Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Với khả năng đảm bảo thuốc, vật tư y tế để cứu chữa của 1 cơ số Y là 25 TB, 1 cơ số K là 50 TB, thì số lượng cơ số được cấp phát và khối lượng TTT natri clorid 0,9% và glucose 5% có sẵn trong cơ số được trình bày ở bảng 1.4.

Với khả năng đảm bảo thuốc, vật tư y tế để cứu chữa của 1 cơ số Y là 25 TB, 1 cơ số K là 50 TB, thì số lượng cơ số được cấp phát và khối lượng TTT natri clorid 0,9% và glucose 5% có sẵn trong cơ số được trình bày ở bảng 1.4.

Tải bản đầy đủ - 0trang

7

* Nguồn: theo Nguyễn Minh Chính và cs (2014) [15]



Bảng 1.4 cho thấy: Nếu được tiếp tế 13 cơ số Y, sớ lượng TTT glucose

5% và natri clorid 0,9% có trong cơ số là 45,5 L; với 19 cơ số K thì sớ lượng

TTT có trong cơ sớ là 133 L, sớ lượng TTT có sẵn là 178,5 L. Trong khi nhu

cầu phải có là 211 L, do đó lượng TTT còn thiếu là: 211 - 178,5 = 32,5 L.

Sớ lượng TTT còn thiếu (32,5 L) phải được triển khai pha chế tại

Tr.QYf để chủ động đáp ứng đủ nhu cầu cứu chữa cho TB [15]. Chính vì vậy,

ngoài khới lượng TTT glucose 5% và natri clorid 0,9% có sẵn, CQY đã đóng

gói 1000g natri clorid nguyên liệu pha tiêm trong mỗi cơ sớ K [15]. Điều đó

cho thấy, việc triển khai pha chế TTT tại Tr.QYf đã nằm trong phương án bảo

đảm của NQYVN, vừa góp phần chủ động đáp ứng nhu cầu thuốc, vừa giảm

bớt khối lượng vật tư quân y phải đóng gói, vận chuyển trong điều kiện chiến

đấu cơ động, nhất là điều kiện địa hình rừng núi, chứ không chỉ là nhiệm vụ

đột xuất trong giai đoạn hiện nay.



1.1.2. Khả năng triển khai pha chế thuốc tiêm truyền trong chiến tranh

1.1.2.1. Quân đội nước ngoài

Trong chiến tranh Thế giới lần thứ II (1941 -1945), Hồng quân Liên - Xô

(cũ) đã tổ chức được một màng lưới pha chế thuốc rộng khắp, đảm bảo cho

công tác cứu chữa thương binh tại các mặt trận [16].

Để chủ động đảm bảo TTT cho TB tại các chiến trường trong thời gian

nhanh nhất có thể, quân đội nước ngoài vẫn luôn quan tâm đến nghiên cứu pha

chế TTT với các nội dung: Cải tiến công nghệ, tổ chức pha chế, đánh giá các

yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước, TTT trong ĐKDN [17]. Quân đội Nga

đang có cơ số trang bị pha chế TTT tại các đại đội quân y lữ đoàn, sư đoàn

[18], [19]. Một số công ty của Mỹ đang nghiên cứu chế tạo các thiết bị pha chế



8

TTT trang bị cho cá nhân binh sĩ hoặc các bộ phận tác chiến trên chiến trường

ở xa căn cứ, có thể chủ động đảm bảo nhu cầu TTT cho TB theo hướng áp

dụng công nghệ cao như điều chế nước cất bằng hệ thống lọc RO, sau đó nước

cất được lọc qua màng lọc vơ khuẩn để loại trừ vi khuẩn rồi đóng gói trực tiếp

vào các chai Polyethylen terephthalat (PET) chứa sẵn nguyên liệu hoặc dung

dịch mẹ, không cần tiệt khuẩn. Nhưng đây cũng mới là các sản phẩm chế thử,

chưa được quân đội Mỹ chính thức áp dụng [20], [21], [22].

