Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
 Giá trị về đa dạng sinh học

 Giá trị về đa dạng sinh học

Tải bản đầy đủ - 0trang

Rừng trong khu vực đã trải qua một thời kỳ dài khai thác. Bắt đầu từ những

năm sau giải phóng, các lâm trường mở đường vào khai thác gỗ. Sau đó là người

dân tiếp tục khai thác chọn. Các địa điểm chân và sườn núi do người dân khai phá

làm nương rẫy qua nhiều chu kỳ. Sau khi hoàn thành khai thác chọn các loài gỗ

kinh tế, các lâm trường tiếp tục phát quang để trồng rừng cây lâm nghiệp. Do những

tác động này đã dẫn đến rừng tự nhiên trong khu vực chủ yếu là rừng nghèo kiệt và

phục hồi. Một phần lớn diện tích đã trở thành rừng trồng lấy gỗ công nghiệp và

vườn cây ăn quả. Kết quả xây dựng bản đồ thảm thực vật rừng và sử dụng đất trên

cơ sở kế thừa tài liệu kiểm kê rừng hàng năm của Hạt Kiểm lâm Lục Nam, kết hợp

với kiểm tra, khoanh vẽ thực địa diện tích các loại thảm thực vật rừng và hiện trạng

sử dụng đất trong khu vực như bảng:

Bảng 2.1 : Thảm thực vật rừng hiện trạng sử dụng đất khu Suối Mỡ

STT



Kiểu thảm và sử dụng đất



Diện tích



%



1



Rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác kiệt



(ha)

610,2



2



Rừng thứ sinh phục hồi trên đất mất rừng



43,16



3,58



3



Rừng trồng



414,44



34,33



4



Thảm cỏ, cây bụi, cây gỗ, rải rác



5,1



0,42



5



Thảm cây ăn quả



45,56



3,77



6



Thảm cây nông nghiệp ngắn ngày



28,04



2,32



7



Mặt nước



5,00



0,41



8



Đất khác



55,6



4,61



Tổng



1.207,1



100



50,55



(Nguồn, Kết quả điều tra của Ban quản lý K DL Suối Mỡ)

(1) Kiểu rừng nhiệt đới thường xanh thứ sinh Có diện tích 653,36ha, chiếm 54,13%

tổng diện tích khu vực, đây là kiểu rừng tự nhiên duy nhất còn tồn tại trong khu vực,

có nguồn gốc từ rừng nguyên sinh, sau một thời gian khai thác chọn các loài cây gỗ



22



mà hình thành. Rừng phân bố chủ yếu ở những nơi có độ cao hơn 300m. tập trung

thành những mảng lớn ở phái Đông Nam và Tây Nam trong khư vực. Kiểu rừng

này có 2 dạng theo nguồn gốc hình thành:

- Rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác Kiểu rừng này có diện tích 610,2ha, chiếm

50,55% diện tích trong khu vực. Đây là kiểu rừng được hình thành từ hệ quả khai

thác lâu dài làm cho trữ lượng rừng bị cạn kiệt, tán rừng bị phá vỡ, chỉ còn 2 tầng

chính là tầng cây gỗ và tầng cây bụi thảm tươi, dây leo phát triển mạnh làm cho

rừng rất rậm rạp. Tầng cây gỗ các loài ưa sáng mọc nhanh chiếm vai trò ưu thế. Tuy

nhiên, trong tầng rừng này còn tồn tại một số lồi cây có giá trị kinh tế cao nhưng

rất hiếm như: Sến, Lim xanh, Trường sâng, Đinh, Lát hoa…Và một số cây khác như:

Giổi, Trám, Táu, Gội…trong tầng tán rừng này có nhiều nơi hốn giao với các loài

Nứa, Giang.

Kiểu rừng này là sinh cảnh quan trọng nhất cho các loài động vật trong khư vực như

các lồi thú, chim, bò sát, ếch nhái. Đây là kiểu rừng cần được bảo về tốt và xúc tiến

làm giàu rừng.

