Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.3: Thành phần loài động vật có xương sống trên cạn

Bảng 2.3: Thành phần loài động vật có xương sống trên cạn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Suối Mỡ (có năm bậc thác mẹ con từ đền Thượng xuống đền Trung), các khe suối

nhỏ và những thung lũng nhỏ, hẹp, đất bằng xen kẽ các quả đồi, núi độc lập chạy

dọc gần hết chiều dài của khu vực, tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình.

Một trong những điểm khiến bất cứ du khách nào đã từng đến với Suối Mỡ

khơng thể qn được đó chính là vẻ đẹp của năm bậc thác mẹ con từ Đền Trung lên

Đền Thượng. Tương truyền rằng nước Suối Mỡ quanh năm chảy rì rào khơng ngớt

chính là dấu năm ngón tay của nàng công chúa Quế Mỵ Nương ấn xuống phiến đá

mà tạo thành. Thác Suối Mỡ với chiều dài khoảng 300m được tạo nên bởi năm bậc

thác dưới chân mỗi bậc thác đều có các bồn tắm tự nhiên hết sức kỳ thú. Chính vì

vậy, thác Suối Mỡ có sức lôi cuốn kỳ lạ đối với du khách khi đến tham quan. Bàn

tay của mẹ thiên nhiên thật khéo léo khi ban tặng cho nơi đây những phiến đá

khổng lồ với đủ các hình thù lạ mắt. Năm bậc thác Suối Mỡ với năm vẻ đẹp riêng

biệt, mỗi bậc thác lại là một cung bậc, càng lên cao càng nghe bao âm thanh réo rắt,

trầm bổng.

Bậc thác thứ nhất có khơng gian thống và rộng nhất với diện tích khoảng

700m. Điểm đáng nhớ của bậc thác này là dòng suối chảy xòe ra trơng giống như

một chiếc quạt khổng lồ và trên đỉnh thác là những phiến đá lớn, bằng phẳng như

những chiếc giường được đặt dưới bóng cây Nhội cổ thụ. Đây là một điểm dừng

chân lý tưởng giúp cho du khách quên đi những mệt mỏi sau một chặng đường dài.

Bậc thác thứ hai hết sức tuyệt đẹp đó chính là một dải lụa trắng bị chặn bởi một

phiến đá lớn dưới chân. Bên cạnh thác 2 có một phiến đá nằm nghiêng giống như

nàng tiên cá khốc trên mình tấm áo chồng bằng nước. Với sự hẫp dẫn riêng, bậc

thác hai thường là nơi lý tưởng để du khách lưu lại những hình ảnh đẹp nhất của

mình khi đến với Suối Mỡ

Với khơng gian hẹp, độ chảy lớn, bậc thác thứ ba như những màn mưa tung bọt

trắng xóa. Đến với Suối Mỡ, du khách sẽ được ngâm mình trong làn nước trong mát

để cho làn nước từ trên cao dội xuống mơn man khắp cơ thể như một môn vật lý trị

liệu giúp quý khách xua tan đi những căng thẳng mệt mỏi sau những ngày làm việc



26



vất vả, giúp quý khách lấy lại sức khỏe và có được tâm trạng thoải mái khi dời khỏi

Suối Mỡ.

Khác hẳn với sự ồn ào náo nhiệt của bậc thác thứ 2 và thứ 3, bậc thác thứ 4

hiền hòa ẩn mình dưới những lùm cây xanh quanh năm tỏa bóng mát, dòng nước

len lỏi qua các phiến đá trông giống như những mạch nước ngầm. Tại đây q

khách chỉ nghe được âm thanh róc rách rì rầm của dòng thác đổ xuống một bồn tắm

tự nhiên lớn. Đến đây, quý khách sẽ thả mình trong bồn nước trong mát cùng bạn bè

hay có thể chọn cho mình không gian riêng trên những chiếc ghế, chiếc giường

bằng đá để nghỉ ngơi và cảm nhận vẻ đẹp của núi rừng Suối Mỡ.

Bậc thác thứ 5 là bậc thác cao nhất trong hệ thống 5 bậc thác ở Suối Mỡ,

đứng tại đây du khách có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp của 5 bậc thác Suối Mỡ.