1.1.2.2. Ngành Quân y Việt Nam

* Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi lượng TB tại các trận chiến đấu

tăng cao nên thiếu thuốc, các phân đội quân y đã triển khai và pha chế hàng

nghìn L TTT, góp phần đảm bảo đủ nhu cầu thuốc cứu chữa cho TB ngay tại

mặt trận [2], [23].

* Trong kháng chiến chống Mỹ (1965 - 1975)

Đầu những năm 1960 của cuộc kháng chiến chớng Mỹ, cơng tác chi

viện vật chất, trong đó có thuốc từ miền Bắc cho miền Nam bị đối phương tìm

mọi cách ngăn chặn, việc mua sắm tại chỗ khơng thuận lợi, dẫn đến thiếu hụt

thuốc. Nhằm chủ động đáp ứng nhu cầu thuốc cho thương bệnh binh, mặc dù

trong điều kiện khó khăn thiếu thớn về nhân lực và trang bị, nhưng các phân

đội quân y từ cấp trung đoàn trở lên trên khắp chiến trường miền Nam đã tích

cực, chủ động triển khai bào chế th́c với trang bị, nhân lực tại chỗ, trong đó

TTT là sản phẩm chủ lực [24], [25], [26].

Tại chiến trường Nam Bộ, có sư đoàn trong 1 năm đã pha chế được

1029,3 L thuốc gồm dung dịch natri clorid, glucose, Novocain, vitamin B1, C,

B12...Có chiến dịch, sư đoàn đã pha chế hơn 2000 L thuốc các loại [27].

Tại chiến trường Tây Nguyên, từ năm 1961-1975 đã pha chế khoảng

100.000 L TTT (chiếm trên 33% nhu cầu). Khối lượng TTT pha chế tại chỗ



9

(301.633 L) gấp khoảng 6 lần lượng chi viện từ miền Bắc (53.326 L) và gấp

gần 265 lần mua ngoài thị trường (1.141 L) [28].

Trên đường mòn Hồ Chí Minh, từ năm 1965 - 1975, Quân y các đơn vị

thuộc Bộ tư lệnh 559 đã tổ chức pha chế tại chỗ được khoảng 2.156 L TTT

bao gồm natri clorid 0,9%, glucose 5%, nước cất, novocain để cứu chữa cho

TB tại các trạm quân y dọc đường Trường Sơn [29].

Những con số về khả năng triển khai và số lượng TTT pha chế tại chỗ ở

các chiến trường trong kháng chiến chống Mỹ rất có ý nghĩa về mặt thực tiễn

đới với cơng tác tiếp tế qn y, khẳng định vai trò không thể thiếu được của

hoạt động này trong chiến tranh, cần được duy trì trong điều kiện hiện nay

[1], [23].

Ở miền Bắc, công tác pha chế cũng phát triển rộng khắp tại các bệnh

viện trong ngành Y tế. Đa số các bệnh viện tuyến huyện tự pha chế được TTT

glucose và natri clorid để điều trị cho người bệnh [30].

Sau ngày đất nước thống nhất, NQYVN vẫn thường xuyên quan tâm,

chỉ đạo cơng tác tiếp tế qn y, trong đó có cơng tác pha chế th́c thơng qua

các hội thao kỹ thuật, các đợt tập huấn nhằm duy trì hoạt động chuyên môn ở

các đơn vị và đảm bảo sẵn sàng chiến đấu [31].

* Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1979-1989) và hiện nay

Trong thời kỳ đầu của cuộc CCBVTQ được dự báo là sẽ diễn ra khẩn

trương, ác liệt nên sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp nhưng lại rất khẩn trương

trên một địa bàn rộng, do đó ngoài việc được đảm bảo từ cấp trên thì tạo nguồn

vật chất tại chỗ là một yêu cầu bắt buộc đối với các đơn vị, nhất là các đơn vị

tuyến trung, sư đoàn [32], [33]. Đối với ban dượcTr.QYf, ngoài nhiệm vụ tiếp

nhận, bảo quản, cung cấp thuốc, vật tư y tế, còn có nhiệm vụ pha chế TTT để

sử dụng tại trạm và các đơn vị trong sư đoàn [34].

