Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cấu trúc của luận văn

Cấu trúc của luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5-6 TUỔI

QUA TRỊ CHƠI ĐĨNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON

THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN.

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

* Sơ lược những nghiên cứu ở nước ngoài:

Từ những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các nước phương Tây đã

áp dụng phương pháp dạy hợp tác. Nhà giáo dục người Anh Andrew Bell (1979) và

người phát triển hệ thống giáo dục theo quan điểm của ông là Joseph Lancaster

(1978) đã đưa ra hình thức dạy tương trợ, theo đó người học được tổ chức theo

nhóm nhỏ để hoạt động, GV tạo điều kiện cho người học cùng nhau trao đổi, hợp

tác chia sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề để giáo dục phát triển KNHT

nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy [41].

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ý tưởng học tập hợp tác nhanh chóng

truyền từ Anh sang Mỹ. Một trong những người thành công nhất trong ý tưởng này

là Francis Parker, ông nhận thấy sự hợp tác sẽ giúp trẻ tự tin dân chủ trong mọi việc

và việc học tập sẽ đạt hiệu quả cao khi có sự chia sẻ suy nghĩ thông tin về học tập.

D. Jonhson và R. Jonhson đã xuất bản cuốn “Học cùng nhau và học độc lập” ở cuốn

sách này tác giả nói rõ hợp tác tức là sự phụ thuộc tích cực, sự tương tác đối mặt với

nhau, có trách nhiệm, biết sử dụng các kỹ năng nhóm và nhận xét nhóm,… Đồng

thời tác giả cũng nêu lên mối quan hệ trong quá trình hoạt động nhóm: hợp tác,

tranh đua, cá nhân. Hợp tác nhóm có tích cực hay khơng đó là vấn đề phụ thuộc các

cá nhân của nhóm [44].

Ở thế kỷ XX, việc hợp tác thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên

cứu, cụ thể: R.Cousinet (nhà giáo dục người Pháp) ln quan tâm đến q trình

hình thành KNHT của người học bằng nhiều hình thức khác nhau, theo quan điểm

của ông: GV phải biết tạo mọi điều kiện cho học sinh tự do chọn bạn để học tập, để

chơi theo nhóm, bởi: học tập theo nhóm sẽ tránh đi sự lười biếng, học sinh sẽ không

phải bỏ dở công việc hay khơng biết làm việc. Chính sự hợp tác làm việc nhóm đã

làm cho người học có cách nghĩ, cách nhận định khác khi nhận xét bạn mình và

được nghe bạn nhận xét về mình từ đó người học có thêm kinh nghiệm xã hội [44].



7



James Coleman khẳng định tầm quan trọng của cách dạy học theo kiểu hợp

tác, ông luôn khuyến khích các nhà giáo dục thiết kế nội dung các hoạt động, các

tình huống tạo điều kiện cho trẻ chia sẻ hợp tác với nhau thay cho việc cạnh tranh

trong học tập [39].

J.Piaget (1960/1965) khẳng định hoạt động thúc đẩy liên tục trí tuệ phát triển

đó là hoạt động vui chơi. Thơng qua vui chơi trẻ có nhiều cơ hội trải nghiệm và

khám phá. Đặc biệt, ông nhấn mạnh vai trò của sự tương tác, hợp tác giữa “bạn bè”

trong sự phát triển của trẻ, ông cho rằng chính sự tương tác này sẽ nảy sinh mâu

thuẫn làm phong phú khả năng giao tiếp và phát triển trí tuệ cho trẻ. Trong q trình

nghiên cứu, J.Piaget và bà M.Parten xem xét sự phát triển trò chơi trải qua 5 giai

đoạn, đó là chơi một mình, chơi và quan sát người khác chơi, chơi song song với

bạn, chơi có liên kết với bạn, chơi hợp tác với người khác. Mỗi kiểu chơi được xem

là một loại quan hệ xã hội [39].