Bậc thác thứ 5 là nơi mà Thánh Mẫu Thượng Ngàn Quế Mị Nương khai thơng dòng

nước giúp nhân dân dẫn nước nhập điền nên còn được gọi là thác Vực mỡ. Tại đây

có một bồn tắm tự nhiên khá lớn được bao quanh bởi bức tường bằng đá vừa tạo

nên sự kín đáo đồng thời cũng tạo nên sự hấp dẫn của bậc thác này.

 Nhận xét chung về tiềm năng du lịch tự nhiên

Qua khảo sát tiềm năng du lịch tự nhiên của KDL Suối Mỡ cho thấy, KDL

khá được thiên nhiên ưu đãi để có thể phát triển du lịch sinh thái. Với địa hình núi

non khơng q hiểm trở nhưng cũng không quá đơn sơ đã tạo nên một KDL lúc ẩn

lúc hiện giữa bạt ngàn đồi núi trải dài trên diện tích nhiều km. Du khách đến đây ai

ai cũng đều muốn đi đến tận cùng của thác nước như để thỏa mãn trí tò mò của

mình cũng như để được đắm mình trong làn nước trong vắt giữa chốn núi rừng.

Cơng trình hồ Suối Mỡ hồn thành tạo mơi trường sinh thái cho khu vực

KDL. Tuy nhiên, ngồi nhiệm vụ cung cấp nước tưới tiêu cho đồng ruộng thì hồ

chưa thực sự được sử dụng cho mục đích phát triển du lịch. Khách du lịch tới đây

hầu như khơng có gì để tham quan hay chú ý đến hồ nhân tạo so với hệ thống thác

năm bậc tự nhiên có sẵn là nơi tập trung rất đơng du khách.

Hệ động thực vật nơi đây là hệ động thực vật thường thấy ở khu vực trung du

miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, trong đó cũng đang ni dưỡng và bảo tổn một số



27



động vật quý hiếm và những loài thực vật có giá trị kinh tế cao cần được quan tâm

phát triển.

Yếu tố thiên nhiên ở KDL Suối Mỡ được thể hiện ở hai mặt là núi rừng và

suối thác. Rừng núi nơi đây là rừng nhiều tầng, có cây cổ thụ, có tre nứa, có dây leo,

có cây lùm. Núi hai bên bờ có chỗ dốc chỗ thoải. Suối Mỡ chảy dài trên 7,5km có

độ cao, độ dốc khác nhau. Cả hai mặt đó hòa vào một thể tạo nên một không gian

sinh thái nghỉ dưỡng khá lý tưởng.

2.2.1.2. Các điều kiện về tài nguyên văn hóa

2.2.1.2.1. Truyền thuyết về KDL Suối Mỡ

Truyền thuyết kể lại rằng, Hùng Vương thứ 16 có cơng chúa Quế Mị Nương

được nhiều vương tôn, công tử đến cầu hôn nhưng nàng chỉ đam mê du ngoạn. Khi

đến vùng Suối Mỡ ngày nay, thấy đất đai khơ nẻ, dân tình đói rách vì hạn hán, cơng

chúa rất đau lòng. Nàng cùng đồn tùy tùng lên núi Huyền Ðinh và vào ngày đầu

xuân, một cơn gió mạnh đã cuốn nàng bay bổng lên trời, đưa nàng tới khúc Suối Mỡ.

Khi đặt chân xuống đây, nàng đã dùng 5 đầu ngón tay ấn xuống đá và lạ thay, một

dòng nước mát ào ạt chảy ra thành suối (Suối Mỡ ngày nay), đưa nước tưới cho đồng

ruộng. Từ đó đất đai vùng này trở nên màu mỡ, đời sống muôn dân trở nên trù phú .