Số liệu sơ kết đợt chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (từ 17/02/1979 18/03/1979) cho thấy: Tuy có một số đơn vị vẫn triển khai pha chế được, nhưng



10

đa số các đơn vị không thể triển khai pha chế do nhiều nguyên nhân do trang bị

chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, xuống cấp; nhân viên chưa quen với PCDN, chưa

tích cực tổ chức huấn luyện trong thời bình, nên khi chiến tranh xảy ra không

triển khai được, phần nào đã ảnh hưởng đến hiệu quả cứu chữa cho TB [35].

Xác định vai trò của cơng tác pha chế TTT trong ĐKDN là một hoạt

động không thể thiếu trong công tác tiếp tế quân y thời chiến, từ nhiều năm

nay, các chương trình huấn luyện đào tạo về y, dược học qn sự ln có nội

dung này để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu cho các đối tượng học

viên bác sĩ quân y, dược sĩ quân y, sĩ quan dự bị y dược và lực lượng y tế dự

bị động viên [36], [37].

Trong tổ chức huấn luyện, diễn tập lực lượng y tế dự bị động viên,

ngoài việc huy động trong các cơ sở y tế, một số trang thiết bị được hỗ trợ từ

các cơ sở Quân y. Do đó, ngoài nhiệm vụ huấn luyện cho các phân đội qn y,

NQYVN còn cần phải có trang bị để hỗ trợ các cơ sở y tế triển khai [38], [39],

[40], [41].

Trong tài liệu “Mấy vấn đề cơ bản của công tác đảm bảo quân y trong

chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc” do CQY xuất bản năm 1982 và tài liệu

“Tổ chức và chiến thuật quân y năm 1989” về công tác đảm bảo thuốc và

trang bị quân y đã nhấn mạnh việc phải tổ chức sản xuất thuốc tại chỗ, tăng

cường cải tiến trang bị, bào chế thuốc phù hợp với yêu cầu huấn luyện và

chiến đấu của quân đội với từng loại cơ số cho từng bộ phận hoạt động theo

chức năng như cơ sớ pha chế, hóa nghiệm, phẫu thuật… [42], [43].

Ngày 11/11/1997, CQY ban hành Công văn số 721/QY-5 “Qui định về

pha chế thuốc tại c,d quân y, bệnh xá BCHQS tỉnh, bệnh xá tại các đơn vị

tương đương e,f, lữ đoàn” đã nêu rõ: Các tiểu đoàn quân y của các sư đoàn đủ

quân, trên cơ sở trang bị pha chế hiện có, được pha chế một sớ th́c (natri

clorid, glucose, novocain) để ôn luyện thao tác pha chế nhằm chuẩn bị tốt cho

thời chiến theo kế hoạch huấn luyện chung của ban quân y được chủ nhiệm



11

quân y cấp trên phê duyệt. Số sản phẩm này cần được kiểm nghiệm về chí

nhiệt tớ, nồng độ để đánh giá chất lượng pha chế hoặc để rút kinh nghiệm về

thao tác kỹ thuật, không dùng cho người...Việc pha chế phải tuân thủ theo qui

định hiện hành của Bộ Y tế (BYT) và CQY, phải thực hiện kiểm tra, kiểm soát

để đảm bảo chất lượng thuốc và phải được ghi chép vào sổ pha chế của đơn vị

[44].

Gần đây nhất, Công văn số 193/CQY - PD ngày 04/02/2013 của CQY

đã hướng dẫn cụ thể về Pha chế dịch tiêm truyền trong đơn vị quân đội:

- Các bệnh viện quân y tiếp tục duy trì bộ phận pha chế TTT, củng cớ

cơ sở vật chất hiện có, có thể triển khai khi có tình h́ng xảy ra.

- Đới với các sư đoàn bộ binh đủ quân và tương đương hàng năm ít nhất 1

lần, các đơn vị phải tổ chức huấn luyện pha chế dã ngoại TTT natri clorid 0,9%.

