Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
 Chất lượng khách du lịch

 Chất lượng khách du lịch

Tải bản đầy đủ - 0trang

trung niên và cao tuổi. Độ tuổi của du khách đến KDL dao động trong khoảng từ 10

đến 65 tuổi.

- Số lượng du khách trong mỗi nhóm:

Bảng 2.5: Số lượng du khách chia theo nhóm

Số du khách trong nhóm Số lượng nhóm



Tỷ lệ



Từ 1 – 4 người



172



57,33%



5 – 9 người



107



35,67%



10 – 20 người



17



5,6%



20 người trở lên



4



1,4%



Tổng



300



100%

(Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát)



Điều này cho thấy, khách thăm quan đến KDL chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, tự

phát, khơng thơng qua các công ty du lịch hay hãng lữ hành nào. Họ chủ yếu đi du

lịch theo cụm gia đình, hoặc bạn bè với mục đính chính là thư giãn nghỉ ngơi cuối

tuần hoặc lễ đền.

* Chi phí du lịch của khách: với mỗi du khách đến KDL Suối Mỡ, chi phí của

họ bao gồm:

- Chi phí đi lại Theo Deshazo (1997), chi phí đi lại của du khách bao gồm chi

phí mua vé tàu xe hoặc chi phí mua nhiên liệu cho phương tiện nếu du khách sử

dụng xe riêng. Do vậy, chi phí đi lại của du khách phụ thuộc vào khoảng cách và

phương tiện sử dụng. Hanlay và Spash (1993) gợi ý rằng chi phí đi lại chính là “chi

phí của khoảng cách” và nên tính chúng dựa trên chi phí cho mỗi dặm đường. Sử

dụng chi phí nhiên liệu với ý nghĩa là chi phí biên. Sử dụng tồn bộ chi phí liên

quan đến việc di chuyển của khách tới điểm giải trí kể cả hao mòn phương tiện, bảo

hiểm . (Bảng 3.7). Kết quả phỏng vấn cho thấy chỉ những người sống tại vùng 1, 2

sử dụng xe máy là phương tiện di chuyển tới Suối Mỡ; du khách vùng 3, 4, 5 sử

dụng xe buýt hoặc xe hơi riêng.



44



Bảng 2.6: Phương tiện du khách sử dụng đến KDL Suối Mỡ

Phương tiện



Số người sử dụng



Tỷ lệ (%)



Xe hơi



67



22,33



Xe buýt



54



18



Xe máy



143



47,67



Sống tại địa phương



36



12



Tổng



300



100

(Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát)



Với du khách sử dụng xe máy, chi phí đi lại của họ là chi phí xăng xe, lệ phí cầu

đường và một số chi phí khác để đến được địa điểm.

Với du khách sử dụng xe buýt, chi phí đi lại là tiền vé xe buýt họ đã chi trả.

Căn cứ vào kết quả khảo sát một số cơng ty lữ hành, chi phí đi lại khứ hồi cho một

du khách dao động từ 600 – 750 đồng/km tùy từng chất lượng phương tiện và chất

lượng đường xá. Mức chi phí này cũng tương đương với kết quả phỏng vấn về chi

phí đi lại của du khách thuê xe theo đoàn hoặc mua vé xe tour. Tác giả sử dụng mức

giá 750đồng/km/du khách để tính chi phí đi lại cho du khách sống tại các vùng

Bảng 2.7: Chi phí đi lại của du khách theo vùng

Vùng



Khoảng cách đến Suối Mỡ



Chi phí đi lại



Ghi chú



1



10



15.000



Khứ hồi



2



30



45.000



Khứ hồi



3



50



75.000



Khứ hồi



4



100



150.000



Khứ hồi



5



Trên 100



Trên 225.000



Khứ hồi



(Nguồn: Kết quả điều tra phỏng vấn)

- Chi phí thời gian Du khách sử dụng thời gian cho chuyến đi đến Suối Mỡ dù dài

hay ngắn đều phải từ bỏ các cơng việc khác. Vì vậy, chi phí về thời gian là chi phí

cơ hội (sử dụng thời gian cho mục đích du lịch du khách đã mất cơ hội sử dụng thời

gian để làm việc, tạo thu nhập) và cần phải xác định chi phí thời gian trong chi phí

của du khách. Deaton và Muellbauer (1980) sau này cả Hanley và Spash (1993) cho



45



rằng khi một cá nhân từ bỏ công việc để đến địa điểm giải trí thì mức lương chính là

chi phí cơ hội của thời gian, nên sử dụng mức lương như “giá bóng” của chi phí

thời gian. Song theo một nghiên cứu của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