Ðể ghi nhớ công ơn của công chúa Quế Mị Nương, dân làng đặt tên con suối

ấy là Suối Mỡ và lập đền thờ, gọi là đền Thánh mẫu thượng ngàn. Dọc đôi bờ Suối

Mỡ, người dân bản địa xây dựng 3 ngôi đền kế tiếp nhau là đền Hạ, đền Trung và

đền Thượng. Sự linh thiêng, nổi tiếng và cảnh sắc hữu tình của Suối Mỡ đã cuốn

hút hàng vạn du khách tới tham quan, làm lễ dâng hương vào độ xuân về.

Chính nơi đây, Hưng Ðạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã cùng các tướng lĩnh

thân tín lập đại bản doanh để chặn đứng mũi tiến quân của bọn xâm lược Nguyên

Mông từ Ải Chi Lăng, kéo về đánh chiếm Vạn Kiếp để từ đó tiến về kinh thành

Thăng Long. Ðể ghi nhớ chiến công hiển hách này, người dân đã lập đền thờ, tại

đây còn những phế tích liên quan đến chiến công này như 3 dinh, 7 nền, bãi, quần

ngựa, thao trường...



28



2.2.1.2.2. Các di tích lịch sử văn hóa

Trong sơn phận Huyền Đinh – Tây Yên Tử, khu thắng cảnh Suối Mỡ nằm gọn

trong thung lũng lòng máng thuộc xã Nghĩa Phương. Dọc theo thung lũng là hệ thống

các di tích cổ gắng với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp của núi rừng Yên Tử. Đây là

vùng đất mang nhiều đặc trưng của cá yếu tố văn hóa truyền thống, các yếu tố lịch sử

gắn với cảnh quan sinh thái tươi đẹp, độc đáo. Các yếu tố này đan xen hòa quyện để

tạo nên những nét riêng của tồn vùng, trong đó có khu di tích đền Suối Mỡ được xác

định là một trong những thành phần văn hóa cơ bản của cả KDL Suối Mỡ.

Tồn bộ KDL có hệ thống ba ngơi đền là đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và

được người dân nơi đây gọi tắt là khu đền Suối. Cả ba đền đều thờ vị thánh mẫu là

công chúa thời Hùng Vương thứ 6 tên là Quế Mị Nương.

Khu thắng cảnh Suối Mỡ là di tích danh thắng duy nhất của tỉnh Bắc Giang

được Bộ Văn hóa Thơng tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch) quyết định xếp

hạng bảo vệ cấp quốc gia ngày 28/01/1988 gồm hệ thống đình, đền, rừng núi, suối

nước,thác nước… với chiều dài khoảng 7,3km từ đền Hạ đến chùa Hồ Bấc.

* Đền Hạ: nằm ngay giáp đường lớn, là điểm dễ tiếp cận nhất trong cả KDL.

Đây là ngôi đền lớn nhất trong hệ thống 3 đền. Theo sử sách thì trước đây đền được

xây dựng theo lối “nội công ngoại quốc”, nhưng do chiến tranh tàn phá thì hiện nay

chỉ còn lại cổng tam quan cao to, cách kết cấu nhiều cột giả, cuốn tò vò, đao mái

đúng phong cách thời Nguyễn với hình đắp nổi hai ơng tượng canh cổng và nhiều

mơ típ hoa văn rồng, hổ, tứ linh. Ngoài cổng tam quan, đền Hạ còn giữ được ba pho

tượng đồng, ngơi tượng lớn nhất thể hiện Thánh Mẫu Thượng Ngàn, nặng khoảng 4

người khiêng, do thợ Gia Lương, Thuận Thành, Bắc Ninh lên tại đền đặt lò nổi lửa

đúc nên. Tượng có sơn thếp trông khá uy nghi, hiền hậu. Sau tượng Thánh Mẫu là

hàng Quan. Xếp hàng tiếp sau hàng Quan là hàng Chầu Bà, dưới hàng Chầu Bà là

hàng Cô gồm 12 Cơ, hàng Cậu rồi đến Ơng Hồng. Đền Hạ ngày nay được xây

dựng trên nền cũ vào năm 1999.