Theo Mos và Boodt (1991), Goldstein (1996), trong qua trình chơi, trẻ phát

triển theo nhiều mối quan hệ hợp tác, bao gồm bạn cùng lớp và cả người lớn. Ở lứa

tuổi mẫu giáo hầu hết các hoạt động phát triển mạnh là nhờ KNHT. Những trẻ khó

chơi với nhau sẽ gặp khó khăn trong việc giao tiếp bạn. Năng lực xã hội liên quan

đến khả năng giao tiếp, cũng như tham gia vào trod chơi của những đứa trẻ (Uren

và Stagnitti, 2009) [48].

Nhà nghiên cứu Stuart Brown (2009) cho rằng khơng có hoạt động vui chơi

con người sẽ thiếu đi sự tương tác cần thiết để học hỏi và thấu hiểu cảm xúc, ý

tưởng; theo ông con người sinh ra được vui chơi, vì qua vui chơi con người có thể

trưởng thành [50].

Còn đối với A.N.Leontiev, A.N (1979), đã xác định hoạt động chủ đạo trong

sự phát triển của trẻ em giai đoạn này là hoạt động vui chơi [41]. Đây là hoạt động

chủ đạo của lứa tuổi này nó mang ba đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, đây là hoạt động trong đó làm nảy sinh hoạt động mới khác, trong

vui chơi xuất hiện hoạt động học tập “Học bằng chơi, chơi mà học”;

Thứ hai, hoạt động mà trong đó các q trình tâm lý riêng biệt được hình

thành hay tổ chức lại.

8



Thứ ba, là hoạt động mà những biến đổi tâm lý cơ bản của nhân cách trẻ

trong giai đoạn đó đều phụ thuộc chặt chẽ vào nó.

Quan điểm này cho thấy khi chơi trẻ thể hiện mình với bạn, hợp tác cùng

bạn, biết ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức: biết yêu thương, nhường nhịn,

lắng nghe, tơn trọng, chờ đến lượt….

Theo Físher, qua vui chơi trẻ sáng tạo lại những nguyên tắc và tình huống

phản chiếu thế giới văn hố thế giới văn hoá - xã hội của bản thân, chúng học cách

đưa ra nguyên tắc xã hội, hợp tác với người khác mạnh mẽ và thúc đẩy hành vi xã

hội phù hợp. Việc phối hợp chơi với nhau cùng với bạn trong lớp hay chơi với

nhóm sẽ giúp trẻ có nhiều cơ hội được học hỏi và phát triển toàn diện - theo lời nhà

nghiên cứu Jeffrey Goldstein (2012) [49].

John Deway nhà giáo dục Mỹ đã đề cao khía cạnh xã hội việc học và vai

trò của nhà giáo. Ơng cho rằng con người có bản chất hợp tác, tuy nhiên nếu

muốn học cách để sống hợp tác thì họ phải trải nghiệm quá trình sống hợp tác ở

nhà trường; tại đây các em cần được dạy và trải nghiệm biết thông cảm với

người khác, tôn trọng người khác biết làm việc cùng nhau để cùng nhau giải

quyết vấn đề theo lẽ phải. Cuộc sống hợp tác tại lớp học thể hiện q trình dân

chủ hố trong thế giới vi mơ và trung tâm của cuộc sống dân chủ ở đây là sự hợp

tác của các thành viên trong nhóm [45].

* Sơ lược những nghiên cứu ở trong nước:

Ở Việt Nam, vấn đề hợp tác và giáo dục KNHT cũng có nhiều nhà nghiên

cứu quan tâm.

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm non” cũng đã đề

cập đến việc hình thành KNHT qua TC ĐVTCĐ, tác giả đã phân tích cụ thể bản chất của

TC, cấu trúc, đặc điểm hoạt động chơi của trẻ em. Ở đây tác giả nhấn mạnh TC ĐVTCĐ,

trẻ không thể chơi một mình mà phải chơi theo nhóm và có nhiều thành viên trong nhóm

chơi với nhau, chính điều này đã làm thúc đẩy sự hợp tác của trẻ [29].

