Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Mục tiêu của biện pháp

* Mục tiêu của biện pháp

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong quá trình tổ chức TC ĐVTCĐ cho trẻ 5-6 tuổi, GV thực hiện theo các

bước kế tiếp nhau. Kết thúc của bước này là điểm xuất phát cho bước tiếp sau đó

cao hơn, tương ứng với logic của quá trình hoạt động và quá trình nhận thức, thực

hiện các kỹ năng của trẻ.

Một quá trình gồm nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn lại có một chức năng

riêng. Sự sắp xếp các giai đoạn của một quá trình theo một trật tự nhất định trong

một chỉnh thể sẽ tạo nên cấu trúc chức năng quy trình của TC mang tính hợp tác

nhằm tạo điều kiện cho việc giáo dục KNHT ở trẻ đạt hiệu quả hơn.

Về cơ bản hoạt động giáo dục KNHT của trẻ được tiến hành theo các giai

đoạn sau:

TRẺ



GIÁO VIÊN

Lên kế hoạch,tổ chức hoạt động,

giao nhiệm vụ.



Tiếp nhận nhiệm vụ hoạt động



Làm việc nhóm: hướng dẫn định

hướng trẻ hoạt động hợp tác



Thoả thuận, phân vai, lên kế

hoạch, thống nhất ý tưởng



Ra quyết định:

Quan sát, hướng dẫn, điều khiển:

- Hướng dẫn trẻ nêu ý tưởng chơi.

- Cách giải quyết xung đột. Biết

chia sẻ kinh nghiệm cho nhau.

- Xây dựng các tình huống chơi,

phát triển các mối hệ chơi-> phát

triển KNHT cho trẻ.



- Hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng

tạo

- Liên kết phát triển các mối quan

hệ chơi

- Tiếp nhận ý kiến của giáo viên và

các thành viên nhóm. Linh hoạt sử

dụng quyết định giải quyết các

tình huống.

Tự đánh giá, tự điều chỉnh, phát

triển KNHT



Kết luận, đánh giá



Sơ đồ 2.1: Quy trình giáo dục kỹ năng hợp tác

Các bước có tính chất cơ động, mặc dù có tính độc lập riêng song chúng vẫn

có thể thực hiện xen kẽ, bổ sung cho nhau.

Những giai đoạn giáo dục KNHT được cụ thể hoá như sau:

- Bước 1: Lập kế hoạch- tổ chức hoạt động (Làm việc chung cả lớp)

68



+ GV sử dụng các tình huống thu hút trẻ và giới thiệu chủ đề chơi cho cả lớp

thảo luận và nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ chung trong toàn giờ hoạt động.

+ Tổ chức hoạt động: dành thời gian trò chuyện và định hướng cho trẻ trước

khi chơi, giao nhiệm vụ cho các nhóm chơi, quy định nội dung chơi và phân công

nhiệm vụ chơi cho các thành viên trong nhóm. Ở giai đoạn này các thành viên trong

nhóm chơi còn rụt rè, còn tìm kiếm những vị trí của mình phù hợp với cơng việc gì

của nhóm chơi nào; lúc này trẻ chưa bộc lộ nhu cầu của những năng lực cá nhân và

các thành viên còn tìm kiếm cho nhóm mình “người thủ lĩnh”. Giai đoan này GV

ln đóng vai trò là người hướng dẫn quan trọng, người cố vấn để giúp các nhóm

chơi định hướng tốt hơn, lưa chọn được các TC của nhóm mang tính hợp tác cao,

chẳng hạn: TC tổ chức sinh nhật – chủ đề gia đình,…

- Bước 2: Làm việc nhóm

Việc lập kế hoạch và thoả thuận quy tắc làm việc cho các nhóm có lẽ là giai

đoạn khó nhất của trẻ. Điều này phụ thuộc vào năng lực linh hoạt của các cơ giáo

nhưng phần nhiều là ở trẻ vì các thành viên thường chưa có kinh nghiệm làm việc

như một nhóm thật sự: có thể dễ bị áp đặt máy móc, hình thức và trẻ có thể tranh cãi

nhau về những cơng việc phân cơng khi chưa đúng sở thích. Hay chưa thống nhất

nhau về ý tưởng, tranh nhau về đồ chơi…tất cả những điều này khiến chúng cảm

giác không thoải mái. Có thể nói chúng thường gây xung đột hơn là tập trung lại và

hướng tới mục tiêu chung.

Như vậy vai trò người GV trong bước này là gì?

- GV cần: theo dõi và giải quyết linh hoạt các xung đột; hướng dẫn trẻ phối

hợp các hành động chơi; khuyên trẻ biết lắng nghe ý kiến của nhau; đồng thời yêu

cầu trẻ thoả thuận với nhau trước khi chơi….

- GV định hướng các nhóm chơi đi vào đúng chủ đề chơi và u cầu các

nhóm phân cơng trên tinh thần tự nguyện của mỗi cá nhân, các thành viên được

giao việc phù hợp với năng lực của mỗi người, mỗi người một nhiệm vụ khác

nhau…



69



Ví dụ: Cho trẻ thảo luận theo tổ để cùng nhau nhận xét về đặc điểm của 1 đối

tượng nào đó trong các hoạt động, tạo những cảm nhận giúp trẻ tôn trọng những

quyền lợi của trẻ khác qua việc chia sẻ, hướng dẫn trẻ cư xử lịch sự với bạn khác.