* Đền Trung: nằm ở lưng chừng núi, cách đền Hạ khoảng 2km. Đền có quy mơ nhỏ

hơn,quay mặt về hướng Tây. Đền Trung được tu dựng năm 1997, Bố cục mặt bằng



29



kiến trúc kiểu chữ Đinh, kết cầu vì kèo khá đơn giản. Theo sử sách để lại thì trước

đây, ngôi đền được dựng vào thời Lê – Mạc. Bên trong đền được bài trí thờ tượng

Thánh Mẫu và các tượng thờ khác theo đạo thờ Mẫu. Truyền thuyết kể lại rằng đền

Trung trước kia là nơi công chúa Quế Mị Nương và các vị bơ lão có chức sắc trong

làng bàn bạc, đưa ra những phương thức sản xuất nơng nghiệp cho nhân dân làm ăn.

Trước cửa đền có một mô đá nhô lên khỏi mặt đất, mô đá này chính là huyệt đất –

nơi tụ linh của ngơi đền mà du khách nào tới đây cũng một lần xoa tay vào đó để

xin cho mình chút linh khí, sức khỏe, an lành. Nối giữa cõi trần và nơi đất thánh là

một cây cầu bán nguyệt, được làm bằng gỗ xây dựng từ năm 1986

* Đền Thượng: còn gọi là đền Vực Mỡ, cách đền Trung khoảng 2,5km. Ngôi đền

hiện nay cũng được tu sửa nhiều lần, khu đền chính gồm hai động đá to và một số

hốc đá nhỏ bao quanh. Đền cũng được xây dựng từ thời Lê – Mạc cùng đền Hạ,

Trung. Trải qua thời gia, hiện nay quần thể di tích đã được nhân dân địa phương và

ban quản lý KDL tu sửa tôn tạo thêm phần khang trang. Trong đền Thượng cũng

được bài trí tượng thờ theo đạo thờ Mẫu gồm hàng Thánh Mẫu, hàng Quan. Hàng

Chầu, ơng Hồng, các Cơ các Cậu.

Ngồi hệ thống ba đền đã được tơn tạo và gìn giữ thì hiện nay, ở KDL còn có

một số phế tích chưa được phục dựng liên quan đến Hưng Đạo đại vương Trần

Quốc Tuấn và cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông như Bãi Quần Ngựa,

khu Ba Dinh Bảy Nền, chùa Hòn Trứng, đấu Đong Qn, đình Xoan, chùa Hồ Bấc.

2.2.1.2.3. Lễ hội Suối Mỡ

Đền Suối Mỡ mở hội vào hai ngày 30/3 và 1/4 âm lịch hàng năm. Trong

ngày hội, đền Hạ là nơi tập trung khách thập phương từ các nơi đổ về lễ thánh. Từ

ngày 16 tháng chạp năm trước, các làng đã phải họp để chuẩn bị. Mỗi năm ban tế lễ

sẽ cửa ra một nhà chăn ni lợn. Đó là một con lợn đực, đen tuyền mà người địa

phương gọi là “Ông Ỉ”. Lợn này được nuôi trong một cũi riêng, cho ăn tốt để khi

thịt mắt lợn phải híp chặt. Đến ngày hội, lợn được đem ra đình từ hơm 30 để thịt rồi

làm đồ tế thánh. Thủ lợn được làm sạch , luộc chín đặt lên mâm xôi cùng với trầu

cau, hoa quả, rượu nước để rước lên đền Suối cúng mẫu.



30



Trước kia, vào ngày hội chính, nhân dân hai làng , làng Dùm rước kiệu

Thánh về đền Hạ tế bái vọng lên đền Thượng, dân làng Quỷnh rước kiệu Thánh về

đền Trung để lễ thánh. Cả hai làng này đều có đình lớn cách khu đền Suối Mỡ

khoảng 2km nên khi rước trong ngày hội, đồn người rất đơng từ hai phía đi ra làm

mở rộng không gian lễ hội ra rất nhiều.

Hội Suối Mỡ được tổ chức chính vào ngày 1/4 âm lịch nên chiều 30/3 dâm

làng đã phải làm lễ tập ngơi (rước thử). Trong đám rước, kiệu thánh do 4 người

khiêng. Ngồi ra, các làng còn cử thêm một số người tham gia vào đám rước là nữ

được gọi là thanh đồng. Kiệu bát cống do 8 người khiêng và cũng có 8 thanh đồng

đi sau một tay cầm quạt phe phẩy, một tay đỡ kiệu.