- Rừng thứ sinh phục hồi trên đất mất rừng Kiểu rừng này có diện tích 43,16ha,

chiếm 3,58% tổng diện tích. Rừng có nguồn gốc chủ yếu từ nương rãy hoặc khai

thác trắng. Chúng phân bố chủ yếu dọc các khe suối và ven đường nơi mà nương

rãy đã bỏ hoang nhiều năm. Rừng chỉ có 1 tầng với các loài ưa sáng mọc nhanh như:

Mần tang, Dẻ gai, Hu đay, Súm, Lòng mang, Ba bét, Xoan nhừ, Thơi ba. Rừng còn

non chưa có trữ lượng. Kiểu rừng này là sinh cảnh của các loài động vật nhỏ: các

loài thú gặm nhấm và các loài chim. Nếu được khoanh ni bảo vệ tốt có thể trở

thành kiểu rừng kín thường xanh.

(2) Rừng trồng Rừng trồng có diện tích 414,44ha, chiếm 34,33% tổng diện tích

khu vực. Các lồi cây trồng chủ yếu là: Bạch đàn, Keo tai tượng, Thông mã vĩ.

Khu hệ thực vật rừng Kết quả điều tra bước đầu đã xác định 424 loài thuộc 298 chi,

118 họ thực vật bậc cao có mạch. Dưới đây là thành phần các loài thực vật được xác

định trong khu vực:



23



Bảng 2.2. Bảng thành phần các loài thực vật

STT Ngành thực vật



Số họ



Số chi



Số lồi



1



Ngành thơng đất



2



3



4



2



Ngành dương xỉ



10



15



21



3



Ngành hạt trần



3



3



3



4



Ngành ngọc lan

4.1



Lớp Ngọc lan



85



226



324



4.2



Lớp một lá mầm



18



51



72



118



298



424



Tổng



(Nguồn: Kết quả điều tra của BQL KDL Suối Mỡ)

Trong số bốn ngành thực vật thì Ngành Ngọc lan – Magnoliophyta 330 loài

chiếm 92% tổng số loài hiện diện trong vùng nguyên liệu giấy, còn lại lần lượt

thuộc về các Ngành Dương xỉ - Polypodiophyta 21 lồi chiếm 6%, Ngành Thơng

đất – Lycopodiophyta 4 loài chiếm 1% cuối cùng thuộc về ngành Hạt trần

Gymnospermae 2 loài chiếm 0.5%.

Giá trị tài nguyên thực vật, dựa trên danh mục cây thuốc bước đầu đã xác định

được 4 nhóm cây như sau:

- Nhóm cây cho thuốc, gồm 138 lồi: Quyền ba lá tròn, Nhọ nồi, Núc nác, Gối hạc,

Huyết đằng, Bách bộ, Thổ phục linh, một số lồi ngũ gia bì.

- Nhóm cây làm cảnh, gồm 43 loài, được phân bố ở nhiều họ khác nhau: Hoa lan,

Đa si, Chò nâu, Cọ, Cau…

- Nhóm cây ăn được, gồm 10 lồi.

- Nhóm cây cho tinh dầu và nhựa, gồm 19 loài.

Khu hệ động vật rừng

Kết quả điều tra bước đầu khu hệ động vật có xương sống trên cạn ở Suối

Mỡ đã thống kê được 108 loài, thuộc 63 họ, 19 bộ như bảng sau:



24



Bảng 2.3: Thành phần lồi động vật có xương sống trên cạn

Số lồi



Số họ



Số bộ



Lớp



Suối Mỡ Cả nước



Suối Mỡ



Cả nước



Suối Mỡ



Cả nước



Thú



19



322



19



43



5



15



Chim



60



899



32



86



11



19



Bò sát – 29



458



12



32



3



6



1.679



63



161



19



40



Lưỡng thê

Tổng



108



(Nguồn, Kết quả điều tra của Ban quản lý KDL Suối Mỡ)

Thành phần lồi động vật có xương sống trên cạn ở Suối Mỡ chiếm khoảng 10% so

với thành phần loài động vật toàn quốc. Đối với một khu di tích văn hóa lịch sử với

diện tích khoảng 1000ha thì thành phần lồi động vật ở đây cũng tương đối đa dạng,

cần được bảo tồn.

