lĩnh vực rủi ro cao như tài chính, ngân hàng, bất động sản, chứng khốn… mà

khơng chú trọng đầu tư vào lĩnh vực ngành nghề kinh doanh chính. Sự khơng

hiệu quả này đang đe dọa tính an tồn của tồn bộ hệ thống tài chính và nền kinh

tế, bởi các doanh nghiệp nhà nước đang chiếm khoảng 60% dư nợ tín dụng của

các NHTM.

Thứ hai, chưa tận dụng tối đa nguồn lực từ thì trường chứng khốn. Thị

trường thứ cấp của trái phiếu Chính phủ dường như khơng phát triển, khối lượng

giao dịch rất ít. Ngay cả khi TTCK sơi động thì khối lượng giao dịch cũng chỉ

chiếm khoảng 3 – 4% tổng giá trị giao dịch thị trường và chiếm khoảng 6 – 7%

tổng giá trị trái phiếu được niêm yết trên TTCK. Do đó tính thanh khoản của trái

phiếu Chính phủ trở nên kém đi, mặc dù đây là loại cơng cụ tài chính có độ an



Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



tồn cao nhất nhưng nó chưa thực sự giữ vai trò chủ đạo trong các giao dịch

chứng khoán.

Thứ ba, quyền hạn của các cơ quan còn chồng chéo, phân tán. Chẳng hạn,

đối với cấp Bộ, ngành: Theo Luật Quản lý nợ cơng thì Bộ Tài chính

giúp Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về nợ công (bao gồm tất cả các

khâu từ xây dựng mục tiêu, định hướng huy dộng, quản lý và sử dụng vốn vay

và quản lý nợ công). Nhưng trên thực tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lại được Chính

phủ giao cho việc huy động vốn ODA và vốn đô la. Tuy nhiên khâu huy động lại

không gắn kết với nguồn trả nợ, không gắn với mục đích sử dụng... Mặt khác,

Bộ Tài chính là đơn vị chủ trì xây dựng hạn mức vay nước ngồi, bao gồm cả

hạn mức tự vay, tự trả của doanh nghiệp nhưng điều hành cụ thể lại do NHNN.

Như vậy, rõ ràng từ kênh huy động, trả nợ, sử dụng vẫn còn chưa thống nhất với

nhau.



Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ NỢ CƠNG, THÚC ĐẨY

KINH TẾ

3.1. Ổn định chính sách tài khóa, cân đối thu chi cơng, hạn chế vay

nợ nước ngoài và đảm bảo cho thâm hụt ngân sách ở mức hợp lý

3.1.1. Quản lý chặt chẽ chi tiêu công và thâm hụt ngân sách

Cần quan tâm thực hiện thắt chặt công khố, thực hành tiết kiệm và chi

tiêu công hợp lý, thận trọng trong những dự án đầu tư quy mô lớn tiêu tốn

một lượng lớn vốn từ những khoản nợ nước ngồi, bởi hiện nay, Việt Nam

đang có quá nhiều dự án quy mô lớn, như mở rộng đô thị, xây dựng nhà máy

điện hạt nhân, đường sắt cao tốc Bắc -Nam…

3.1.2. Cân đối đầu tư cơng

Vai trò của Nhà nước trong đầu tư cần tập trung tạo động lực cho phát

triển kinh tế thị trường, xây dựng thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng. Tuy

nhiên, trong phát triển hạ tầng, xu thế của các nước là rút dần các doanh

nghiệp công hữu trong các lĩnh vực độc quyền tự nhiên như giao thơng vận

tải, bưu chính viễn thông, năng lượng... mà hướng đầu tư công sang phát

triển khoa học cơng nghệ, giáo dục, tạo đòn bẩy để chuyển dịch cơ cấu kinh

tế sang hướng tri thức, xanh, sạch, bền vững về môi trường và xã hội.

3.1.3. Đảm bảo minh bạch các hoạt động thu chi

Mối quan hệ giữa khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp công cũng

cần được minh bạch rõ ràng. Đặc biệt, cần có sự rõ ràng trong việc làm thế

nào lợi nhuận thu được từ các tổ chức sự nghiệp có thể đóng góp cho Chính

phủ. Những báo cáo tài chính hằng năm của các tổ chức này cần phải công

khai về lợi nhuận và phần sẽ đóng góp vào ngân sách nhà nước, thông tin này

cũng cần được ghi lại trong báo cáo hằng năm về ngân sách nhà nước.

Tương tự, các nguồn chi tiêu của Chính phủ nhằm phục vụ lợi ích của các tổ



Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



chức cơng cần phải được cơng khai trong báo cáo về ngân sách nhà nước,

cũng như báo cáo tài chính hằng năm của các tổ chức này.

3.1.4. Cân đối mơ hình phát triển kinh tế

Việt Nam là một nước đang phát triển, nên có tỷ lệ đầu tư cao,

thường xấp xỉ 40% GDP trong khi chỉ có 27% - 30% GDP là nguồn vốn tiết

kiệm trong nước, còn lại hơn 10% nguồn vốn bên ngồi (FDI, ODA, những

khoản vay khác). Đây là một tỷ lệ rất cao so với trung bình các nước trong

khu vực và trên thế giới. Mơ hình tăng trưởng dựa q nhiều vào nguồn vốn

đầu tư bên ngoài sẽ dễ bị tổn thương nếu kinh tế thế giới ngưng trệ. Do đó,

giảm lượng vốn đầu tư từ bên ngoài trong cấu trúc vốn nhằm giảm sự phụ

thuộc vào nguồn vốn nước ngoài và thúc đẩy phát triển dựa trên đầu tư có

hiệu quả là cần thiết trong mơ hình phát triển kinh tế của Việt Nam.

3.2. Khắc phục tình trạng quan liêu, tình trạng trốn lậu thuế

3.2.1. Thúc đẩy vai trò độc lập của các cơ quan phụ trách về

quản lý an ninh tài chính và tiền tệ

Các cơ quan đó phải được quản trị một cách minh bạch, không được

phép phá vỡ các tiêu chí, ngun tắc an tồn, và phải có tiếng nói với trọng

lượng đáng kể để khơng bị áp đặt bởi ý chí của người điều hành chính sách

tài khóa, vốn ln chịu sức ảnh hưởng đáng kể từ các sức ép chính trị, ví dụ

như tư duy nhiệm kỳ, hay sự vận động từ các nhóm lợi ích (dù có thể khơng

nhất thiết gắn với ý nghĩa tiêu cực).

3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, luật pháp

Cần tiếp tục xây dựng,hồn thiện chính sách pháp luật thuế và các văn

bản pháp luật có liên quan,sao cho đảm bảo tính rõ ràng,minh bạch,chặt

chẽ,hạn chế tối đa các “kẽ hở” có thể trốn thuế,đồng thời phải phù hợp với

các yêu cầu hội nhập quốc tế. Hệ thống thuế cần được cải cách bảo đảm

các tiêu chí tạo nguồn thu bền vững, hiệu quả, công bằng và minh bạch. Gánh

nặng thuế cần phải được điều chỉnh giảm một cách hợp lý. Tuy nhiên, mức



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 -2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x