Thứ tự đám rước ở hội đền Suối: đi đầu là cờ thần – hai người dẹp đường – 4

cây kèn đồng – 4 trống con – 4 trống to – 4 thanh bàn (chũm chọe) – 4 thanh la, não

bạt – 2 mõ – 2 hàng chấp kích – các thanh đồng – đậu quan (là những người trong

làng hội từ các nơi khác về tham gia việc rước. Những thanh đồng mặc áo đỏ, quần

trắng, thắt khăn đỏ - kiệu long đình tiểu – kiệu long đình đại – kiệu bát cống (trên

kiệu đặt bài vị của thánh)- kiệu võng (có hai người một vác tàn, một vác lọng đi hai

bên kiệu để che) – các quan viên – các mâm lễ của dân thập phương và lễ của dân

địa phương (những mâm lễ này được đặt trên bàn rồi cho 4 người khiêng) – các cụ

bô lão và dân làng cùng khách thập phương. Sau này, người ta còn rước 3 mâm

bánh chưng, 3 mâm bánh dày, 3 mâm xơi vò, 1 con lợn quay chừng 25kg, 3 buồng

cau bánh tẻ, 90 lá trầu và 3 cây vỏ đỏ.

Sáng sớm ngày 1/4 là chính hội, dân làng Dùm tập trung lực lượng rước từ

đình làng mình lên đền Hạ thờ cúng ở đó 3 ngày. Đây là hội thờ thánh mẫu nên

ngồi dân sở tại, đến ngày lễ còn có các đồn hành lễ của dân thập phương ở các

huyện trong tỉnh và một số địa phương của các tỉnh lân cận như Kiếp Bạc – Chí

Linh, Hải Dương hay Hà Nội, Hải Phòng… về tham dự hội. Các đồn hành hương

này chủ yếu là phụ nữ. Họ là các bà, các vãi, các đệ tử, thanh đồng, đạo quan từ các

nơi về trảy hội.



31



Trong dịp hội Suối Mỡ, cả hai làng Dùm và Quỷnh đều tổ chức hội ở làng

mình nhưng phải rước kiệu thành từ đình làng lên đền Hạ tề tựu, tế an vị rồi cùng

rước lên đề Trung đóng đám và tế vọng lên đền Thượng. Lực lượng tham gia rước

lên đền Suối gồm nam thanh nữ tú, mỗi giới 17 người, đầu chít khăn hồng điều, áo

nậu ngang mông, quần trắng, chân quấn xà cạp. Các quan viên mặc áo thụng xanh,

quần trắng, đội mũ cánh chuồn. Đội dâng hương của các cụ bà mặc áo thụng vàng,

quần trắng, thắn khăn vành dây.

Các đoàn chầu văn được xã hoặc hàng hội mời về tổ chức biểu diễn để phục

vụ du khách trong suốt mấy ngày hội. Các trò chơi truyền thống như cờ người, đu, vật,

chọi gà, bắn cung… cũng một số hoạt động thể thao như cầu lơng, bóng chuyền,

bóng đá.. được tổ chức. Cũng có năm xã mời đồn văn cơng chun nghiệp của tỉnh,

của Trung ương về biểu diễn phục vụ bà con du khách. Văn nghệ thường diễn ra vào

buổi tối với các vở hát chèo, diễn tuồng cổ như Phụng Nghi Đình, Quan Âm Thị

Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Phạm Cơng Cúc Hoa. Đặc biệt trong lễ hội đền Suối có

hát văn – một hình thức văn hóa dân gian đặc sắc. Chiều ngày mùng 3/3 thì hai làng

Dùm, Quỷnh rước thánh hoàn cũng, giã hội và cũng là kết thúc một mùa hội xuân

2.2.1.2.4. Tín ngưỡng thờ mẫu ở KDL Suối Mỡ

Thờ Mẫu là một tín ngưỡng quan trọng trong đời sống tinh thần của người

dân Việt Nam. Qua tín ngưỡng, hình ảnh người phụ nữ, người mẹ Việt Nam được

tơn kính, đề cao, thấy được vai trò của người phụ nữ trong xã hội từ xưa tới nay. Ở

Bắc Giang có nhiều nơi thờ mẫu chủ yếu trong đền, chùa…nhưng được quan tâm

nhiều nhất là ở đền Suối Mỡ.