- Viện Kiểm nghiệm, Nghiên cứu Dược và Trang thiết bị y tế Quân đội

chịu trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn các sư đoàn bộ binh đủ quân và tương

đương huấn luyện pha chế TTT tại các đơn vị, kiểm tra chất lượng các mẫu

thành phẩm; đề xuất phương thức đảm bảo trang thiết bị, vật tư pha chế phục

vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu [45].

Để thống nhất về danh mục trang bị, quy trình triển khai pha chế và

đánh giá chất lượng TTT trong ĐKDN, năm 2008 và 2014, CQY đã 2 lần tổ

chức tập huấn PCDN cho các sư đoàn đủ quân, các bệnh viện quân khu, quân

đoàn đến bệnh viện tuyến cuối trong toàn quân [46], [47], [48], tiếp tục

“Nghiên cứu, đóng gói trang bị pha chế dã ngoại tuyến trung - sư đoàn” [49].

Có thể thấy, những kết quả về hoạt động pha chế TTT tại các tuyến

quân y trong các cuộc chiến tranh trước đây đã góp phần rất quan trọng vào

việc đảm bảo thuốc tại chỗ, nhất là trong điều kiện các con đường tiếp tế (từ

hậu phương ra tiền tuyến, mua sắm tại chỗ...) đều không thể thực hiện được.

Những chỉ đạo của Chính phủ, của BYT, của NQYVN về công tác pha chế

TTT trong CCBVTQ hiện nay vẫn khẳng định, đây là hoạt động không thể



12

thiếu đối với các phân đội quân y e, f, các cơ sở y tế dự bị động viên, nhằm

đảm bảo cứu chữa cho TB và những người bị thương trong khu vực có chiến

sự bằng các sản phẩm th́c được pha chế tại chỗ, trong đó quan trọng nhất là

TTT glucose 5% và natri clorid 0,9%. Do đó cần phải nghiên cứu giải quyết

một cách tổng thể, đồng bộ để có được cơ sớ trang bị pha chế TTT, phục vụ

các sư đoàn chủ động triển khai hoạt động này trong huấn luyện và SSCĐ.



1.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHA CHẾ VÀ TRANG BỊ, TÀI

LIỆU HƯỚNG DẪN, NGUỒN NƯỚC PHỤC VỤ PHA CHẾ THUỐC

TIÊM TRUYỀN TẠI TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN

1.2.1. Hoạt động pha chế thuốc tiêm truyền tại các đơn vị hiện nay

Bảng 1.5. Kết quả thăm dò ý kiến về hoạt động

pha chế thuốc tiêm truyền tại các đơn vị

Có triển khai pha chế

1. Thường xuyên huấn luyện tại đơn vị

2. Kiểm tra tiểu đoàn quân y đủ quân (2008)

3. Tập huấn công tác quân y



Số ý kiến

2

1

1



13

Cộng



4



Khơng triển khai pha chế

1. Khơng nói rõ lý do

1. Trang bị chưa đủ, chưa đồng bộ

2. Khơng có trang bị, tài liệu



11

9

8



3. Chưa biết được trang bị, cách thức triển khai pha chế



5



4. Chưa có chỉ đạo của cấp trên



3



Cộng

Không trả lời

Tổng cộng



36

8

48



*Nguồn: theo Cục Quân y (2014) [48]



Kết quả ở bảng 1.5 cho thấy: Với 48 ý kiến trả lời, chỉ có 4 ý kiến

(8,3%) cho biết đơn vị có tiến hành pha chế TTT; 36 ý kiến (75%) trả lời là

khơng triển khai pha chế vì các lý do: trang bị thiếu hoặc chưa đồng bộ, chưa

có tài liệu hướng dẫn, không nắm được trang bị và cách thức triển khai pha

chế, khơng có chỉ lệnh của thủ trưởng có thẩm quyền; 8 ý kiến (16,7%) người

được hỏi không trả lời mà không cho biết lý do.