Tác giả Lê Xuân Hồng (1996), trong mối quan hệ chơi trong TC ĐVTCĐ,

tác giả đã phát hiện sự tích cực chủ động hợp tác giữa trẻ với nhau trong vui chơi,

đặc biệt là giữa các trẻ khơng cùng độ tuổi. Chính nhờ mối quan hệ nhiều chiều, trẻ

9



có điều kiện thể hiện tinh thần học hỏi, hợp tác tương trợ lẫn nhau tạo mối quan hệ

tốt; quan hệ thực và quan hệ chơi được thiết lập một cách dễ dàng, các quan hệ giữa

trẻ với nhau được mở rộng kích thích quá trình giao tiếp hợp tác với nhau giúp trẻ

phát triển toàn diện về nhân cách [10].

Cùng với các tác giả Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai-Lê Xuân Hồng

(2000) cũng đã đề cập đến sự phát triển các kỹ năng cần thiết cho trẻ mầm non và

thúc đẩy sự phát triển KNHT là một trong những mục tiêu cần thiết và được thể

hiện qua nhiều hình thức: giúp trẻ hoà nhập với trẻ khác, tạo cơ hội cho trẻ chơi và

làm việc với trẻ khác, giúp trẻ học cách tham gia vào một TC, tạo những cảm nhận

giúp trẻ tôn trọng những quyền lợi của trẻ khác, chia sẻ và cảm thông. [38].

Theo tác giả Đặng Thành Hưng cũng bàn nhiều về giáo dục KNHT. Ông cho

rằng mối quan hệ giữa người học với nhau trong quá trình dạy học mang tính hợp

tác và cạnh tranh tương đối điều này làm cho người học năng động hơn phát triển

theo chiều hướng hiện đại và đạt chất lượng tốt hơn [7].

Tác giả Đinh Thị Tứ- Phan Trọng Ngọ (2007), cũng đã nói đến vấn đề: “ Các

khía cạnh ảnh hưởng của bạn đến quá trình phát triển của trẻ: vai trò của bạn đối với

trẻ, sự tương tác với bạn ngang hàng phát triển ở trẻ mơ hình kỹ năng xã hội cơ bản,

phát triển cách ứng xử giữa bạn bè với nhau và mọi người xung quanh…”[6]

Như vậy, bạn bè là những tác nhân để trẻ điều chỉnh hành vi, so sánh hành vi xã

hội của mình, là tấm gương phản chiếu để điều chỉnh hành vi của trẻ. Chính sự tương

tác diễn ra trong các hành động chơi là điều kiện tạo ra tính hợp tác. Chính vì thế, khi

xuất hiện các TC cần có sự hợp tác với nhau thì trẻ mới có tiêu chuẩn về bạn.

Cao Thị Cúc (2009) cho rằng: trẻ 5-6 tuổi đã có KNHT cơ bản khi tham gia vào

các hoạt động chung của lớp mẫu giáo: cùng thoả thuận về chủ đề chơi, nội dung chơi,

phân vai chơi…. tuy nhiên kỹ năng này chưa được bền vững cần được giáo dục và rèn

luyện đúng thông qua hoạt động chơi (TC ĐVTCĐ, TC lắp ghép…)[37].

Trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” tính hợp tác là một trong những nội

dung quan trọng ở lĩnh vực phát triển tình cảm – xã hội (Các chỉ số: lắng nghe ý

kiến của mình, của bạn, trao đổi ý kiến với người khác, thể hiện sự thân thiện, đồn

kết với bạn bè, chấp nhận sự phân cơng của nhóm bạn và người lớn, sẵn sàng thực

hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác [1].

10



Tác giả Lê Minh Thuận với quyển sách “TC phân vai theo chủ đề và việc

hình thành nhân cách cho trẻ mẫu giáo” cũng đã đề cập nhiều đến vấn đề hợp tác

của trẻ giữa bạn bè với nhau thông qua TC ĐVTCĐ và TC cũng được xây dựng

hướng dẫn theo từng độ tuổi một cách rõ ràng. [39].

