Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI

CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong giai đoạn khởi đầu, hầu như khách du lịch chưa biết đến các địa danh du lịch

tại địa phương. Trong giai đoạn tới, một số tài nguyên, tiềm năng có thể đưa vào

đầu tư, khai thác phát triển du lịch liên kết giữa các điểm du lịch với nhau, tạo nên

các tour du lịch tâm linh, sinh thái phù hợp

+ Tổ chức nghiên cứu thị trường và quảng bá xúc tiến. Ngành du lịch tỉnh

cần chủ động đề xuất cơ chế hỗ trợ tư vấn, xây dựng kế hoạch tổng thể tiếp thị,

quảng bá, xúc tiến du lịch Bắc Giang rộng rãi tại các thị trường mục tiêu trong và

ngoài nước. Chú trọng thị trường khách nghỉ dưỡng cuối tuần tại Hà Nội, khách du

lịch văn hóa tâm linh và khách Trung Quốc làm khâu đột phá.

+ Chú trọng phát triển nguồn nhân lực. Đây là khâu quan trọng, quyết định

sự thành công trong kế hoạch phát triển du lịch của tỉnh giai đoạn tới. Đề nghị sở

Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang giúp đỡ tổ chức đào tạo cán bộ, công

chức đang làm việc tại KDL; nâng cao năng lực quản lý nhà nước và trình độ

chun mơn. Đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh du lịch, cần định

hướng tiêu chuẩn chuyên môn; kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy

định của Ngành về trình độ lao động trong lĩnh vực lữ hành và lưu trú du lịch.

3.2. Xác định thị trường

Trong giai đoạn quy hoạch đến năm 2030, thị trường khách du lịch trọng tâm

của KDL Suối Mỡ là khách du lịch nội địa khu vực miền Bắc và hướng tới mở rộng

ra toàn bộ thị trường trong nước.

3.3. Các giải pháp phát triển du lịch tại khu du lịch Suối Mỡ

3.3.1.Giải pháp về đầu tư phát triển du lịch

3.3.1.1. Giải pháp về thúc đẩy dự án đầu tư

Việc đầu tư phát triển du lịch phải kết hợp tốt việc sử dụng ngân sách nhà

nước với việc khai thác, huy động nguồn lực trong dân theo phương châm xã hội

hóa phát triển du lịch. Trong đó, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tại các điểm, khu

du lịch bằng ngân sách của Trung Ương hoặc địa phương, huy động vốn đầu tư từ

các nguồn khác vào phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch đặc biệt là hoạt

động vui chơi giải trí nhằm tăng số thời gian lưu trú của khách. Bên cạnh đó, cần



59



khuyến khích các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp

thuộc mọi thành phần kinh tế và dân cư trên địa bàn có thể vay vốn đầu tư phát triên

khu vực dịch vụ du lịch, đặc biệt là vốn ưu đãi đầu tư phát triển các ngành dịch vụ

du lịch chất lượng cao

Cần rà soát lại việc khai thác quỹ đất, khắc phục tình trạng chiếm dụng đất,

đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án cải tạo, tu bổ các phế tích đình chùa để sớm

hồn thiện lại quần thể khu di tích tại KDL.

Nâng tầm lễ hội đền Suối Mỡ, tổ chức các sự kiện nhằm quảng bá hình

ảnh KDL như chương trình nghệ thuật đặc biệt kỷ niệm ngày thống nhất đất nước,

lễ hội âm nhạc, tổ chức các cuộc thi leo núi, bơi thuyền…

Tăng cường công tác chống chèo kéo khách du lịch, hạn chế các tệ nạn xã

hội như cờ bạc, xóc đĩa…; kiểm tra giám sát, bảo đảm vệ sinh mơi trường và vệ

sinh an tồn thực phẩm

Ngồi ra cần ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng giao thông phục vụ cho du

lịch. Cần nâng cao chất lượng phục vụ của các ngành vận chuyển đến KDL

3.3.1.2. Giải pháp về đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch

Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tậng vừa là điều kiện vừa tạo ra

tính hấp dẫn thứ cấp để phát triển sản phẩm du lịch, đồng thời du lịch chỉ có thể