Với thực trạng triển khai pha chế tại các đơn vị, đã cho thấy yêu cầu

cấp thiết hiện nay của NQYVN cần phải nghiên cứu xây dựng để có được

danh mục trang bị pha chế, biên soạn tài liệu hướng dẫn triển khai pha chế và

đánh giá chất lượng TTT trong ĐKDN, nhằm đáp ứng được yêu cầu huấn

luyện và SSCĐ trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai.

1.2.2. Danh mục trang bị pha chế

1.2.2.1. Sơ lược về trang bị bào chế thuốc của quân đội nước ngoài

Trong những năm chớng Mỹ cứu nước, Việt Nam có nhận được một số

trang bị pha chế thuốc của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây viện trợ như

trang bị pha chế của Hungary đóng trong một hòm nhỏ gồm các bình thủy

tinh 5 L, máy hút bụi đẩy, phễu lọc bằng thủy tinh xớp (G4).Trang bị pha chế

vòng kín của CHDC Đức (cũ) có bình pha chế bằng thuỷ tinh (50-60 L), máy



14

khuấy điện, máy nén khí, máy đóng dịch, phễu thuỷ tinh xốp G 3, G4....[3],

[50].

Quân đội Trung Quốc đã trang bị cho NQYVN cơ số bào chế thuốc

gồm 27 khoản, trong đó có nồi cất nước 5 L/h, máy hút đạp chân, vải lọc,

bình lọc Chamberland, chai, nút đựng TTT...nhưng để tiến hành pha chế TTT

thì cơ sớ này chưa đáp ứng được. Hiện tại CQY vẫn còn dự trữ những cơ số

này [51], [52].

Các kết quả khảo sát về trang bị bào chế thuốc của quân đội nước ngoài

khơng còn phù hợp với u cầu của CCBVTQ ở Việt Nam.

1.2.2.2. Trang bị pha chế ở tuyến quân y sư đồn của Việt Nam

Sau ngày hòa bình lập lại ở Miền Bắc (1954), nhằm đáp ứng yêu cầu

xây dựng quân đội chính quy, ngày 17/10/1962, CQY ban hành văn bản số

1122/P5 về “Dự thảo qui định trang bị quân y thời chiến trong chiến đấu

thông thường” bao gồm th́c, hóa chất, bơng băng, trang bị y tế cho các

tuyến quân y c, d, e, f; trong đó cơ số BC6 trang bị cho tuyến e, cơ số BC7

trang bị cho tuyến f trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ để tiến

hành pha chế thuốc [53].

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, để đáp ứng yêu

cầu của công tác tiếp tế quân y cho CCBVTQ, năm 1982 CQY đã ban hành

“Danh mục trang bị dụng cụ labo - bào chế tiểu đoàn quân y sư đoàn bộ binh”

gồm 22 khoản, trong đó có các dụng cụ pha chế như cân, nồi cất nước, nồi

hấp, phễu, chai pha thanh huyết, giấy lọc, cốc chân, ống đong...đáp ứng pha

chế các thuốc thông thường hoặc thanh huyết rửa, khó có thể triển khai pha

chế TTT [54].

Nhằm đảm bảo khả năng triển khai hoạt động pha chế thuốc tại tuyến

sư đoàn, tháng 06/2000 CQY ban hành “Biểu trang bị dụng cụ quân y sư

đoàn bộ binh” để pha chế một số thuốc uống, dùng ngoài, đông y, thuốc tiêm

novocain, dung dịch chống đông máu ACD, dịch truyền mặn ngọt đẳng



15

trương đáp ứng nhu cầu cứu chữa TB trong chiến đấu [55]. Năm 2002, CQY

ban hành “Biểu trang bị dụng cụ pha chế tuyến e,f” có bổ sung thêm 3 khoản

dụng cụ so với danh mục năm 2000 là: lều bạt, nilon triển khai buồng pha

chế và quần áo + mũ + mạng cho nhân viên pha chế [56].