Tiến sĩ Đào Thanh Âm đã có viết về vai trò của việc thiết lập mối quan hệ

với bạn cùng tuổi ở trẻ mẫu giáo”. Chính việc thiết lập mối quan hệ bạn bè sẽ là

điều kiện thuận lợi giúp trẻ phát triển KNHT với nhau nhất là đối với những trẻ

cùng độ tuổi với nhau: dễ gần, dễ hồ nhập, có những hành vi giống nhau nên việc

hợp tác sẽ dễ dàng hơn [8].

Tóm lại, các cơng trình nghiên cứu đều khẳng định TC ĐVTCĐ mang tính

xã hội hợp tác là dạng thức cao nhất trong trò chơi đóng vai giúp trẻ hồ nhập với

bạn bè trong giai đoạn MG. Việc nghiên cứu tính hợp tác cho trẻ thơng qua TC

ĐVTCĐ tuy đã có đề cập đến, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy

đủ và hoàn chỉnh về các biện pháp giáo dục KNHT cho trẻ thông qua TC ĐVTCĐ

* Những nghiên cứu về TC ĐVTCĐ

Khi phân tích về TC ĐVTCĐ G.V.Plekhanov đã chú ý nhiều về vấn đề TC và

nguồn gốc TC (cho tất cả các dân tộc khác nhau). Ông cho rằng TC phản ánh hoạt động

lao động của người lớn ví dụ: bé trai đóng vai bắt chước làm các chú cơng nhân xây

dựng còn bé gái bắt chước làm cô cấp dưỡng…, theo ông, TC là sợi dây nối liền giữa các

thế hệ với nhau, họ truyền đạt kinh nghiệm, thành quả lao động cho nhau.

Nhóm các nhà tâm lý học: A.N.Leontiev, L.X.Rubinstein, D.B.Elkonin… TC

mang tính hiện thực khách quan, TC có nguồn gốc từ lao động.

K.Gross nghiên cứu về bản chất của TC, ông cho rằng hành động chơi của

con người thực chất là sự luyện tập trước là hình thức hoạt động sống mà trong

đó các cơ thể non nớt được hoàn thiện, trong quá trình vui chơi trẻ lĩnh hội

những kinh nghiệm lịch sử lồi người, TC còn mang tính bản năng nhằm giải tỏa

năng lượng cho con người, vì với trẻ TC đáp ứng được bản năng phá phách

nghịch ngợm của chúng.

Trong hoạt động vui chơi thì TC ĐVTCĐ chiếm vị trí quan trọng đối với trẻ

mẫu giáo. Đây là tâm điểm thu hút nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau

như: xã hội, tâm lí học, giáo dục học…. và tất cả đều cho rằng TC ĐVTCĐ đều ảnh

hưởng đến sự phát triển của trẻ.

11



Ở Việt Nam, tác giả Trần Thị Nga đã nói về chức năng ký hiệu tượng trưng

trong TC ĐVTCĐ, chính hành vi này đã làm cho vui chơi của trẻ thể hiện rõ tính

mơ phỏng và bản chất xã hội. Nội dung chơi phản ánh những sự vật hiện tượng và

nhân vật có thực trong cuộc sống xung quanh trẻ, theo tác giả thì hành vi ký hiệu

tượng trưng trong TC ĐVTCĐ chủ yếu là sử dụng các vật, cử chỉ, điệu bộ, lời nói,

các ký hiệu tượng trưng thay thế cho đối tượng khác. Trong TC ĐVTCĐ bao gồm

các thành tố:

+ Sử dụng ký hiệu để biểu hiện cho vật khác;

+ Nhập vai người khác (giả vờ);

+ Các tình huống chơi giả vờ hay tình huống chơi tưởng tượng.

Nhóm tác giả: Nguyễn Xuân Thức và Nguyễn Thạc đã nêu lên được tính tích

cực của TC ĐVTCĐ tại các trường mầm non bao gồm: nhu cầu vui chơi của trẻ qua

TC ĐVTCĐ, tính chủ động và nhập vai khi chơi.