phát triển bền vững trên điều kiện bền vững về môi trường . Đầu tư phát triển cơ sở

hạ tầng và nâng cao chất lượng môi trường điểm đến là yêu cầu cấp bách không chỉ

đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững mà còn có cả ý nghĩa kinh tế xã hội, giải

pháp mang tính cốt lõi đảm bảo cho sự phát triển bền vững lâu dài như định hướng

phát triển của KDL

Với quan điểm phát triển cơ sở hạ tầng taj KDL cần sử dụng tối đa các yếu tố

sẵn có của địa phương, trước mắt cần tập trung giải quyết tốt các điều kiện tối cần

thiết như điện, nước, đường giao thông, quản lý xử lý rác thải đảm bảo vệ sinh mơi

trường tại các khu có đơng khách du lịch tập trung như khu vực đền Trung, thác

Thùm Thùm.



60



Khuyến khích cộng đồng địa phương và doanh nghiệp tăng cường đầu tư cơ

sở hạ tầng nội vùng, liên vùng nhằm triển khai hiệu quả “nhà nước và nhân dân

cùng làm”. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương,

các ban ngành chức năng trong công tác quản lý đất đai, bảo vệ rừng, đất rừng, xử

lý nghiêm các trường hợp vi phạm lâm luật, khai thác không đúng mục đích

Cần đầu tư xây dựng hệ thống nước thải riêng. Về vấn đề vệ sinh môi trường,

bên cạnh việc tuyên truyền giáo dục người dân về ý thức vệ sinh mơi trường thì cần

giải quyết vệ sinh phân loại rác và chất thải rắn. Thu gom vận chuyển về nơi xử lý

bằng hình thức phù hợp theo quy định của cơ quan quản lý vệ sinh môi trường. Cần

nghiên cứu thiết kế lại chỗ để rác cho phù hợp hơn.

3.3.2. Giải pháp về nâng cấp chất lượng và xây dựng sản phẩm du lịch mới

3.3.2.1. Phát triển sản phẩm du lịch lễ hội,tâm linh

Để phát triển du lịch lễ hội cần có các hoạt động marketing cơ bản như

nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường khách du lịch mục tiêu của địa phương

nhằm phát triển du lịch lễ hội; các chính sách marketing nhằm phát triển du lịch lễ

hội của địa phương.

Lựa chọn thị trường khách du lịch mục tiêu của địa phương: Để lựa chọn thị

trường khách du lịch mục tiêu sử dụng sản phẩm du lịch lễ hội của địa phương,

trong phần nghiên cứu đã xác định được đoạn thị trường mục tiêu của KDL Suối

Mỡ là khách trong vùng 1 ( khoảng cách từ nhà đến KDL trong khoảng từ 0 –

10km). Đây là đối tượng khách có số lượng đơng nhất trong số 5 vùng khách khảo

sát được

Các chính sách marketing nhằm phát triển du lịch lễ hội của một địa phương

bao gồm một số chính sách chủ yếu: Chính sách phát triển sản phẩm du lịch lễ hội

theo quy hoạch phát triển du lịch của địa phương; chính sách xúc tiến, quảng bá thu

hút khách du lịch đến các điểm đến có du lịch lễ hội; chính sách liên kết với các

điểm đến khác để phát triển du lịch lễ hội; chính sách giá; chính sách con người.

Việc phát triển du lịch lễ hội theo quy hoạch phát triển du lịch của địa

phương gồm ba giai đoạn:



61



Thứ nhất, xác định được sự hấp dẫn và tiềm năng của du lịch địa phương;

điều này đã được đánh giá và khẳng định ở chương 2

Thứ hai, cần điều chỉnh cơ sở tiện nghi gần điểm du lịch của địa phương và

dịch vụ phục vụ để trở thành sản phẩm du lịch;