(OECD, 1994) các cá nhân có thể thấy hài lòng hoặc khơng cảm thấy hài lòng khi

đến địa điểm giải trí; họ cũng có thể sử dụng những ngày nghỉ cuối tuần cho mục

đích du lịch và do đó nên sử dụng chi phí thời gian điều chỉnh để xác định chi phí

thời gian cho chuyến đi.

Nhưng theo như số liệu thống kê của Ban Quản lý khu DLST Suối Mỡ và kết

quả điều tra cho thấy: Du khách đến đây ko lưu trú qua đêm, cho nên thời gian lưu

trú trung bình sẽ là 1. Thời gian mà du khách dành cho việc di chuyển đến địa điểm

khu DLST Suối Mỡ đa số vào những ngày cuối tuần, ngày nghỉ lễ, ngày hội hoặc

những người đã về hưu có nhiều thời gian rảnh rỗi. Nên chi phí cho thời gian sẽ ko

tính riêng mà gộp vào chi phí chung. Các chi phí khác của du khách gồm: phí vào

cửa, phí hướng dẫn, chi phí ăn ở, chi phí mua đồ lưu niệm...

Vé vào cửa: Du khách đến Suối Mỡ đều phải mua vé vào cửa với mức giá là

20.000 đồng/người. Khách đi theo đồn lớn có thể được giảm giá song mức giảm

khơng đáng kể.

Chi phí ăn ở: Là khoản chi lớn khi du khách lưu trú tại Suối Mỡ. Chi phí ăn ở

phụ thuộc vào thu nhập của du khách, thời gian lưu trú của du khách và các hoạt

động của du khách tại Suối Mỡ. Trên thực tế, do dịch vụ phục vụ khách tại khu

DLST Suối Mỡ chưa phát triển mạnh nên các khoản chi tiêu của du khách khơng có

sự chênh lệch q lớn giữa những nhóm người có thu nhập cao và người nhóm có

thu nhập thấp hơn. Nói chung du khách đến đây đều được hưởng chất lượng dịch vụ

ngang nhau do khơng có sự khác biệt quá lớn về chất lượng dịch vụ dù du khách có

thu nhập cao sẵn sàng chi trả nhiều hơn để có được dịch vụ tốt hơn.

Căn cứ vào kết quả phỏng vấn du khách và một số nhà hàng, qn ăn tại Suối

Mỡ có thể ước tính chi phí ăn, uống của du khách khoảng 120.000 đồng/người/ngày.

Từ kết quả tính tốn chi phí đi lại, chi phí thời gian và chi phí khác có thể tổng

gộp số liệu về chi phí của du khách ở các vùng khác nhau như sau



46



Bảng 2.8 :Tổng hợp chi phí của du khách theo các vùng

Vùng



Chi phí đi lại



Vé vào cổng



Ăn uống



Tổng



1



15.000



20.000



120.000



155.000



2



45.000



20.000



120.000



185.000



3



75.000



20.000



120.000



215.000



4



150.000



20.000



120.000



290.000



5



Trên 225.000



20.000



120.000



365.000



(Nguồn: Kết quả điều tra phỏng vấn)

2.2.4.1.4. Đánh giá mức độ hài lòng của du khách

- Các hoạt động chính của du khách tại KDL: do ở đây là sự kết hợp giữa cảnh quan

thiên nhiên và các yếu tố tâm linh nên mục đích của du khách khi đến với khu du

lịch cũng tương đối đa dạng. Tuy nhiên, phần đông các hoạt động của du khách vẫn

thiên về các hoạt động hướng tới thiên nhiên. Ở KDL, du khách có thể tham gia các

hoạt động leo núi, bơi lội, ngắm động thực vật. Các hoạt động này chủ yếu diễn ra ở

dọc hai bên bờ suối Mỡ, quanh các bậc thác tung bọt trắng xóa



Lễ đền 15%

Ngắm cảnh 45%

Bơi lội 32%

Tìm hiểu động thực vật 8%



Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện các hoạt động của du khách tại KDL Suối Mỡ