Để có căn cứ xây dựng đề tài “Nghiên cứu cải tiến và chế tạo bộ pha

chế thuốc truyền tĩnh mạch dã ngoại trang bị cho tuyến quân y sư đoàn”

(2003 - 2005), Nguyễn Hồng Quân và các thành viên của đề tài (2006) đã

tiến hành khảo sát thực trạng trang bị pha chế tại một số sư đoàn đủ quân.

Về danh mục, trang bị pha chế đang có tại các sư đoàn gồm 27 khoản,

trong đó 23 khoản là danh mục xây dựng từ năm 2000 [55], trong 4 khoản

còn lại, có khoản được bổ sung thêm (nồi hấp điện 10 L/h), có khoản các đơn

vị phải tự đảm bảo (bàn pha chế, màn pha chế) và chiến lợi phẩm thu được từ

năm 1975 (xơ inox 10 L có nắp). Danh mục này còn thiếu nhiều trang bị cần

thiết để tiến hành pha chế và đánh giá chất lượng TTT như đèn soi kiểm tra độ

trong, bộ kiểm nghiệm nước cất, màn pha chế. Một sớ dụng cụ đã có nhưng

không phù hợp như nồi hấp điện chỉ dùng được trong điều kiện có điện (cơng

suất nồi hấp là 3,8 kw/h).

Về chất lượng, các trang bị đều đã xuống cấp do được sản xuất đã lâu

với vật liệu khơng có độ bền và không đạt theo quy định hiện nay (nồi cất

nước, xô men, hút đạp chân, khúc xạ kế cầm tay), một số trang bị đã hỏng

(nylon, dây cao su). Nhiều nhất trong danh mục là dụng cụ thủy tinh (8 khoản),

trong đó chai thủy tinh là cần nhất, nhưng hiện tại trên thị trường khơng còn

loại chai có nắp nhựa xốy mà thay vào đó là chai có nút nhôm bọc bên ngoài

nút cao su. Các dụng cụ như phễu thủy tinh, ống đong, đũa khuấy trộn rất dễ

vỡ, ít sử dụng, cần loại bỏ bớt. Nồi cất than củi kích thước cồng kềnh (57 x

65cm), nặng (24kg), tốn nhiên liệu (3,2kg củi/L nước cất), vật liệu chế tạo

không tốt (tôn) và không đạt theo quy định hiện hành của BYT, khơng đóng gói



16

thu gọn được. Dụng cụ pha chế là xơ men khơng có vòi, khi hòa tan phải mở

nắp, vi khuẩn, bụi dễ xâm nhập vào dịch lọc, khó đảm bảo vơ khuẩn [57].

Như vậy có thể thấy, trang bị pha chế hiện có tại các sư đoàn đã cũ,

thiếu, khơng còn khả năng đáp ứng yêu cầu huấn luyện và SSCĐ, cần được

trang bị lại.

Trong công tác đảm bảo sẵn sàng chiến đấu, CQY vẫn đang dự trữ cơ

số trang bị pha chế tuyến e,f với danh mục đã được xây dựng từ nhiều năm

trước. Danh mục trang bị pha chế gồm 29 khoản, đóng gói trong 4 kiện và

cũng bao gồm các dụng cụ chuyên sâu về bào chế tương tự như danh mục

hiện có tại các fBB.

Qua thực tế sử dụng trang bị pha chế do CQY bảo đảm (bảng 1.7) phục

vụ diễn tập, danh mục này chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai pha chế

trong ĐKDN vì một sớ tồn tại sau: trang bị có trong danh mục nhưng chưa

phù hợp với yêu cầu của công việc như nồi cất nước công suất thiết kế quá

nhỏ (5L/h), khi sử dụng chỉ đạt hiệu suất 2,5-3 L/h, muốn pha chế 5 L TTT,

phải điều chế được 7,5 L nước cất, cần thời gian ít nhất 3 giờ, trong điều kiện

chiến đấu khẩn trương, ác liệt đây là thời gian quá dài cho một lần pha chế

[3]. Khúc xạ kế dùng chung cho định lượng nồng độ glucose và natri clorid là

không hợp lý, cần có dụng cụ riêng để định lượng glucose và natri clorid.