Thứ ba, quảng bá, thông tin tới khách du lịch hiện tại và tiềm năng. BQL

KDL cần xây dựng cho mình một bản thuyết minh về KDL cũng như truyền thuyết

về bà Quế Mỵ Nương, phải giới thiệu nhất quán và cần phải tổ chức các hoạt động

xúc tiến liên tục để giúp điểm du lịch tránh bị lãng quên. Các hoạt động xúc tiến

phải cung cấp nhiều thông tin cho khách, khách dễ dàng tiếp cận với các công cụ

mà hoạt động xúc tiến sử dụng và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiềm năng

biết tới điểm đến. Các công cụ xúc tiến của KDL để thu hút khách du lịch đến các

điểm đến có du lịch lễ hội bao gồm: quảng cáo, marketing trực tiếp, khuyến mại

(xúc tiến bán), quan hệ công chúng, bán hàng trực tiếp.

Thông thường, để chuẩn bị cho một lễ hội, KDL cần phải mất 1 năm để lên

kế hoạch chi tiết cụ thể. Phần lễ là truyền thống cần giữ nguyên trạng, bảo tồn và

phát huy. Tuy nhiên phần hội sẽ là phần kéo dài và thu hút được nhiều khách tham

quan nhất. Bên cạnh những hoạt động thường niên, đã tổ chức trong nhiều năm cần

xây dựng và tổ chức nhiều những hoạt động mới, đánh vào thị hiếu của du khách.

3.3.2.2. Sản phẩm du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái cùng với du lịch tâm linh là hai hướng phát triển chính

trong các năm qua của KDL. Để phát triển hơn nữa sản phẩm du lịch sinh thái, bên

cạnh việc bảo vệ mơi trường, cảnh quan thiên nhiên còn cần cải tạo, thêm mới các

hoạt động để kết hợp với du lịch sinh thái sẵn có.

Trước tiên, cần xây dựng và sử dụng hiệu quả website của KDL

dulichsuoimo.com.vn

Liên hệ với các tổ chức du lịch sinh thái trong và ngoài nước để thuê quảng

cáo sản phẩm du lịch sinh thái của KDL

Mời một số khách du lịch sinh thái đích thực đến KDL đi các chuyến du lịch

làm quen (fam trip) và đề nghị sự tu vấn, trợ giúp của họ, có thể đặt hàng trong việc



62



xây dựng các sản phẩm du lịch sinh thái. Đối tượng khách này là các thành viên của

tổ chức phi chính phủ có mục đích bảo vệ môi trường, khoa học đặc biệt là bảo tồn

các giá trị tự nhiên, văn hóa bản địa.

Lựa chọn đối tác kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái để tổ chức nhóm

cơng tác bao gồm đại diện BQL, các chuyên gia, đại diện cư dân, đại diện các

doanh nghiệp. Nhóm cơng tác này với tư cách là khách du lịch sinh thái có mục

đích chính là thực hiện dự án để nghiên cứu học tập cách thức kinh doanh sản phẩm

du lịch sinh thái của các điểm tương tự với KDL Suối Mỡ

3.3.2.3. Hình thành các tour du lịch liên kết các điểm du lịch trong vùng

Tỉnh Bắc Giang là khu vực có nhiều đặc điểm tự nhiên, khí hậu, lịch sử văn

hóa thích hợp để phát triển du lịch. Bởi thế, trong vùng rất nhiều những KDL đã và

đang được phát hiện, tập trung đầu tư phát triển

Quảng Ninh vốn nổi tiếng với vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên thế giới và

đỉnh thiêng Yên Tử. Hàng năm tỉnh này đón một lượng khách du lịch nội địa và

quốc tế rất lớn. Đây là nguồn khách tiềm năng cho tỉnh Bắc Giang. Tiếp đó, tỉnh

Lạng Sơn với cửa khẩu Tân Thanh, đền Bắc Lệ điển hình trong thờ Thánh Mẫu

Thượng Ngàn tương đồng với KDL Suối Mỡ. Ngồi ra Bắc Ninh, Thái Ngun

cũng là những tỉnh có nhiều tiềm năng du lịch. Liên kết du lịch với các tỉnh thành

này, Bắc Giang nói chung và Suối Mỡ nói riêng sẽ có nhiều cơ hội trong việc thu

hút khách du lịch. Cần phải đề ra những chính sách, giải pháp phù hợp. Một số giải

pháp có thể thực hiện như:

- Thương thảo bản bạc với các cấp chính quyền hay Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch của các địa phương trên về kế hoạch liên kết du lịch

- Vạch ra tour tuyến du lịch liên tỉnh, nối các điểm du lịch của các địa phương

với nhau một cách phù hợp

- Xúc tiến quảng cáo tour tuyến du lịch vừa đặt ra

- Đưa ra chính sách ưu đãi lớn đối với du khách tham gia các tour tuyến du

lịch này



63



- Liên hệ với các hãng vẫn chuyển nhằm phục vụ một cách tốt nhất cho việc di

chuyển địa điểm du lịch cho du khách

3.3.3. Giải pháp về công tác quảng bá, xúc tiến du lịch

Truyền thông và quảng bá để phát huy giá trị của KDL, cần áp dụng các kỹ

thuật truyền thông và quảng bá tương tự như các doanh nghiệp, bao gồm: phân tích

khách hàng, quảng bá qua các ấn phẩm, quan hệ với giới truyền thông, nghiên cứu

thị trường, xây dựng trang web, tổ chức các sự kiện,... Các hoạt động này mang ý

nghĩa giúp cho KDL được quảng bá trong thị trường du lịch, tăng khả năng tiếp cận

của KDL với công chúng.

Tài liệu hướng dẫn là loại công cụ hỗ trợ khách tham quan. Du khách thường

có nhu cầu cần các loại tài liệu hướng dẫn như: sơ đồ, tài liệu hướng dẫn chung và

hướng dẫn chi tiết được phát miễn phí. Máy nghe hướng dẫn cũng là một dạng tài

liệu khá phổ biến gần đây tại các điểm di sản trên thế giới cần được quan tâm trang

bị. Các phương tiện nghe nhìn hiện đại, áp dụng cơng nghệ 2D, 3D, mang tính

tương tác hiện nay cũng đã được áp dụng trong các nhà lưu niệm, bảo tàng, các di

tích khảo cổ học lớn

Xây dựng chiến dịch xúc tiến, quảng bá lớn có tính chất giới thiệu trong cả

trong nước với các hoạt động cụ thể như khởi động chiến dịch quảng bá trên mạng

internet, trên sóng truyền hình, truyền thanh quốc gia, quản trị tốt trang thông tin

điện tử quảng bá du lịch Suối Mỡ: Đẩy mạnh giới thiệu hình ảnh trên nhiều kênh

thông tin truyền thông đại chúng; xây dựng các ấn phẩm, các tờ rơi, tờ gấp, cẩm

nang du lịch, đĩa DVD giới thiệu về Suối Mỡ; xây dựng kế hoạch xúc tiến, quảng bá

cho du lịch tỉnh nói chung và cho Suối Mỡ nói riêng như “Trở về miền đất Thánh”,

“Suối rừng reo vang”; quản trị website riêng về du lịch Suối Mỡ trợ giúp các thông

tin du lịch, các sản phẩm và dịch vụ du lịch đến với du khách nhằm tuyên truyền

quảng bá hình ảnh Bắc Giang nói chung và Suối Mỡ nói riêng với khách du lịch

trong nước và quốc tế, góp phần đáng kể trong xây dựng thương hiệu, nâng cao

hình ảnh điểm đến hấp dẫn.



64



Cụ thể, cần xây dựng hình ảnh nhận diện thương hiệu du lịch Suối Mỡ như

xây dựng logo, slogan, người đại diện hình ảnh,… khi quảng bá trên các phương

tiện truyền thông, khách du lịch dễ dàng nhận diện thương hiệu du lịch Suối Mỡ.

Đó là phương pháp xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp đối với du khách trong tương

lai. Trước mắt, du lịch Bắc Giang khai thác thế mạnh về “con đường tâm linh” mới

đến với chùa Đồng từ phía Tây đối với du khách đi qua hàng loạt các điểm di tích,

danh lam thắng cảnh của tỉnh. KDL Suối Mỡ cần phải tận dụng tốt sự thuận lợi này

để tạo các tour, tuyến liên kết du lịch, thu hút thêm khách du lịch đến với mình.Để

được như vậy cần tạo sự khác biệt và hấp dẫn đến với du khách khám phá khu vực

văn hóa tâm linh – sinh thái này.

