Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Tải bản đầy đủ - 0trang

ngành du lịch cần phải có những giải pháp đồng bộ tác động lên các chủ thể này

mới đảm bảo đưa hoạt động ngành du lịch phát triển một cách bền vững.

1.1.2. Khái niệm phát triển du lịch

Du lịch được tạo thành từ những mắt xích, như giao thơng vận chuyển, thương

mại, dịch vụ… Bản thân ngành du lịch không thể đứng một mình để phát triển mà

cần liên kết với các ngành khác nhằm tạo ra sức cạnh tranh để phát triển.

Phát triển du lịch đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của toàn

nhân loại trong thế kỷ XXI. Tuy nhiên để phát triển du lịch mang tính lâu dài thì

phải tính đến yếu tố bền vững. Phát triển du lịch bền vững trở thành xu hướng và

mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như

Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Do đó quan điểm phát triển du lịch cần được

vận dụng trong việc tổ chức quản lý, triển khai đánh giá các hoạt động du lịch và

trong việc nghiên cứu tiến hành quy hoạch du lịch.

Du lịch là ngành dịch vụ hoạt động trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn những

nhu cầu vui chơi giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, các nét đẹp văn hóa…của dân cư các

miền khác nhau trên thế giới để thu được lợi nhuận. Vì vậy, việc đẩy mạnh phát

triển du lịch thường được các quốc gia trên thế giới quan tâm đề cao vì tính hiệu

quả của nó, đơi khi nó còn được gọi là “nền cơng nghiệp khơng khói”.

Theo Hội đồng thế giới về Mơi trường và phát triển (WCED): “Phát triển bền

vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả

năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”.

Theo Khoản 14, Điều 3, Chương I – Luật Du lịch Việt Nam (năm 2017): “Du

lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã

hội và môi trường, đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du

lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”.

Trên cơ sở khái niệm về phát triển đã được giới thiệu ở trên, có thể đi đến việc

xác lập nội hàm của phát triển du lịch như sau: Đó là sự gia tăng sản lượng và

doanh thu cùng mức độ đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế, đồng thời có



9



sự hồn thiện về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của

ngành du lịch.

1.2. Khu du lịch

1.2.1. Khái niệm

Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã hình thành nên rất nhiều các

khu du lịch lớn nhỏ. Nhìn chung khu du lịch là đơn vị cơ bản của công tác quy

hoạch và quản lý du lịch, là khơng gian có mơi trường đẹp, cảnh vật tương đối tập

trung, là tổng thể về địa lý lấy chức năng du lịch làm chính. Mỗi một khu du lịch

đều phải đáp ứng đủ các điều kiện về nguồn tài nguyên du lịch, sức tải khách du

lịch cũng như có khả năng phục vụ khách du lịch về ăn ở, đi lại, nghỉ ngơi, thăm

quan ngắm cảnh, vui chơi giải trí, mua sắm…

Theo mục 6, điều 3, chương I Luật Du lịch (2017): Khu du lịch là nơi có ưu

thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu

đa dạng của khách du lịch. Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch

quốc gia

1.2.2. Điều kiện hình thành khu du lịch

Theo luật du lịch, hiện nay căn cứ vào quy mô, mức độ thu hút khách du lịch, khả

năng cung cấp và chất lượng dịch vụ có hai loại khu du lịch là khu du lịch địa

phương và khu du lịch quốc gia. Tùy thuộc vào từng loại khu du lịch mà điều kiện

cơng nhận khác nhau.

* Khu du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là khu du lịch cấp tỉnh:

a) Có tài nguyên du lịch với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa, có

ranh giới xác định;

b) Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn

uống và các nhu cầu khác của khách du lịch;

c) Có kết nối với hệ thống hạ tầng giao thông, viễn thông quốc gia;

d) Đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường theo quy

định của pháp luật;

2. Điều kiện công nhận khu du lịch quốc gia bao gồm:



10



a) Có tài nguyên du lịch đa dạng, đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên

nhiên hoặc giá trị văn hóa, có ranh giới xác định;

b) Có trong danh mục các khu vực có tiềm năng phát triển khu du lịch quốc gia

được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

c) Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ chất lượng cao, đồng bộ, đáp

ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các nhu cầu khác của khách du lịch;

d) Các điều kiện quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 về điều 26 luật Du lịch [19]

1.3. Các điều kiện để phát triển du lịch

1.3.1. Điều kiện an ninh chính trị, an tồn xã hội

Để du lịch khơng ngừng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất

nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các hoạt động du lịch

cũng như các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Sự đảm bảo vững

chắc về quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tới tham

quan.