Danh mục cũng có nhiều các dụng cụ thủy tinh dễ vỡ, tần xuất sử dụng thấp.

Một số trang bị chuyên dụng không thể thiếu được như đèn soi kiểm tra độ

trong, xiết nút nhôm, thiết bị xử lý nước (RO), bình pha chế thì vẫn chưa có…

Danh mục cũng chưa được nghiên cứu đóng gói ở dạng tích hợp các tính năng

của trang bị và chưa theo các vị trí triển khai pha chế (phòng pha chế, nơi cất

nước, nơi kiểm tra độ trong, đóng nút, nơi rửa tay trước khi vào buồng pha

chế) để giúp cho nhân viên pha chế dễ dàng tiếp cận các dụng cụ, hóa chất,

ngun liệu trong q trình triển khai pha chế [58].



17

Với kết quả khảo sát danh mục tại các sư đoàn và danh mục hiện hành

của CQY là không có sự khác biệt. Đó chính là lý do đa số các sư đoàn đều

không thể triển khai pha chế, cần phải nghiên cứu xây dựng một danh mục

trang bị pha chế cho sư đoàn có tính khả thi trong điều kiện hiện nay.

Do đó cần phải nghiên cứu xây dựng một danh mục phù hợp với yêu

cầu pha chế TTT tại Tr.QYf. Ngoài việc xây dựng danh mục tổng thể, đóng

gói hợp lý, cần nghiên cứu chế tạo cải tiến một sớ trang bị sẵn có, nhằm nâng

cao hiệu quả triển khai và đảm bảo chất lượng TTT.

1.2.2.3. Nghiên cứu trang bị pha chế dã ngoại

Tại Hội thao Trạm Quân y e toàn quân năm 1985, đã có một số sáng

kiến cải tiến trang bị pha chế như buồng pha chế dã ngoại tuyến e triển khai

trong hầm đủ diện tích cho 1 nhân viên pha chế, thiết kế theo nguyên tắc 1

chiều, bảo đảm vô khuẩn, tháo lắp, di chuyển dễ dàng; bàn gấp dã ngoại 2

tầng có thể dùng làm việc, bàn pha chế, bàn điều trị, bàn ăn cơm; bàn pha chế

dã ngoại hình chữ L, khi triển khai vừa làm bàn pha chế, vừa làm bàn cân…

[59].

Dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài Tổ chức, biên chế, triển khai đại

đội và tiểu đoàn quân y trung, sư đoàn bộ binh trong CCBVTQ của Bộ môn

Tổ chức chiến thuật quân y [60], năm 1986, Khoa Dược - Tiếp tế quân y

HVQY đã nghiên cứu xây dựng “Trang bị dụng cụ ban dược trạm quân y sư

đoàn bộ binh” có 86 khoản, gồm 4 nhóm trang bị: Dụng cụ xây dựng và cải

tạo địa hình (8 khoản), dụng cụ triển khai cơ sở (19 khoản), dụng cụ chuyên

môn (52 khoản) và sổ sách - nhãn thuốc (7 khoản). Danh mục này đã được sử

dụng phục vụ huấn luyện dã ngoại và diễn tập YHQS trong một sớ năm và

hiện tại khơng còn được sử dụng, nhưng là cơ sở để tham khảo cho việc xây

dựng danh mục mới [61].

Phan Công Thuần (1994) [3 ] đã có nghiên cứu về mặt lý thuyết để dùng

đèn soi độ trong bằng nguồn sáng pin thay cho bóng đèn điện 40w đã cho thấy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Với khả năng đảm bảo thuốc, vật tư y tế để cứu chữa của 1 cơ số Y là 25 TB, 1 cơ số K là 50 TB, thì số lượng cơ số được cấp phát và khối lượng TTT natri clorid 0,9% và glucose 5% có sẵn trong cơ số được trình bày ở bảng 1.4.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×