Xây dựng sản phẩm du lịch Bắc Giang tiếp tục triển khai đồng bộ việc xây

dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng trở thành hình ảnh đại diện cho du lịch Suối

Mỡ, tổ chức khảo sát nhằm hình thành các tour du lịch lấy các điểm ở Suối Mỡ trở

thành điểm đến quen thuộc, nghiễm nhiên phải đến của du khách khi đến với Bắc

Giang. Ngoài ra, du lịch văn hóa – sinh thái trở thành hướng du lịch chính của Suối

Mỡ, vậy cần xác định cụ thể chương trình xúc tiến thu hút khách từ các thị trường

quan trọng. Bên cạnh đó, liên kết với du lịch có tính liên vùng nhằm quảng bá

chung về một điểm đến du lịch thống nhất như chùa Vĩnh Nghiêm, hay du lịch Tây

Yên Tử,…

3.3.4. Giải pháp về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

Hiện nay không chỉ chất lượng nguồn nhân lực phục vụ trong du lịch tại KDL

Suối Mỡ nói riêng mà chất lượng nguồn nhân lực phục vụ trong du lịch tại Việt

Nam nói chung chưa cao. Số lao động phục vụ trong du lịch được qua đào tạo là rất

thấp, vì thế đây cũng là một vấn đề khó khăn đối với các KDL.

Đối với nguồn lực quản lý của địa phương nên có cán bộ chuyên trách về vấn

đề này. Trong xu thế hội nhập nguồn nhân lực, lao động chất lượng cao là một vấn

đề cần được quan tâm, đào tạo. Một thực tế cho thấy, lực lượng lao động trong

ngành du lịch của KDL đều thiếu, yếu và kém ngoại ngữ nên rất khó để hội nhập.

Nếu như ở các KDL lớn nhân viên đều có ít nhất 2 ngoại ngữ để phục vụ du khách



65



thì ở KDL Suối Mỡ nếu có khách nước ngồi đến thì khơng đủ nguồn lực để phục

vụ chu đáo được. Đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên luôn là yếu

tố thu hút tỷ lệ khách tham quan cao. Hướng dẫn viên và thuyết minh có chức năng

cung cấp các thơng tin cơ bản của KDL về mặt văn hóa, lịch sử, địa lý, cao hơn là

người tạo khơng khí sơi nổi cho du khách và đòi hỏi phải là người có kỹ năng trình

bày mang tính thu hút, lơi cuốn. Do đó, công tác tăng cường đào tạo nguồn nhân lực

là hết sức cần thiết

Tạo điều kiện cho nhân viên trong BQL đi học tập tại tỉnh bạn, các nước, các

trường chuyên về đào tạo du lịch để tích lũy thêm kinh nghiệm và kiến thức

Đối với cộng đồng dân cư sống tại KDL tham gia vào các hoạt động bán hàng,

phục vụ ăn uống cho du khách… cần được tập huấn một cách chuyên nghiệp để họ

tham gia vào việc tạo ra những sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch có tính chun

nghiệp cao. Họ cũng cần được nâng cao nghiệp vụ chun mơn, có thái độ giao tiếp

ứng xử nhẹ nhàng, có tinh thần trách nhiệm cao. Chỉ có như vậy mới bổ sung được

hiệu quả nguồn nhân lực tại KDL

3.3.5. Giải pháp về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Để có thể tiến hành khai thác được các tài nguyên du lịch phải tạo ra được hệ

thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng. Hệ thống này phải vừa đảm bảo phù hợp

với đặc trưng của dịch vụ du lịch, đồng thời phải phù hợp với đặc thù của tài

nguyên du lịch tại đó. Trong thời gian tới, cần phát triển cơ sở vật chất theo hướng

hiện đại hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời nâng cao tính đặc thù của

