Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: NỢ CÔNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

CHƯƠNG 1: NỢ CÔNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



số nước và vùng lãnh thổ, nợ cơng còn bao gồm cả nợ của chính quyền địa

phương (Đài Loan, Bungari, Rumani…), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi

nhuận (Thái Lan, Inđơnêxia…).

Như vậy, một cách khái qt nhất, có thể hiểu “nợ cơng là tổng giá trị các

khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay

nhằm bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách” và Chính phủ phải chịu trách

nhiệm trong việc chi trả khoản vay đó. Vì thế, nợ cơng nói cách khác là thâm hụt

ngân sách lũy kế tính đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mơ của nợ

Chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so

với GDP.

1.2. Phân loại nợ cơng

Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ cơng, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác

nhau trong việc quản lý và sử dụng nợ công. Tương ứng với mỗi loại nợ sẽ có

giải pháp quản lý bảo đảm quy mơ nợ phù hợp, qua đó sẽ chủ động tăng hay

giảm nợ để tạo nguồn thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Các tiêu chí để phân

loại nợ cơng hiện nay gồm:

1.2.1 Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay:

Nợ cơng gồm có hai loại: Nợ trong nước và nợ nước ngoài. Nợ trong

nước là nợ mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức trong nước. Nợ nước ngồi là nợ

cơng mà bên cho vay là Chính phủ nước ngồi, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính

quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngồi. Việc phân loại này giúp xác định chính

xác hơn tình hình cán cân thanh tốn quốc tế. Việc quản lý nợ nước ngồi còn

nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ, vì các khoản vay nước ngồi chủ yếu bằng ngoại

tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác.

1.2.2 Theo phương thức huy động vốn:

Nợ cơng có hai loại: Nợ cơng từ thỏa thuận trực tiếp và Nợ công từ công

cụ nợ. Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa

thuận vay trực tiếp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức

cho vay. Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc



Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa các nhà nước. Nợ công từ công

cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát

hành các cơng cụ nợ để vay vốn. Các cơng cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặc dài,

thường có tính vơ danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính.

1.2.3 Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ cơng:

Nợ cơng có ba loại: Nợ cơng từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi

và nợ thương mại thông thường.

1.2.4 Theo trách nhiệm đối với chủ nợ:

Nợ công được phân loại thành nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh. Nợ

công phải trả là các khoản nợ mà chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa

vụ trả nợ. Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh

cho người vay nợ, nếu bên vay khơng trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ

trả nợ.

1.2.5 Theo cấp quản lý nợ:

Nợ công được phân loại thành Nợ công của trung ương và Nợ cơng của

chính quyền địa phương. Nợ cơng của trung ương là các khoản nợ của Chính

phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh. Nợ cơng của địa phương là khoản nợ cơng mà

chính quyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ.



Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2011 -2015

2.1. Thực trạng nợ công tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015

2.1.1 Quy mô nợ công gia tăng nhanh

Trong giai đoạn 2011- 2015, nợ cơng gia tăng nhanh chóng với mức 16,7

%/năm. Theo đó, cuối năm 2015, về số tuyệt đối, dư nợ cơng lên đế n 2.608

nghìn tỷ đồng, gấp 1,9 1ần so với cuối năm 2011 (1.393 nghìn tỷ đồng). Về số

tương đối, cuối năm 2015, nợ công/GDP ở mức 62,2%, áp sát ngưỡng kiểm soát

65% của Quốc hội.



(Nguồn số liệu: Báo cáo nợ công số 04 – Bộ Tài chính và Tổng cục thống kê)

Đáng 1ưu ý, theo nhiều chun gia, quy mơ nợ cơng thực tế có thể đã cao

hơn so với mức công bố do cách thức xác định nợ công của Việt Nam và một số

tổ chức quốc tế uy tín có sự khác biệt. Cụ thể, nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam

dựa trên nguyên tắc: trách nhiệm thanh tốn thc về chủ thể đi vay; còn nợ

cơng theo tiêu chuẩn quốc tế được xác định trên cơ sở: chủ sở hữu thực sự hay

pháp nhân đứng sau chủ thể đi vay phải có trách nhiệm thanh tốn. Theo đó, nợ

cơng theo tiêu chuẩn quốc tế sẽ bằng nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam cộng

với nợ của: Ngân hàng Nhà nước (NHNN), các doanh nghiệp nhà nước

(DNNN), tổ chức bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội (ASXH) và một số địa



Bài tiểu luận mơn Chính sách Tài chính Quốc Gia



phương. Căn cứ theo tiêu chuẩn quốc tế, nhiều chuyên gia đưa ra ước tính và

cho rằng tỷ lệ nợ cơng/GDP của Việt Nam đã vượt mức 100%.

Theo thông 1ệ quốc tế, ngưỡng nợ công tối ưu (nhằm đảm bảo nợ công là

động lực giúp tăng trưởng kinh tế) thông thường cho các nước phát triến là 90%,

các nước đang phát triển có nền tảng tốt là 60% và có nền tảng kém là 30-40%.

Vì vậy, mức ngưỡng nợ cơng/GDP được Quốc hơi đề ra 1à 65% 1à phù hợp với

thông 1ệ quốc tế; và việc vượt ngưỡng tối ưu có thể tiềm ẩn rủi ro .

2.1.2 Khó khăn trong quản lý nợ công về cơ cấu và kỳ hạn

Trước đây, nợ công hầu hết 1à nợ nước ngoài hay vốn vay ODA với lãi

suất từ 1% đến dưới 3%. Từ năm 2010, Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu

nhập trung bình nên nợ nước ngồi có mức độ ưu đãi giảm dần. Vì vậy, nợ cơng

dịch chuyển sang nguồn vay trong nước, tăng từ 40% năm 2011 lên 57,1% năm

2015. Cụ thể:

Về nợ nước ngồi: đạt bình qn 3 tỷ USD/năm, tương đương 11% tổng



vốn đầu tư toàn xã hội hay 17% tổng vốn đầu tư từ NSNN. Việc quản lý nguồn

vốn này còn tồn tại và hạn chế như: (i) quy trình và thủ tục quản lý chương trình

và dự án ODA còn phức tạp; và (ii) nhiều dự án chậm tiến độ, trung bình trong

những năm qua, tỷ 1ệ giải ngân vốn ODA chỉ đạt khoảng 71% tổng vốn đã ký

kết.

Về nợ công trong nước: Thực hiện chủ yếu qua phát hành trái phiếu Chính



phủ (TPCP). Về quy mơ, 1ượng phát hành giai đoạn 2011-2015 đã tăng gấp 2,5

lần giai đoạn 2006-2010. Về kỳ hạn, 3 năm đầu giai đoạn, TPCP kỳ hạn ngắn ( 13 năm) chiếm khoảng 77 % khối 1ượng phát hành hàng năm. Hệ quả là, từ năm

2014, một 1ượng lớn TPCP đến hạn thanh tốn và Chính phủ đang phải liên tục

phát hành TPCP mới do NSNN khơng thể đáp ứng. Vì vậy, nhằm tránh rủi ro

trên, Quốc hội đưa ra quy định về kỳ hạn TPCP là trên 5 năm vào năm 2015,

theo đó, tỷ trọng TPCP kỳ hạn dài đã tăng lên 46%. Tuy nhiên, kỳ hạn của TPCP

gia tăng cũng gây ra bất cập cho: người mua chính có nguồn vốn huy động ngắn

hạn chiếm tỷ trọng 1ớn (khoảng 85% 1ượng phát hành 1à các ngân hàng thương



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: NỢ CÔNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x