Kết quả nghiên cứu của nhà khoa học và các tác giả nêu trên đã đề cập đến

tầm quan trọng cần thiết của giáo dục KNHT nhằm góp phần phát triển và hồn

thiện nhân cách trẻ.

* Những nghiên cứu về giáo dục KNHT thông qua TC ĐVTCĐ

Tác giả Phạm Thị Thu Hương với đề tài “Một số biện pháp hình thành tính

hợp tác qua TC ĐVTCĐ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi”, với đề tài này tác giả đã đề

xuất biện pháp nhằm hình thành tính hợp tác cho trẻ cụ thể: tạo mối quan hệ chơi,

chơi cùng nhau, mở rộng mối quan hệ chơi với nhau trong quá trình chơi.

Tác giả Vũ Thị Nhâm cũng đã chỉ ra tính hợp tác thơng qua TC ĐVTCĐ đối

với lứa tuổi 5-6 tuổi đó là sự chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng chơi cùng nhau…. nhằm

kích thích tính tích cực trong q trình chơi của trẻ.

1.2. Trò chơi ĐVTCĐ ở trẻ 5-6 tuổi

1.2.1. Đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ 5-6 tuổi

Lứa tuổi 5-6 tuổi, các quá trình nhận thức của trẻ được hoàn thiện hơn, như:

- Về sự phát triển nhận cảm: quá trình phát triển cảm giác và tri giác phát

triển mạnh cho phép trẻ định hướng vào các thuộc tính và những mối quan hệ khác.

- Về khả năng tư duy của trẻ ở lứa tuổi này cũng phát triển mạnh. Ở độ tuổi

này tư duy trực quan hình tượng đã xuất hiện, ở kiểu tư duy này các hình ảnh đã bị

tước đi những chi tiết rườm rà và chỉ giữ lại các bộ phận chủ yếu. Điều này làm cho

12



hình tượng các sự vật hiện tượng mang tính khái qt hơn, nhờ đó mà tư duy logic

xuất hiện giúp trẻ có thể phán đốn suy luận…

- Đặc điểm trí nhớ: trẻ 5-6 tuổi ngày càng có tính chủ định hơn. Trí nhớ phát

triển là do yêu cầu người lớn đối với trẻ ngày càng cao.

- Đặc điểm phát triển chú ý: do sự phức tạp của công việc cũng như yêu cầu

của người lớn đặt ra cho trẻ đã tạo điều kiện cho chú ý có chủ định phát triển. Ở lứa

tuổi này khả năng chú ý phát triển và bền vững hơn.

Ví dụ: Tính bền vững của chú ý trẻ khi chơi (nếu người lớn tổ chức hoạt

động chơi tốt – hấp dẫn sẽ thu hút lôi cuốn sự chú ý của trẻ và dần chuyển sang

trạng thái thoải mái hơn để duy trì hoạt động.

- Đặc điểm ý chí: Ý chí phát triển làm cho trẻ có khả năng điều khiển hành vi

của mình tốt hơn so với trước, tính kiềm chế của trẻ tốt hơn vì thế trẻ có thể làm

theo sự điều khiển của người lớn chứ không bị tính bộc phát chi phối vì thế đặc

điểm nổi bật của ý chí trong lứa tuổi này là động cơ hành vi.

- Đặc điểm phát triển cảm xúc: Nét nổi bật của cảm xúc lứa tuổi này là là hình

thành tình cảm bậc cao như tình cảm trí tuệ (sự tìm tòi ham hiểu biết), tình cảm đạo

đức (dễ xúc cảm và đồng cảm), tình cảm thẩm mỹ (yêu cái đẹp xung quanh mình).

- Đặc điểm phát triển ngơn ngữ: với lứa tuổi này sử dụng rất thạo tiếng mẹ

đẻ, khả năng giao tiếp tốt. Ở lứa tuổi này trẻ nắm vững và thể hiện tốt ngữ âm, cấu

trúc ngữ pháp.