điểm đến. Tuy nhiên phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc bảo vệ môi trường và

phát triển bền vững mang phong cách đặc trưng, tạo tính độc đáo

- Về loại hình lưu trú: thay vì xây các nhà nghỉ với bê tông cốt thép kiên cố thì

có thể thay bằng các nhà sàn mang nét đẹp hài hòa, phù hợp với cảnh quan thiên

nhiên nơi đây. Có thể xây dựng với hai loại kích thước lớn phù hợp cho nhóm người

và kích thước nhỏ phù hợp với gia đình. Nên đầu tư phát triển các ngơi nhà với mức

chi phí thấp, mơ phỏng theo kiến trúc địa phương tạo ấn tượng với du khách, sử

dụng các vật liệu sẵn có như tranh, tre nứa; các điểm cắm trại, chòi quan sát cần



66



được khảo sát kỹ càng, đảm bảo hài hòa với cảnh quan và khơng ảnh hưởng đến

môi trường

Xây dựng các trung tâm hội thảo, hội nghị với quy mô vừa đủ với các phương

tiện, trang thiết bị phục vụ hội thảo

- Về cơ sở dịch vụ ăn uống: có thể bố trí lồng ghép với khu vực lưu trú. Ngoài

ra, nên xây dựng những quán ăn bán đồ ăn nhanh, đồ ăn vặt, đồ giải khát, đồ lưu

niệm dọc theo tuyến đường đi lên các đền, thác, đặc biệt là gần với các thác nước

mà du khách hay dừng chân tập trung đông.

- Cần xây dựng các phương tiện thông tin liên lạc cần thiết, có thể cho lắp một

hệ thống loa phát thanh tại các điểm đông du khách để tiện liên lạc về trung tâm

quản lý dịch vụ du khách trong trường hợp có người lạc đồn hoặc cần tìm đồ vật bị

rơi.

- Hoàn thiện hệ thống biển hiệu, bảng chỉ dẫn đi các điểm thăm quan trong

KDL. Các nhà vệ sinh, thùng rác phải bố trí theo phong cách kiến trúc độc đáo, phù

hợp với cảnh quan thiên nhiên

Xây dựng bãi đỗ xe tập trung các phương tiện đưa đón khách, bãi đỗ xe của

phương tiện vận chuyển nội bộ (xe ô tô điện, xe chuyên dụng, xe ngựa…) và các

công trình ăn uống, giải khát, bán đồ lưu niệm, sản vật địa phương.

Tại cửa ngõ KDL cần xây dựng một đảo giao thơng có trang trí cây xanh,

cổng chào, biểu tượng nghệ thuật về hình ảnh đặc trưng của KDL, đèn chiếu

sáng….tạo điểm nhấn cảnh quan.

3.3.6. Công tác phối hợp với các bên liên quan

- Nhà nước Trung ương ban hành các văn bản quy phạm pháp luật pháp luật,

các quy định và hướng dẫn thực hiện liên quan đến di sản văn hóa cũng như liên

quan đến bảo vệ rừng và môi trường tự nhiên. Nhà nước tài trợ một phần lớn cho

các chương trình nghiên cứu thơng qua các trung tâm nghiên cứu, trường đại học

đồng thời qua trung gian là một số cơ quan chuyên ngành; tài trợ một phần đáng kể

cho các hoạt động bảo vệ rừng, trùng tu các di sản đã được đưa vào danh sách bảo



67



vệ hoặc chưa được bảo vệ; đảm nhận việc quản lý các cơng trình kiến trúc, di sản tự

nhiên hoặc văn hóa thơng qua các cơ quan trực thuộc.

- Cấp địa phương đóng góp chi phí cho việc bảo vệ, trùng tu, phát huy giá trị

của di sản và tổ chức hoạt động vui chơi giải trí tại các điểm du lịch (lớp học, tập

huấn, hoạt động của các hiệp hội thành phố, vùng miền về nghệ thuật, lịch sử, bảo

vệ môi trường và các festival) trong khuôn khổ các hoạt động xây dựng giải pháp

huy động tài chính chủ yếu do nhà nước và các thể chế quốc tế hỗ trợ. Các địa

phương ngày càng có xu hướng tập trung các hoạt động vào các cơng trình kiến trúc,

di sản văn hóa cũng như khu bảo tồn tự nhiên thuộc thẩm quyền quản lý của mình.