- Những điểm chưa hài lòng của du khách đối với KDL: hàng năm, lượng du khách

đến với KDL vẫn tăng nhẹ, tuy nhiên khách du lịch quay lại chủ yếu thuộc vào % số

khách đến lễ đền. Còn du khách đến đây với mục đích ngắm cảnh, thăm quan thì

hầu như đều có phản hồi khơng tích cực đối với hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật

chất kỹ thuật cũng như chất lượng môi trường. Thơng qua phiếu điều tra cho thấy



47



có đến 78% khách du lịch khơng hài lòng, 17% ở mức tạm hài lòng và 5% du khách

hài lòng về chuyến du lịch của mình.



Cảnh quan thiên nhiên 7%

Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

37%

Dịch vụ du lịch 32%

Khác 24%



Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện sự chưa hài lòng của du khách

2.2.4.2. Nhà cung cấp du lịch

Hiện nay tại KDL Suối Mỡ các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ đa số là người

dân địa phương. Tuy nhiên mới chủ yếu là ở các lĩnh vực lưu trú, ăn uống, bán đồ

lưu niệm, xe ôm, các dịch vụ bổ sung khác còn chưa nhiều và thậm chí là khơng có.

Thơng qua điều tra, có thể thấy 2 nhóm nhà cung ứng: các nhà cung cấp các

sản phẩm phục vụ khách du lịch và các nhà cung cấp các dịch vụ khác như vận

chuyển, ngân hàng, y tế tại KDL Suối Mỡ đã có nhưng chưa phát triển. Tại đây có

một cơ sở y tế, nhưng có dịch vụ ngân hàng, bưu điện đều là những khó khăn đối

với khách du lịch.

Các sản phẩm từ các doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm du lịch: lưu trú, ăn

uống, mua sắm... đã có xung quanh khu vực đền Hạ và đền Trung. Theo số liệu của

BQL KDL thì hiện nay có 03 nhà nghỉ, chưa có khách sạn, 07 gian hàng bán đồ lưu

niệm, 14 nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn uống của khách trong tồn KDL.

2.2.4.3. Các cấp chính quyền địa phương

Các cấp chính quyền tại Bắc Giang đã có nhiều những biện pháp nhằm phát

triển du lịch tại KDL từ rất sớm. Năm 1988, UBND tỉnh đã cho thành lập BQL

KDL nằm dưới sự chỉ đạo của UBND huyện Lục Nam để quản lý, bảo vệ KDL.

Trong những năm qua, nhờ nguồn đầu tư của UBND tỉnh mà hệ thống giao

thông, đường sá từ trung tâm thành phố về KDL đã thuận tiện hơn nhiều lần so với



48



trước kia. Hệ thống thông tin liên lạc cũng được UBND huyện quan tâm đầu tư từ

năm 2010.

Ngoài việc đầu tư ngân sách phát triển cơ sở hạ tầng, UBND tỉnh phối hợp với

Tổng cục Du lịch và Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch đã cho tổ chức nhiều những

buổi hội thảo chuyên đề như “Xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tâm

linh – sinh thái vùng Yên Tử năm 2015, “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa hát

văn tỉnh Bắc Giang” năm 2017 nhằm tìm các hướng giải pháp mới để thu hút khách

du lịch đến với KDL Suối Mỡ

UBND xã hiện nay vẫn đang thực hiện tốt vai trò đảm bảo an ninh trật tự trên

địa bàn, giải quyết các tranh chấp xảy ra và khuyến khích người dân bảo vệ mơi

trường tại địa phương.

2.3. Đánh giá chung về tình hình phát triển du lịch tại KDL Suối Mỡ

2.3.1. Phương pháp đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch

Với mục đích nhằm đánh giá ảnh hưởng (tốt, trung bình, kém) của các điều

kiện tự nhiên đối với hoạt động du lịch nói chung hay đối với từng loại hình du lịch,

từng lĩnh vực hoạt động du lịch cụ thể nói riêng. Phương pháp đánh giá này không

chỉ đơn thuần đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch mà còn đánh giá cả

các điều kiện để khai thác tài nguyên đó. Các bước tiến hành như sau:

- Xây dựng thang đánh giá: việc xây dựng thang đánh giá bao gồm các bước

quan trọng là: chọn các tiêu chí đánh giá, xác định các cấp của từng tiêu chí, xác

định chỉ tiêu của mỗi cấp và điểm của mỗi cấp, xác định hệ số tính điểm (trọng số)

của từng tiêu chí

+ Chọn các tiêu chí đánh giá: gồm 6 tiêu chí là: độ hấp dẫn, sức chứa, thời gian

khai thác, độ bền vững, vị trí và khả năng tiếp cận, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất

kĩ thuật phục vụ du lịch.