Biểu hiện rõ nhất trong tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Thượng Ngàn là tục giã

bánh dày vắt cặp đôi để dâng thờ Thánh Mẫu trong ngày hội. Tục giã bánh dày thờ

diễn ra đông vui nhộn nhịp, người ta vừa giã bánh vừa nói vui

“Của bà thì méo

Của tơi thì tròn

Giã trật hai hong

Thờ cơ Tích Mễ”



32



Cơ Tích Mễ ở đây tức là bà chúa Kho. Đây là vị nữ thần nông nghiệp của cư

dân nông nghiệp cổ xưa. Trong đề Hạ có ban thờ Chầu Bà là phân thân của Mẫu

Thượng Ngàn. Chầu Bà là người giữ của, ban phát lương thực cũng chính là cơ Tích

Mễ. Trong đền Suối Mỡ có thờ hàng Thánh Mẫu, hàng Quan. Hàng Chầu, ơng

Hồng, các Cơ các Cậu. Ngồi ra còn thờ cả Mẫu nhiên thần và Mẫu nhân thần.

Mẫu nhiên thần: gắn với lực lượng của tự nhiên là đất và nước. Biểu hiện rõ

nhất là đạo Tứ Phủ tượng trưng cho bốn miền vũ trị của trời đất gắn liền với đời

sống nông nghiệp của người nông dân và được hội tụ ở bốn vị Thánh Mẫu là Mẫu

Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Địa

Mẫu nhân thần: là những nhân vật lịch sử, người có cơng với đất nước. Đó là

các Ơng hồng, bà chúa, Ơng hồng đệ nhất, Ông Hoàng đệ nhị, Ông Hoàng Sáu,

Ông Hoàng Bảy, Ông Hồng Mười… Sau hàng mẫu là ngũ vị Tơn Ơng là những

người thực hiện ý đồ của Mẫu sáng tạo gồm có năm ơng đại diện cho năm phương

đều là những vị thần có cơng với dân với nước

Nghi lễ hầu bóng: hầu bóng trong nghi thức thờ Mẫu ở Suối Mỡ được diễn ra

trong các dịp đầu năm và trong ngày lễ hội. Khách về lễ Mẫu và hầu bóng chủ yếu

là khách thập phương từ Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn…tụ hội về đây

để được hầu thánh. Để chuẩn bị cho một vấn hầu Thánh phải có thanh đồng, cung

văn, người phục vụ hầu thánh gọi là tứ trụ gồm 4 người. Để nâng bóng thánh cho

thanh đồng là đội cung văn, hát theo nhạc đệm kể về cơng trạng, ơn lại sự tích của

các vị Thánh. Đây là trò diễn xướng dân gian mang đậm bản sắc văn hóa.

Đền Suối Mỡ là nơi tơn thờ Thánh Mẫu Thượng Ngàn, một trong những

điểm chính tơn thờ đạo Mẫu ở miền bắc Việt Nam. Từ bao đời nay tín ngưỡng thờ

mẫu ở đền Suối Mỡ là nét đẹp văn hóa tâm linh được rất nhiều du khách thập

phương gần xa biết đến.

Hát chầu văn: là một nét sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa thu hút khá nhiều du

khách thập phương tham gia. Các cơ cánh đồng bóng đến đây khơng chỉ có mục

đích làm lễ dâng hương đức thánh Mẫu mà còn để phơ diễn trổ tài qua những giá

đồng. Hát chầu văn ở KDL Suối Mỡ là loại hính hát thờ và hát lên đồng. Hát thờ



33



được hát trước ngày tiệc, đầu rằm, mùng một, ngày tất niên và hát trước khi vào giá

văn lên đồng. Hát lên đồng hay còn gọi là hát hầu bóng, người theo tín ngưỡng chỉ