- Các công ty lữ hành: Trong số các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tổ

chức tour du lịch, khơng có nhiều doanh nghiệp chuyên về các tuyến tham quan du

lịch văn hóa. Rất khó để có thể đánh giá được vị trí thực sự của các doanh nghiệp

này theo tiêu chí số lượng khách hàng. Trong lĩnh vực này, các hãng chun đón

khách du lịch đóng một vai trò quyết định. Nhiều hãng chuyên kinh doanh xe ca du

lịch cung cấp tour tham quan và du lịch dạo chơi. Một số khác lại tổ chức các

chuyến tham quan theo yêu cầu chuyên biệt như nghiên cứu mộc bản, nghiên cứu di

sản tộc người,…

- Các doanh nghiệp cơng nghiệp văn hóa hoạt động trong lĩnh vực trùng tu các

cơng trình kiến trúc và các di sản văn hóa là bất động sản. Đây là các doanh nghiệp

được nhà nước công nhận và cho phép hoạt động. Đó là những nhân viên được kế

thừa các kỹ thuật nghề nghiệp truyền thống của các phường hội như: phường hội

những người làm nghề thợ mộc, sửa mái nhà, thợ đẽo đá, thợ thủy tinh trang trí

hoặc thợ gò hàn,...

- Sự tham gia của cộng đồng: Nhận thức được giá trị kinh tế của di sản, các tổ

chức quốc tế và quốc gia đã đưa ra những quy trình phát huy giá trị di sản trong đó

ưu tiên tận dụng nguồn nhân lực địa phương. Xu hướng này đi kèm với những

nguyên tắc phát triển bền vững nằm trong khuôn khổ các hoạt động khôi phục lại

bản sắc văn hóa của người dân bản địa. Ở đây có vai trò của các chức sắc tơn giáo,

chủ các cơ sở thờ tự, các tổ chức xã hội trong cộng đồng và người dân địa phương.



68



Họ có vai trò vừa là chủ thể văn hóa, vừa là người tổ chức và tham gia vào hoạt

động bảo tồn, phát huy di sản văn hóa.

Du khách đóng vai trò trung tâm trong các hoạt động du lịch. Du khách rất đa dạng

tùy thuộc vào từng điều kiện cũng như mục đích tham gia du lịch. Số lượng du

khách là thước đo cho sự thành công của việc đầu tư cho việc phát triển du lịch.

Song, du khách cũng cần có các kiến thức cũng như phương pháp ứng xử đúng mực

đối với các di sản văn hóa để các di sản phát huy được tối đa tiềm năng sẵn có, cũng

như ứng xử đúng mực tại các khu du lịch nhằm hướng đến các khu du lịch văn minh,

lịch sự, hạn chế tác động xấu của du khách đối với di sản cũng như người dân địa

phương.

3.4. Kiến nghị

3.4.1. Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang (thơng qua Sở Văn hóa –

Thể thao – Du lịch)

Điều chỉnh quy hoạch du lịch tỉnh đến năm 2030 cho phù hợp với quy hoạch

tổng thể phát triển Du lịch của Việt Nam

Cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để thành lập ban chỉ đạo chuyên sâu nằm

trong BQL KDL Suối Mỡ

Tập trung vốn đầu tư vào phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho KDL.

Đặc biệt là phải đẩy nhanh việc tu bổ lại các phế tích tại KDL

Có chế tài bắt buộc những doanh nghiệp kinh doanh du lịch tập trung đầu tư

vào dịch vụ bảo hiểm, một yếu tố khá quan trọng trong du lịch sinh thái

Có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh du lịch về vốn, quảng bá, xúc

tiến du lịch

3.4.2. Kiến nghị với BQL KDL Suối Mỡ

Lựa chọn các dự án đầu tư thích hợp với loại hình du lịch của KDL

Có phương án phù hợp để mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư tại KDL

Lên kế hoạch trồng lại những khu rừng đã bị khai thác hai bên đường lên đền

Trung



69



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×