+ Xác định các cấp của từng tiêu chí: mỗi tiêu chí thường được đánh giá theo các

cấp: thường gồm 3, 4 hoặc 5 cấp từ cao xuống thấp, nhiều đến ít, tốt đến xấu, ứng

với các mức độ thuận lợi khác nhau.



49



+ Xác định chỉ tiêu của mỗi cấp: việc xác định chỉ tiêu ứng với mỗi cấp là cần thiết,

có tính chất định lượng để so sánh các kết quả đánh giá với nhau.

+ Xác định điểm số của mỗi cấp: trong thang đánh giá, số điểm của mỗi tiêu chí đều

bằng nhau và được tính từ cao xuống thấp, đối với số cấp của mỗi tiêu chí là 4 thì

điểm cụ thể sẽ là 4, 3, 2, 1.

+ Xác định hệ số (trọng số) của các tiêu chí: trên thực tế, các tiêu chí được lựa chọn

để đánh giá tài ngun du lịch có các tính chất, mức độ và giá trị khơng đồng đều.

Vì thế cần xác định hệ số cho các tiêu chí quan trọng hơn. Những tiêu chí quan

trọng nhất (có hệ số 3) là độ hấp dẫn, thời gian khai thác, vị trí và khả năng tiếp cận;

tiếp theo là tiêu chí sức chứa, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du

lịch (hệ số 2), tiêu chí độ bền vững có hệ số thấp nhất (hệ số 1). Vì loại hình du lịch

chiếm thời gian và lượng khách chính của KDL là du lịch sinh thái nên tài nguyên

phục vụ du lịch chủ yếu là tài nguyên du lịch tự nhiên, nhất là các loại cây trồng

phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên nên độ bền vững kém. Vì vậy, khi phát triển du lịch

sinh thái cần đặc biệt chú ý đến vần đề bảo tồn và tôn tạo tài nguyên

Việc xác định các thang đánh giá được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.9: Bảng xác định thang đánh giá tài nguyên KDL

Mức độ

điểm



Cao nhất



Khá cao



Trung bình



Kém



Điểm số: 4



Điểm số: 3



Điểm số: 2



Điểm số: 1



số

Tiêu chí, hệ

số

Độ hấp dẫn



Rất



(hệ số 3)



dẫn: có



hấp Khá hấp dẫn:



Hấp



dẫn: có Kém hấp dẫn:



khoảng 2 lồi khoảng 1 lồi khơng có loài



khoảng 3 loài sinh vật quý sinh vật quý sinh vật quý

sinh vật đặc hiếm, đặc hữu; hiếm, đặc hữu; hiếm, đặc hữu

hữu, q hiếm; có ít nhất 3 – 5 có ít nhất 1 – 2 nào; cảnh quan

có trên 5 cảnh cảnh quan đẹp cảnh quan đẹp



50



tự nhiên đơn



quan đẹp được được



thừa được



thừa nhận; có nhận;







thừa điệu và chỉ có



ít nhận;







ít thể phát triển



ít nhất 5 di tích nhất 2 di tích nhất 1 di tích được



1



loại



tự nhiên đặc tự nhiên đặc tự nhiên đặc hình du lịch

sắc và những sắc và những sắc nguyên du dựa



vào



tự



tài nguyên du tài nguyên du lịch khác có nhiên

lịch khác để có lịch khác có thể phát triển

thể phát triển thể phát triển 3 được 1 – 2 loại

được ít nhất 5 – 5 loại hình hình du lịch

loại hình du du



lịch



dựa dựa



vào



tự



lịch dựa vào tự vào thiên nhiên nhiên

nhiên (nature –

based tourism)

Sức chứa (hệ Rất lớn:



Khá lớn:



số 2)



trên 1000 lượt



500



khách/ngày.



lượt



100 – 500 lượt



khách/ngày.



khách/ngày



Thời gian khai Rất

thác (hệ số 3)







150











khách/ngày



Ngắn: có dưới



Trung



200 bình: có



thể trong năm có ngày



triển khai tốt thể triển khai năm

các hoạt động tốt



dưới 100 lượt



100 ngày trong



từ 100 – 150 năm



200 ngày trong ngày

năm



1000 bình: từ



dài: có Khá dài: có từ



trên



Nhỏ:



Trung



các







thể



trong triển khai tốt





thể các hoạt động



hoạt triển khai tốt du lịch và có



du lịch và có ít động du lịch các hoạt động dưới



90ngày



nhất trên 180 và có từ 120 – du lịch và có có điều kiện

ngày có điều 180 ngày có từ 90 – 120 khí hậu thích

kiện khí hậu điều kiện khí ngày có điều hợp với sức

thích hợp với hậu thích hợp kiện khí hậu khỏe



51



con



sức khỏe con với sức khỏe thích hợp với người

người



con người.



sức khỏe con

người



Độ bền vững



Rất bền vững:



(hệ số 1)



khơng



Khá bền vững: Bền



có có



từ



1-



vững Kém



bền



vững:



2 trung



thành phần tự thành phần tự bình: có 1 – 2



có 1- 2 thành



nhiên nào bị nhiên bị phá thành phần tự phần tự nhiên

phá hủy, nếu hủy ở mức độ nhiên bị phá bị



phá



hủy



có thì ở mức nhẹ và có khả hủy đáng kể và nặng cần đến

độ không đáng năng tự phục phải có sự trợ sự trợ giúp của

kể







được hồi. Hoạt động giúp của con con



phục hồi lại du lịch



người mới có



người,



song khả năng



sau một thời diễn ra thường thể phục hồi. phục hồi hạn

gian



ngắn. xuyên.



Hoạt động du chế và kéo dài



Hoạt động du



lịch có thể bị



lịch khơng bị



hạn chế



ảnh hưởng và

có thể diễn ra

liên tục

Vị



trí,



khả Rất thuận lợi:



năng tiếp cận khoảng

(hệ số 3)



10–

thời



Rất thuận lợi:



cách khoảng

100km, 10–



gian



Thuận lợi:



cách khoảng



thuận



cách lợi:



100km, 200 – 500km, khoảng



đi thời thời gian thời



đường ít hơn đi



Kém



đường



gian



đi trên



ít đường ít hơn thời



cách

500km,



gian



đi



3h và có thể sử hơn 5h và có 12h và có thể đường ít hơn

dụng 2 – 3 thể sử dụng 2 – sử dụng 1 – 2 24h và có thể

phương tiện di 3 phương tiện phương tiện di

chuyển

dụng



thông di



sử dụng 1 – 2



chuyển chuyển thông phương tiện di



thông dụng



52



dụng



chuyển thông



dụng.

Cơ sở hạ tầng Rất tốt: điều Khá tốt: có cơ Trung



điều



bình: Kém:



và cơ sở vật kiện về cơ sở sở hạ tầng, cơ có được một kiện về cơ sở

chất kĩ thuật hạ tầng và cơ sở vật



số cơ sở hạ hạ tầng, cơ



phục vụ du sở vật chất kĩ chất kĩ thuật tầng, cơ sở vật sở vật chất kĩ

lịch (hệ số 2)



thuật đồng bộ, đồng bộ, đủ chất kĩ thuật thuật yếu kém,

đạt tiêu chuẩn tiện nghi, đạt đồng bộ, đạt không đồng bộ

quốc tế



tiêu



chuẩn tiêu



quốc gia



chuẩn với chất lượng



quốc gia, tuy hạn

nhiên



chế



vả



tính khơng đạt tiêu



đồng bộ hạn chuẩn quốc gia

chế

Nguồn: Tổng hợp từ [2], [7], [15]

- Tiến hành đánh giá: điểm đánh giá tổng hợp là tổng các điểm đánh giá riêng của

từng tiêu chí. Trong đó, điểm của từng tiêu chí được tính bằng cách lấy điểm của

mức độ đạt được nhân với hệ số tương ứng. Vậy tổng điểm đánh giá cao nhất là 56

điểm và thấp nhất là 14 điểm.