được hầu bóng từ hàng dưới các đức thánh mẫu quyền uy trong Tứ phủ công đồng,

đó là hệ thống chầu các quan hồng trở xuống. Đến đây, các cơ cánh đồng bóng

khơng cơng khai thi thố tài năng với những quy ước luật lệ gò bó nhưng thực tế họ

ln cố gắng để thể hiện tài nghệ múa giỏi hát hay trước những cánh bạn. Họ say

mê biểu diễn như những nghệ sỹ thực thụ còn người thưởng thức cũng đều là những

người hiểu về loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian này đã tạo nên những giá

hát làm say đắm lòng người.

2.2.1.2.5. Nhận xét chung về tiềm năng du lịch văn hóa

Ở KDL Suối Mỡ, những cơng trình tơn giáo tín ngưỡng kết hợp với cảnh

quan thiên nhiên hài hòa phong phú đã tạo nên một KDL phong thủy hữu tình mà

khơng kém phần uy nghi, linh thiêng. Hơn bất cứ nơi nào khác trong tỉnh, khu vực

Suối Mỡ được thiên nhiên ưu đãi về nhiều mặt. Phong cảnh đã kỳ thú, gió lành

nước sạch, khơng khí thống đãng, lại ẩn chứa những sự tích, những lịch sử thú vị

của ơng cha ta.

Hệ thống ba đền Hạ - Trung – Thượng nằm quanh co uốn lượn trải dài theo

con suối gắn liền với tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Thượng Ngàn đã được tu sửa,

phục dựng và bảo tổn tương đối tốt trong khoảng thời gian khoảng 30 năm trở lại

đây

Đến đây du khách được chiêm ngưỡng phong cảnh được tuyệt đẹp được xếp

vào loại bậc nhất của vùng quê sông Lục - núi Huyền. Vẻ đẹp Suối Mỡ là vẻ đẹp sự

tạo hóa do thiên nhiên đem lại với sự hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, con

người thân thiện mến khách. Suối Mỡ cũng là hình ảnh đã được nhắc đến nhiều qua

thơ ca trong quá khứ và hiện tại.

Lễ hội Suối Mỡ cũng giống như bao lễ hội khác là một hình thức sinh hoạt

văn hóa tín ngưỡng của nhân dân nay đã trở thành truyền thống được giữ gìn bảo

tồn phát huy. Lễ hội Suối Mỡ đã thực sự hấp dẫn thu hút du khách thập phương từ

nhiều vùng miền trong cả nước, họ đến với Suối Mỡ để cầu mong những điều tốt



34



đẹp an lành trong cuộc sống. Lễ hội Suối Mỡ linh thiêng huyền ảo bên phong cảnh

núi rừng tạo nên bức tranh cảnh sắc tuyệt đẹp thu hút lòng người.

Tín ngưỡng thờ Mẫu được thể hiện rõ trong lễ hội Suối Mỡ cũng như các

hoạt động tín ngưỡng thường xuyên diễn ra tại đền Suối là hát chầu văn đã và đang

ngày một thu hút các con nhang đệ tử đến với Suối Mỡ - một trong những địa danh

thờ Thánh Mẫu nổi tiếng nhất miền Bắc.

2.2.2. Điều kiện về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Nhìn chung, cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm phục vụ du lịch tại KDL còn nhiều

yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách khi đến thăm quan, du lịch.

Về cơ sở vật chất của Ban quản lý KDL Suối Mỡ đã bước đầu được quan tâm

đầu tư, xây dựng tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu thốn. Tổng diện tích quy hoạch xây

dựng trụ sở Ban quản lý được 800 m2, bao gồm:

- 01 nhà hai tầng: 01 phòng đón tiếp khách tham quan du lịch; 01 phòng họp; 04

phòng làm việc.