Trong số các lồi ghi nhận được, 13 lồi có mẫu vật minh chứng. Các mẫu vật này

được sưu tầm hoặc quan sát thấy trong nhà thợ săn địa phương. Trong số các lồi

được nghi nhận trong khu vực có 16 lồi đang bị đe dọa, trong đó 10 lồi được nghi

nhận trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 (SĐVN), 02 loài được ghi trong Danh mục

đỏ thế giới 2009 (IUCN Redlist) và 16 lồi trong Nghị định 32/CP của Chính phủ

về quản lý động vật hoang dã (NĐ 32/CP).

- Tình trạng quần thể của một số loài động vật rừng đã trở nên rất nghèo kiệt. Trong

đợt khảo sát gần đây chỉ ghi nhận được một số lồi động vật nhỏ thích nghi với sinh

cảnh rừng thứ sinh hoặc cây bụi.

 Giá trị về địa hình

Đặc điểm địa hình khu vực nằm trong vùng đồi núi thấp, là một trong 3 dạng

địa hình của huyện Lục Nam, thuộc tiểu vùng miền núi của tỉnh Bắc Giang; địa hình

thấp dần từ Nam xuống Bắc, bị chia cắt mạnh, độ dốc phổ biến từ 25 - 35º. Khu vực

được bao quanh bởi dãy đồi và núi thấp (có đỉnh núi Huyền Đinh cao 621m) hình

cánh cung, với chiều dài khoảng 5km và rộng khoảng 2,5km, ở giữa là hồ Hố Chuối,



25



Suối Mỡ (có năm bậc thác mẹ con từ đền Thượng xuống đền Trung), các khe suối

nhỏ và những thung lũng nhỏ, hẹp, đất bằng xen kẽ các quả đồi, núi độc lập chạy

dọc gần hết chiều dài của khu vực, tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình.

Một trong những điểm khiến bất cứ du khách nào đã từng đến với Suối Mỡ

không thể qn được đó chính là vẻ đẹp của năm bậc thác mẹ con từ Đền Trung lên

Đền Thượng. Tương truyền rằng nước Suối Mỡ quanh năm chảy rì rào khơng ngớt

chính là dấu năm ngón tay của nàng cơng chúa Quế Mỵ Nương ấn xuống phiến đá

mà tạo thành. Thác Suối Mỡ với chiều dài khoảng 300m được tạo nên bởi năm bậc

thác dưới chân mỗi bậc thác đều có các bồn tắm tự nhiên hết sức kỳ thú. Chính vì

vậy, thác Suối Mỡ có sức lơi cuốn kỳ lạ đối với du khách khi đến tham quan. Bàn

tay của mẹ thiên nhiên thật khéo léo khi ban tặng cho nơi đây những phiến đá

khổng lồ với đủ các hình thù lạ mắt. Năm bậc thác Suối Mỡ với năm vẻ đẹp riêng

biệt, mỗi bậc thác lại là một cung bậc, càng lên cao càng nghe bao âm thanh réo rắt,

trầm bổng.

Bậc thác thứ nhất có khơng gian thống và rộng nhất với diện tích khoảng

700m. Điểm đáng nhớ của bậc thác này là dòng suối chảy xòe ra trông giống như

một chiếc quạt khổng lồ và trên đỉnh thác là những phiến đá lớn, bằng phẳng như

những chiếc giường được đặt dưới bóng cây Nhội cổ thụ. Đây là một điểm dừng

chân lý tưởng giúp cho du khách quên đi những mệt mỏi sau một chặng đường dài.

Bậc thác thứ hai hết sức tuyệt đẹp đó chính là một dải lụa trắng bị chặn bởi một

phiến đá lớn dưới chân. Bên cạnh thác 2 có một phiến đá nằm nghiêng giống như

nàng tiên cá khốc trên mình tấm áo choàng bằng nước. Với sự hẫp dẫn riêng, bậc

thác hai thường là nơi lý tưởng để du khách lưu lại những hình ảnh đẹp nhất của

mình khi đến với Suối Mỡ

Với không gian hẹp, độ chảy lớn, bậc thác thứ ba như những màn mưa tung bọt

trắng xóa. Đến với Suối Mỡ, du khách sẽ được ngâm mình trong làn nước trong mát

để cho làn nước từ trên cao dội xuống mơn man khắp cơ thể như một môn vật lý trị

liệu giúp quý khách xua tan đi những căng thẳng mệt mỏi sau những ngày làm việc



26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

 Giá trị về đa dạng sinh học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×