Ngơn ngữ mạch lạc thể hiện trình độ tương đối cao thể hiện rõ nét: trước đây

trẻ sử dụng ngôn ngữ theo kiểu tình huống giờ chuyển sang ngơn ngữ kiểu khác ít

phụ thuộc vào tình huống mà trẻ sử dụng chủ yếu là mô tả lại các sự vật hiện tượng.

Ở lứa tuổi này phát triển chủ yếu các ngơn ngữ: mạch lạc, giải thích,… Tuy

nhiên, khả năng ngơn ngữ phụ thuộc vào từng cá nhân trẻ ở lứa tuổi này, về vốn từ,

về cách diễn đạt mạch lạc và nói đúng ngữ pháp và cách thể hiện lời nói sáng tạo

1.2.2. Trò chơi ĐVTCĐ ở trẻ 5-6 tuổi

1.2.2.1 Khái niệm trò chơi ĐVTCĐ

* Hoạt động vui chơi

Đây là một trong ba dạng hoạt động cơ bản của con người (Hoạt động vui

chơi- Hoạt động học tập- Hoạt động lao động), và cũng là các hoạt động chủ đạo



13



của lứa tuổi mẫu giáo -(Giáo dục mầm non tập III, NXB Đại học sư phạm Hà Nội

Đào Thanh Âm). [8].

Chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ, điều này không

phải trẻ mẫu giáo dành nhiều thời gian cho nó mà chính do trò chơi đã gây biến đổi

về chất trong tâm lý trẻ và vui chơi đã gây chi phối các dạng hoạt động khác làm

cho nó mang tính độc đáo hơn ở lứa tuổi này. Hoạt động vui chơi mở rộng ở trẻ

không gian giao tiếp, chế độ sinh hoạt, phát triển cảm xúc bạn bè, phát triển kỹ năng

xã hội, KNHT cùng bạn bè….

* Khái niệm trò chơi:

Các nhà tâm lý - giáo dục học theo trường phái sinh học như K.Gross,

S.Hall, V.Stern ... cho rằng, trò chơi là do bản năng quy định, chơi chính là sự giải

tỏa năng lượng dư thừa.

Theo G.Piagie cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy là một nhân tố

quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ.

Trên quan điểm macxit thì trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản

chất xã hội. Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng

con đường giáo dục.

Còn theo tác giả Đặng Thành Hưng thì trò chơi là một thuật ngữ có hai

nghĩa khác nhau tương đối xa:

+ Một là kiểu loại phổ biến của chơi. Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy

tắc định rõ mục đích, kết quả và u cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính

thách thức đối với người tham gia.

+ Hai là những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi,

chẳng hạn: học bằng chơi, tương tác hợp tác nhóm qua chơi, rèn luyện thân thể dưới

hình thức chơi ...

Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức và

thiết kế, nếu khơng có những thứ đó thì khơng có “trò chơi” mà chỉ có sự chơi một

cách đơn thuần.

Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức, vì

thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó.

14



Hay, trò chơi chính là sự chơi có luật, còn những hành vi chơi tùy tiện, bất

giác khơng gọi là trò chơi

Có những trò chơi tiêu biểu: trò chơi với đồ vật, trò chơi đóng kịch, trò chơi

học tập, trò chơi dân gian, trò chơi đóng vai theo chủ đề…các trò chơi này lần lượt

xuất hiện cùng với sự phát triển của trẻ.Và trò chơi đóng vai theo chủ đề cũng là

con đường chiếm vị trí ưu tiên trong việc giáo dục KNHT cho trẻ.

* Khái niệm trò chơi ĐVTCĐ

Tùy vào cách nhìn nhận TC theo nguồn gốc, theo cấu trúc hay theo ý nghĩa

thì TC này có nhiều tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, “ TC phân vai theo chủ đề”

(cách gọi Việt Nam); “ TC biểu trưng” (cách gọi của G.Piaget); “TC có cốt truyện”

(cách gọi của S.Smilanxki)

Theo cách hiểu đời thường thì TC ĐVTCĐ là TC trẻ được đóng vai, phải giả

bộ làm người lớn, bắt chước hành động của họ.