Du lịch bên cạnh việc nghỉ ngơi là thẩm nhận những giá trị vật chất, tin thần

độc đáo, khác lạ với q hương mình. Điều này đòi hỏi sự giao lưu, đi lại của du

khách giữa hai quốc gia, các vùng với nhau. Bầu chính trị hòa bình, hữu nghị sẽ

kích thích sự phát triển của du lịch quốc tế. Một thế giới bất ổn về chính trị, xung

đột sắc tốc, tôn giáo làm ảnh hưởng tới việc phát triển du lịch tức là nó khơng làm

tròn sứ mệnh đối với du lịch, gây nên nỗi hoài nghi, lo sợ đối với du khách.

Thiên tai cũng có tác động xấu đến sự phát triển du lịch. Ví dụ như Nhật Bản,

đất nước xinh đẹp nhưng lại luôn phải hứng chịu những trận động đất, gây khó khăn

cho phát triển du lịch. Vào tháng 3 năm 2011, một trận sóng thần lớn nhất từ trước

tới nay đã xảy ra tại Nhật Bản gây thiệt hại lớn về người và của, ảnh hưởng lớn đến

phát triển du lịch của đất nước này. Bên cạnh thiệt hại nó còn nguồn phát sinh và

lây lan các bệnh dịch như tả lỵ, dịch hạch, sốt rét.

Từ những ví dụ trên cho thấy được tầm quan trọng của an ninh chính trị, an

tồn xã hội cho du khách và là nhân tố quan trọng tạo nên sự thành bại của ngành

du lịch.



11



1.3.2. Điều kiện về tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển du lịch.

Tài nguyên nghĩa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần được khai thác và phục

vụ cho mục đích phát triển nào đó của con người. Xét dưới góc độ cơ cấu tài

nguyên du lịch, có thể phân thành hai bộ phận hợp thành: Tài nguyên du lịch tự

nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa .

 Tài nguyên du lịch tự nhiên

*Địa hình: Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sảnphẩm của các quá trình

địa chất lâu dài (nội sinh, ngoại sinh ). Trong chừng mực nhất định, mọi hoạt động

sống của con người trên lãnhthổ đều phụ thuộc vào địa hình. Đối với hoạt động du

lịch, địa hình của một vùng đóng một vai trò quan trọng với việc thu hút khách.

* Khí hậu: Là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển du lịch,

nó tác động tới du lịch ở hai phương diện :

– Ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ

về du lịch .

– Một trong những nhân tố chính tạo nên tính mùa vụ du lịch .

+ Du lịch cả năm: Du lịch văn hóa, du lịch chữa bệnh .

+ Du lịch mùa đông: Du lịch thể thao .

+ Du lịch mùa hè: Du lịch biển, nói chung là phong phú.

* Tài nguyên nước: bao gồm nước chảy trên bề mặt và nước ngầm. Đối với du

lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn. ư Nhằm mục đích phục vụ du lịch, nước

sử dụng tùy theo nhu cầ, sự thích ứng của cá nhân, độ tuổi và quốc gia. Trong tài

nguyên nước, cần phải nói đến tài nguyên nước khống. Đây là nguồn tài ngun có

giá trị du lịch an dưỡng và chữa bệnh.

* Hệ động thực vật: Đây là một tiềm năng du lịch đã và đang khai thác có sức

hấp dẫn lớn khách du lịch. Du khách đến với các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên

nhiên để tham quan thế giới động thực vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên để

con người thêm yêu cuộc sống. Bên cạnh đó là việc phát triển loại hình du lịch



12



nghiên cứu khoa học và du lịch thể thao săn bắn (phụ thuộc vào quy định từng

vùng).

 Tài nguyên du lịch văn hóa

Tiềm năng du lịch văn hóa là đối tượng và hiện tượng văn hóa lịch sử do con

người sáng tạo ra trong đời sống. So với tiềm năng du lịch tự nhiên, tiềm năng du

lịch văn hóa có tác dụng nhận thức nhiều hơn, giá trị giải trí là thứ yếu. Tiềm năng

du lịch văn hóa thường tập trung ở các thành phố lớn, là đầu mối giao thông và là

nơi tập trung cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Đại bộ phận tài nguyên du lịch văn hóa

khơng có tính mùa, khơng bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên tần suất hoạt

động của nó là rất lớn (lượng khách, số ngày khách đến).