- 01 nhà sàn gỗ tại trụ sở Ban quản lý

- 01 nhà sàn xây kiên cố tại khu đền Trung

- 02 dãy nhà tập thể cấp 4, bên cạnh khn viên Đền Hạ

- 02 trạm sốt vé

- 01 bãi để xe tại khu vực Đền Trung

Hệ thống giao thơng hiện có: Đường ơ tơ bê tơng nhựa, rộng 5m, dài 4km từ

ngã ba Nghĩa Phương tới Đền Thượng; đường trục nối tiếp từ Đền Thượng tới khu

vực chùa Hòn Trứng. Hiện nay, đã có tuyến xe bt từ thành phố Bắc Giang đi qua

KDL với giá vé 15.000 đồng/khách, thời lượng 30-40 phút/chuyến

Cơ sở hạ tầng của KDL từng bước được đầu tư xây dựng, cơng trình Hồ chứa

nước Suối Mỡ đã bước đầu hoàn thành và đi vào sử dụng, tuyến đường tỉnh lộ 293

đi qua KDL đã được tiến hành cải tạo, nâng cấp tạo điều kiện thuận lợi góp phần

thúc đẩy sự phát triển của KDL.

Tuy nhiên, KDL vẫn chưa xây dựng được bất cứ một khu vui chơi nhân tạo

nào mà chỉ khai thác du lịch dựa vào cảnh quan thiên nhiên sẵn có và hệ thống ba



35



đền. Điều này gây sự nhàm chán cho du khách rất nhiều. Cảnh quan ở đây tuy đẹp

nhưng du khách chỉ mất nửa ngày là đã có thể tham quan, ngắm cảnh hết tồn bộ

KDL. Ngồi việc ngắm cảnh, vào thăm các đền thờ ra thì du khách hầu như khơng

còn việc gì để làm ở đây nữa.

Hệ thống hàng quán ở đây cũng khá ít. Món ăn khơng q tệ nhưng cũng khơng

đủ đặc sắc, mang dấu ấn vùng miền để lưu lại trong ký ức của du khách. Các quán

nước ở đền Hạ và đền Trung mang tính chất dựng tạm, khơng có tính chuyên nghiệp.

Do du khách đến đây chỉ đi lại trong ngày, thời gian lưu trú qua đêm hầu như

khơng có nên cơ sở lưu trú ở đây không phát triển. Chỉ mang tính chất nhà trọ bình

dân và hoạt động cầm chừng.

Các cơ sở bán đồ lưu niệm tuy đã được ban quản lý KDL quy hoạch lại theo vị

trí nhưng hoạt động cũng vẫn mang tính chất tự phát. Hiện nay ở đền Trung là nơi

tập trung chủ yếu của các hàng bán đồ lưu niệm với tổng số cửa hàng là 7. Các đồ

lưu niệm khơng có gì đặc sắc, chủ yếu là những đồ mà du khách có thể mua được ở

bất cứ một điểm tham quan nào liên quan đến tâm linh.

Nhà vệ sinh của KDL thực sự là vấn đề lớn cần phải quan tâm ngay. Sau đền

Hạ có xây dựng nhà vệ sinh cho du khách nhưng nhà vệ sinh ở đây gần như không

đi vào hoạt động. Du khách đến đây hầu như phải sử dụng nhà vệ sinh của các quán

ăn xung quanh đền. Điều này là một bất tiện rất lớn cho du khách khi đến với KDL

2.2.3. Điều kiện khác

2.2.3.1. Thị trường khách du lịch

Thị trường khách du lịch của KDL hiện nay là khách du lịch nội địa. Thị

trường khách được phân chia bằng địa điểm xuất phát của du khách theo những

đường tròn đồng tâm là rất khó thực hiện do đặc điểm KDL Suối Mỡ nằm trên địa

bàn miền núi, việc đi lại gặp nhiều khó khăn. Mặc dù cùng một bán kính tính từ tâm

là KDL nhưng việc di chuyển từ các điểm đến KDL là khơng giống nhau. Vì vậy,

phân chia vùng xuất phát theo khoảng cách thực tế từ điểm xuất phát đến KDL Suối

Mỡ sẽ tiếp cận các khoản chi phí của du khách xác thực hơn. Có thể phân chia làm

5 vùng theo khoảng cách tăng dần từ nơi xuất phát tới KDL Suối Mỡ:



36



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.3: Thành phần loài động vật có xương sống trên cạn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×