Quan niệm của Nguyễn Ánh Tuyết về TC ĐVTCĐ: là loại TC mà khi trẻ mơ

phỏng một mảng nào đó của cuộc sống người lớn bằng việc nhập vào một nhân vật

nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ bằng những hành động mang tính

tượng trưng [13].

Quan niệm của Đào Thanh Âm cho rằng: TC ĐVTCĐ là loại TC trong đó trẻ

đóng một vai cụ thể để tái tạo những ấn tượng, cảm xúc trẻ thu nhận được từ môi

trường xã hội của người lớn nhờ sự tham gia tích cực của tính tượng trưng.

Dựa trên các quan điểm trên có thể hiểu: TC ĐVTCĐ là dạng TC sáng tạo,

đặc trưng của lứa tuổi mẫu giáo, phản ánh một mảng hiện thực của cuộc sống xã

hội, lao động, mối quan hệ giữa con người với con người thông qua việc đóng vai

người lớn mà trẻ thực hiện hành động theo chức năng xã hội mà họ đảm nhận.

* TC ĐVTCĐ của trẻ 5-6 tuổi thể hiện sâu sắc hơn, sinh động và phong phú

hơn, nó khác với mọi lứa tuổi là do cách nhận thức thế giới xung quanh, kinh nghiệm

cuộc sống của trẻ.Cụ thể: chủ đề chơi phong phú, đa dạng, phức tạp hơn. Nội dung

chơi không chỉ phản ánh trực tiếp mà cả những gì chúng đã quan sát được trong tham

quan, dạo chơi, trong sinh hoạt hàng ngày. Cấu trúc của trò chơi đã có sự thay đổi

nhiều- đó là sự thoả thuận bàn luận hướng phát triển trò chơi, có kỹ năng lập kế

hoạch,… mà ở trẻ nhỏ chưa có nhu cầu này. Nói sâu hơn về hành động chơi và vai



15



chơi ở lứa tuổi này cũng thể hiện rất phong phú và tuân theo logic cuộc sống. đặc biệt

các nhóm chơi ổn định, bền vững hơn so với lứa tuổi mẫu giáo bé và MG nhỡ.

1.2.2.2 Đặc điểm và cấu trúc của TCĐVTCĐ trẻ 5-6 tuổi ở các

trường mầm non

* Đặc điểm của TC ĐVTCĐ

+ TC ĐVTCĐ là dạng hoạt động khơng mang tính bắt buộc mà mang tính

tự nguyện:

Vui chơi là hoạt động khơng nhằm tạo ra sản phẩm và hành động chơi không

buộc phải tuân theo một phương thức hoạt động nhất định nào.

Việc thúc đẩy trẻ chơi chính là sức hấp dẫn của bản thân TC mà không hề bị

ràng buộc bởi những cái khác, ngay cả kết quả của sự vui chơi. Ví dụ: TC “khám

bệnh” yếu tố làm thu hút trẻ là người “bác sĩ” khám bệnh, hành động đặt ống nghe

lên bệnh nhân…. Như vậy, động cơ của TC nằm trong q trình chơi chứ khơng

phải nằm ở kết quả chơi. Do đó trẻ chơi mang tính tự nguyện cao, trẻ thích TC nào

thì tham gia chơi TC đó một cách say mê. Vui thì trẻ chơi và ngược lại, nếu ép buộc

trẻ chơi thì TC rất dễ bị phá huỷ.

+ TC ĐVTCĐ là một dạng mang tính tự lập của trẻ:

Hơn bất cứ hoạt động nào hết khi tham gia vào TC trẻ thể hiện rất rõ ý thức

làm chủ, hoạt động hết mình; chủ động, độc lập tự nghĩ ra chủ đề, nội dung, phân

vai chơi, tự điều khiển kiểm tra q trình chơi đó - đây là tính độc lập của trẻ.