Di tích lịch sử văn hố: là tài sản văn hoá quý giá của mỗ địa phương, mỗi đất

nước và của cả nhân loại.

Lễ hội: Bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, và bất cứ mùa nào cũng có

những ngày lễ hội. Lễ hội là hoạt động sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra trên địa

bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định nhằm nhắc lại những sự kiện lịch

sử, nhân vật lịch sử hay một huyền thoại, đồng thời là dịp để hiểu biết cách ứng xử

văn hoá của con người với thiên nhiên thần thánh và con người với xã hội. Các lễ

hội có sức hấp dẫn du khách khơng kém gì các di tích lịch sự văn hố.

Văn hóa ẩm thực: Người ta nói ăn uống là biểu hiện của văn hóa. Mỗi quốc

gia có một quan niệm khác nhau và vì vậy hình thành phong cách ẩm thực riêng cho

mình. Ngày nay, việc đưa văn hóa ẩm thực vào các chương trình du lịch đã trở nên

phổ biến. Đó là cách để lấy tiền của du khách một cách lịch sự nhất. Việc xây dựng

các chương trình du lịch ẩm thực thường được các công ty tổ chức thành hai loại:

Chương trình du lịch chuyên biệt và chương trình du lịch kết hợp.

1.3.3. Điều kiện về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Đây là điều kiện quan trọng để có thể tiếp cận khai thác các tiềm năng du lịch

và tổ chức các dịch vụ du lịch tại điểm du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm

nhiều thành phần, chúng có chức năng và ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra và

thực hiện các sản phẩm du lịch. Để đảm bảo cho việc tham quan du lịch cần pải xây



13



dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tương ứng hệ đường

sá, thông tin liên lạc, nhà hàng, khách sạn, cửa hiệu, trạm y tế...

1.3.4. Điều kiện về thị trường khách du lịch

Việc nhận định đánh giá đúng thị trường khách du lịch của một điểm du lịch

sẽ giúp đầu tư hiệu quả và tăng doanh thu do đánh trúng tâm lý du khách, biết họ

muốn gì, cần gì khi đến với điểm du lịch đó. Từ đó, thu hút được lượng khách đông

hơn cả về chất lượng và số lượng. Thông qua việc nắm bắt thị trường khách, các

dịch vụ nhằm phục vụ các nhu cầu của khách du lịch sẽ nhiều hơn, đầy đủ hơn và

tốt hơn.

1.3.5. Điều kiện về đội ngũ lao động

Đội ngũ lao động là yếu tố quản lý, vận hành hoạt động du lịch. Chất lượng

của đội ngũ lao động trong hoạt động nghiệp vụ còn quyết định chất lượng sản

phẩm du lịch. Nguồn nhân lực du lịch là một trong những yếu tố quan trọng hàng

đầu mang tính quyết định trong tiến trình phát triển du lịch, bởi con người chính là

chủ thể của hoạt động lao động. Sở dĩ nguồn nhân lực du lịch trở thành một trong

những vấn đề cấp thiết của du lịch học hiện đại là vì khi du lịch ngày càng phát triển

thì nhu cầu về nguồn nhân lực ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng.

1.3.6. Điều kiện hỗ trợ khác

Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn đến thành cơng trong việc phát

triển du lịch. Nó có thể kìm hãm nếu đường lối sai với thực tế. Chính sách phát triển

du lịch được ở hai mặt: Thứ nhất là chính sách chung của Tổ chức du lịch thế giới

đối với các nước thành viên; thứ hai là chính sách của cơ quan quyền lực tại địa

phương, quốc gia đó. Mặt thứ hai có ý nghĩa quan trọng hơn cả vì nó huy động

được sức người, căn cứ vào khả năng thực tế tại mỗi vùng, quốc gia đó để đưa ra

chính sách phù hợp.

Các hoạt động xúc tiến quảng bá có khả năng mang hình ảnh của điểm du

lịch đến với khách du lịch dễ dàng hơn. Nếu hoạt động quảng bá tốt, du khách có

ấn tượng về điểm du lịch đó thì trong tương lai họ sẽ có khả năng chọn làm điểm

đến du lịch của mình. Ngược lại nếu khơng có chính sách quảng bá tốt thì dù điểm



14



du lịch đó có đẹp, có hấp dẫn nhưng khơng ai biết đến thì sự lựa chọn cũng hạn

chế hơn

1.4. Các bên liên quan trong phát triển du lịch

1.4.1. Khách du lịch

Ngày 4-3-1993 theo đề nghị của Tổ chức du lịch thế giới (WTO), Hội đồng

thống kê Liên hợp quốc (United Nations Statistical Commission) đã công nhận

những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch. Khách du lịch

quốc tế (International Tourist) bao gồm:

- Khách du lịch quốc tế đến (Inbound Tourist): gồm những người từ nước

ngoài đến du lịch một quốc gia.

- Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound Tourist): gồm những người

đang sống trong một quốc gia đi du lịch ra nước ngoài.

- Khách du lịch trong nước (Internal Tourist/Domestic Tourist): gồm những

người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh

thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước.[12]

Theo Luật Việt Nam (2017) thì Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa

và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngồi

- Khách du lịch nội địa là cơng dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại

Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam.

- Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam

định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch

Ngồi ra còn có các cách phân loại khác: theo nguồn gốc dân tộc, theo độ tuổi,

giới tính, nghề nghiệp, theo khả năng thanh toán….

Trên đây chỉ là một số tiêu thức phân loại khách du lịch thường dùng. Mỗi tiêu

thức đều có ưu, nhược điểm riêng vì vậy khi nghiên cứu khách du lịch cần kết hợp

nhiều cách phân loại. Việc phân loại khách du lịch một cách đầy đủ, chính xác sẽ

tạo tiền đề cho việc hoạch định các chiến lược, chính sách kinh doanh từ đó việc

kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hơn. Với luận văn của mình tác giả tập



15



trung vào khách du lịch nội địa đến KDL. Nghiên cứu kỹ hơn về đặc điểm, các hoạt

động, nhu cầu, mong muốn du lịch của từng nhóm khách

1.4.2. Nhà cung cấp sản phẩm du lịch

Nhà cung cấp sản phẩm du lịch là các bộ phận riêng lẻ, cung cấp các sản phẩm,

dịch vụ du lịch cho khách du lịch trong khi du lịch. Theo cách hiểu thông thường,

nhà cung cấp sản phẩm du lịch là bất cứ cá nhân hay tổ chức kinh doanh nào có

chức năng cung cấp cho khách du lịch một phần, nhiều hơn hoặc toàn bộ sản phẩm

nhằm thỏa mãn các nhu cầu phát sinh trong quá trình du lịch. Có thể chia ra là: các

doanh nghiệp kinh doanh du lịch, các nhà cung cấp các sản phẩm phục vụ khách du

lịch và các nhà cung cấp các dịch vụ khác. Vai trò của các nhà cung ứng là rất lớn

và quan trọng trong việc tạo thành một tour du lịch trọn vẹn cho khách du lịch trong

quá trình tham quan du lịch.

1.4.3. Các cấp chính quyền địa phương

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính quyền địa phương là một tổ chức

hành chính có tư cách pháp nhân được hiến pháp và pháp luật cơng nhận sự tồn tại

vì mục đích quản lý một khu vực nằm trong một quốc gia”. [12]

Chính quyền địa phương có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi, lợi ích của nhân dân tại

khu vực và là cơ quan quản lý trực tiếp ở mỗi điểm du lịch. Nếu một điểm du lịch

được các cấp chính quyền tạo điều kiện thuận lợi thơng qua các cơ chế, chính sách,

ngân sách đầu tư cho du lịch thì ở đó có cơ hội phát triển du lịch rất tốt. Ngược lại,

nếu không nhận được sự quan tâm, chỉ đạo tốt thì điểm du lịch đó khó lòng có thể

phát triển tốt và lâu dài được.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 đã đưa ra khái niệm cơ bản về phát triển du lịch cũng như các điều

kiện cần để phát triển du lịch. Trong đó, khái niệm về khu du lịch, điều kiện để hình

thành khu du lịch theo Luật Du lịch được tổng hợp để làm nền móng cho việc đánh

giá khu du lịch Suối Mỡ sau này. Với vai trò là cơ sở lý luận để phân tích, phát triển



16



cho chương 2, chương 1 đã nêu ra các điều kiện về cung và cầu để có thể phát triển

được du lịch bao gồm các điều kiện về

 Tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa

 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

 Thị trường khách du lịch

 Đội ngũ lao động

 Cơ chế, chính sách

Bên cạnh đó, việc tìm hiểu phân tích các bên liên quan tham gia vào quá trình

tạo ra sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn những nhu cầu của khách du lịch chính là

những cơ sở lý luận cơ bản để đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại khu du lịch

được nghiên cứu



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×