- Đánh giá kết quả: căn cứ vào số điểm tối đa mà thang điểm đánh giá đã xác định

(56 điểm) và kết quả đánh giá cụ thể tại mỗi đối tượng đánh giá để xác định tỉ lệ

phần trăm số điểm đã đạt được so với số điểm tối đa. Mức độ đánh giá như sau: rất

thuận lợi: 45 – 56 điểm (80,35% - 100%) , khá thuận lợi: 34 – 44 điểm (60,71% 78,57%), trung bình: 23 – 33 điểm (41,07% – 58,92%), kém: 14 – 22 điểm (25,00%

- 39,28%).

2.3.2. Kết quả đánh giá

Sau khi phân tích điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch của KDL Suối Mỡ và

so với các tiêu chí đánh giá, kết quả đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển

du lịch của KDL Suối Mỡ như sau:

Độ hấp dẫn: KDL có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp với nhiều thác, đập cùng với

hệ sinh thái tự nhiên hấp dẫn. Khu vực có hệ thống thủy văn đẹp, tạo điều kiện phát



53



triển 2 loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên như nghĩ dưỡng cuối tuần, picnic. Vì

vậy, đối chiếu với tháng đánh giá trong bảng, độ hấp dẫn của KDL đạt mức độ hấp

dẫn

Sức chứa: sức chứa được hiểu là số lượng tối đa du khách mà khu vực có thể tiếp

nhận và phụ thuộc chủ yếu vào diện tích khu vực. Boullon (1985) đã đưa ra một

cơng



thức



Sức chứa =



chung



để



xác



định



sức



chứa



là:



𝑇𝑖ê𝑢 𝑐ℎ𝑢ẩ𝑛 𝑡𝑟𝑢𝑛𝑔 𝑏ì𝑛ℎ 𝑐ℎ𝑜 𝑚ỗ𝑖 𝑐á 𝑛ℎâ𝑛

Khu vực do du khách sử dụng



Trong đó: khu vực do du khách sử dụng là diện tích thực tế của khu vực dành cho

mục đích du lịch; Tiêu chuẩn trung bình của mỗi cá nhân phụ thuộc vào loại hình du



lịch. Ví dụ: Hoạt động giải trí ở các KDL: - Nghỉ dưỡng biển: 30 – 40m2 /ngày Picnic : 60 – 90m2 /ngày - Thể thao : 200 – 400m2 /ngày - Cắm trại ngoài trời: 100

– 200m2 /ngày

Ở đây, bài viết chọn loại hình du lịch có thể triển khai ở KDL Suối Mỡ là picnic với

tiêu chuẩn diện tích cao nhất là 60 – 90m2/người/ngày nhằm đảm bảo được sức

chứa không quá tải đối với hệ sinh thái trên địa bàn nghiên cứu.

Tổng diện tích khu Suối Mỡ là 1.207,1 ha trong đó có 734,06ha là rừng nằm trong

KDL tương đương 60,81% tổng diện tích. (Nguồn: Phòng quản lý đất huyện Lục

Nam)

Vậy sức chứa của khu vực này là 7340600/90 = 81.562 lượt khách/ngày

Như vậy sức chứa của khu vực KDL Suối Mỡ là rất lớn

Thời gian khai thác: thời gian khai thác du lịch tại địa bàn chủ yếu khoảng từ tháng

4 đến tháng 10, tức là vào mùa mưa với khoảng gần 200 ngày. Đối chiếu với thang

đánh giá thì thời gian khai thác của khu vực đạt mức độ dài

Độ bền vững: hiện nay, KDL do khách du lịch chỉ tập trung đông ở một số điểm

như hệ thống đền Hạ, Trung, Thượng và thác Thùm Thùm, hồ Hố Chuối. Còn lại

phần lớn diện tích rừng khơng có khách du lịch lui tới. Vì vậy, trong điều kiện hiện

nay, những giá trị về tự nhiên của KDL vẫn giữ được tương đối do chưa bị xâm lấn

của nhiều của con người. Đối chiếu với thang đánh giá, độ bền vững của khu vực là

khá bền vững



54



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

 Chất lượng khách du lịch

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×