Người lớn khơng thể áp đặt hay chơi hộ trẻ mà chỉ có thể là người tổ chức gợi ý,

hướng dẫn trẻ trong quá trình chơi và trẻ chỉ thực hiện hiện sự gợi ý khi thấy phù

hợp với nhu cầu hứng thú của mình.

Do đó, TC càng mang tính tự nguyện bao nhiêu thì càng mang tính độc lập,

chủ động bấy nhiêu.

+ TC ĐVTCĐ là loại TC mang tính tập thể:

Để tiến hành TC nhằm mơ phỏng lại đời sống xã hội đòi hỏi phải có nhiều

trẻ tham gia, cùng hoạt động với nhau, cùng thống nhất chủ đề chơi, vai chơi hành

động chơi… Sự hợp tác giữa nhiều người trong một cộng đồng hay nhóm này với

nhóm khác là đặc trưng của xã hội lồi người. Chính vì thế, mơ hình TC ĐVTCĐ sẽ

16



thể hiện rõ sự mô phỏng “xã hội thu nhỏ” và tính hợp tác là nét đặc trưng biểu hiện

rõ tính tập thể của TC ĐVTCĐ.

+ TC ĐVTCĐ mang tính “tượng trưng”: TC ĐVTCĐ luôn phản ánh những

hiện thực trong cuộc sống xung quanh trẻ, tuy nhiên hành động của trẻ chỉ có tính

chất mơ phỏng lại khái qt, tượng trưng. Trong khi chơi trẻ mô phỏng những hành

động và mối quan hệ của người lớn, sử dụng những đồ vật thay thế mang tính chất

kí hiệu tượng trưng.

Ví dụ: Ghế làm ơ tơ; khăn làm giường…. Chính đặc tính này của TC

ĐVTCĐ làm nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng. Khi chơi, trẻ đắm mình trong hồn

cảnh chơi, bộc lộ và trải nghiệm các sắc thái tình cảm của mình qua các vai chơi,

kết thúc chơi cũng là lúc trẻ ra khỏi hoàn cảnh ấy.

Bản chất của TC ĐVTCĐ là tái tạo lại hoạt động của người lớn cũng như các

quan hệ và thái độ của họ với nhau trong xã hội thông qua các vai chơi, là loại TC

mang tính sáng tạo.

* Cấu trúc của TC ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Khi nghiên cứu về TC ĐVTCĐ, các nhà tâm lý đều thống nhất đề cập

đến: chủ đề chơi, nội dung chơi, vai chơi, hành động chơi, đồ chơi, mối quan hệ

của trẻ trong khi chơi. Các thành tố này ln có quan hệ mật thiết với nhau, bổ

sung cho nhau.

+ Chủ đề chơi là mảng thực hiện cuộc sống được phản ánh vào các TC của

trẻ và trong khi chơi mọi hành động chơi đều xoay quanh chủ đề chơi. Chủ đề chơi

rất phong phú và đa dạng, phạm vi hiện thực của trẻ càng rộng thì chủ đề chơi của

trẻ càng nhiều. Tuy nhiên, cùng chủ đề chơi nhưng mỗi độ tuổi lại có cách phản ánh

khác nhau, tái tạo mức độ hiện thực cuộc sống khác nhau.

Ví dụ: trẻ cùng nhau thảo luận xem hôm nay chơi chủ đề “mẹ và con”, chơi

“bán hàng”, hay chơi trò “bác sĩ”… Như vậy, chính trong bước đầu tiên của TC đóng

vai trẻ phải có kỹ năng thảo luận để cùng nhau thống nhất chủ đề chơi cho nhóm.

+ Nội dung chơi: chính là những hành động, hành vi ứng xử, các quan hệ xã

hội mà trẻ nhận thức được và phản ánh vào các TC. Nội dung bao giờ cũng có con

người thực hiện đúng những hành vi quan hệ chẳng hạn là bác sĩ phải ân cần chăm

sóc bệnh nhân, y tá tiêm thuốc… hay thái độ giao tiếp thiếu lịch sự: quát mắng bệnh

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc của luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×