Tuy nhiên, GV cần định hướng bố trí sắp xếp hoạt động cho các thành viên

một cách khéo léo để nhóm ổn định dần và tất cả các nhóm chơi đều xoay quanh

một chủ đề chơi để nhóm chơi duy trì ổn định hơn trong suốt giờ hoạt động. Khi đó,

trẻ có thể tập trung hơn cho cơng việc và bắt đầu có sự tiến bộ đáng kể trong hiệu

quả cơng việc.

Ví dụ: Thảo luận về sự hợp tác: Cơ trò chuyện với trẻ có sử dụng câu hỏi:

“Con và bạn cùng nhau làm những việc gì? TC nào con thích hơn khi có bạn cùng

chơi? Tại sao con phải hợp tác cùng bạn, một mình con có làm được việc này

khơng? Điều gì con cảm thấy vui khi chơi cùng bạn?...”.

Qua trò chuyện giúp trẻ hiểu hợp tác là có nhiều người cùng thực hiện một

việc gì đó, cùng vui thích khi làm việc với nhau.

Trong bước này, GV còn tạo cơ hội cho trẻ thiết lập, tham gia vào nhiều mối

quan hệ với các trẻ khác, cụ thể: nếu trẻ tương tác với nhau một cách phù hợp, qua

đó sẽ học được các quy tắc ứng xử trong xã hội. như vậy việc thường xuyên định

hướng cho trẻ các TC tập thể trong TC ĐVTCĐ: Sinh nhật bạn, bán hàng, lớp học,

… Trong q trình hoạt động ln khuyến khích trẻ giao tiếp thoả thuận cùng bạn

chơi, biểu lộ mong muốn một cách thích hợp, biết giúp bạn khi cần thiết.

- Bước 3: Ra quyết định

+ Khi mọi người đã cởi mở nhau và tin tưởng nhau hơn, rất nhiều ý tưởng, ý

kiến hay được đưa ra thảo luận cho công việc chung của nhóm. Giai đoạn này trẻ

khơng còn e ngại như lúc đầu. Trẻ linh hoạt sử dụng quyết định của mình như một

cơng cụ để hiện thực hố ý tưởng, ưu tiên những nhiệm vụ cần thiết và giải quyết

những vấn đề khúc mắc. Rất nhiều việc được hoàn thiện và sự gắn bó giữa các

thành viên trong nhóm rất cao.

+ Mỗi tình huống khó khăn xảy ra mà trẻ gặp phải các tình huống này sẽ có

tác dụng giúp lĩnh hội kiến thức kinh nghiệm xã hội, vì thế GV ln theo dõi q



70



trình hoạt động của trẻ và gợi ý để trẻ tìm ra cách giải quyết một cách nhanh chóng

và hiệu quả.

- Bước 4. Tổng hợp nhận xét

Các nhóm - đại diện trưởng nhóm có thể trình bày ý tưởng của nhóm cho

mọi người nghe khi được chất vấn. GV tổng hợp và nhận xét về kết quả của nhóm.

Như vậy, KNHT nhóm của trẻ đạt hiệu quả là nhờ tổng hợp nhiều yếu tố: lập

kế hoạch, giao tiếp, lắng nghe, chia sẻ, thảo luận, giải quyết vấn đề… Muốn hợp tác

thành cơng thì mỗi cá nhân trong nhóm cần chú trọng phát triển vai trò của bản thân

và tin tưởng, hỗ trợ lẫn nhau vì mục tiêu chung “mình vì mọi người” và “mọi người

vì mình”, đặc biệt là các GV cần thực hiện tuân theo quy trình các bước để việc giáo

dục KNHT cho trẻ thông qua TC ĐVTCĐ được hiệu quả hơn.

3.2.2. Xây dựng nội dung, thiết kế các tình huống chơi, hồn cảnh chơi

mang tính hợp tác

* Mục tiêu của biện pháp

- Xây dựng nội dung và tình huống, hồn cảnh chơi trong TC ĐVTCĐ là

điều kiện để giáo dục và phát triển KNHT. Các nội dung phải mang tính giáo dục

trẻ thái độ thiện cảm với người khác, có tinh thần hợp tác, chia sẻ với nhau như:

cùng học, cùng chơi, cùng làm việc… đây là một nội dung giáo dục cực kỳ quan

trọng đối với trẻ MG đặc biêt là trẻ MG 5-6 tuổi.

- Thường trong quá trình tham gia TC ĐVTCĐ, trẻ chỉ tập trung nhóm mình

với nhiệm vụ riêng, chứ khơng xuất hiện các tình huống đa dạng như trong số hoạt

động chơi khác. Mặc dù, trong quá trình chơi thì bản thân TC ĐVTCĐ cũng đã nảy

sinh các tình huống chơi khác nhau. Tuy nhiên, các tình huống chơi này còn nghèo

nàn chưa thể hiện được các kỹ năng một cách hợp lý. Chính vì thế, muốn trẻ thể

hiện và phát triển tốt được các kỹ năng thì phải cho trẻ tham gia các mối quan hệ

trong TC ĐVTCĐ. Biện pháp hiệu quả nhất chính là việc tạo ra các “tình huống

chơi”, “hồn cảnh chơi” trong q trình chơi.

- Tính vấn đề của các “tình huống chơi” và “hồn cảnh chơi” trong TC kích

thích sự hứng thú ở trẻ và duy trì hứng thú trong suốt quá trình chơi. Những tình huống

này nảy sinh trong quá trình chơi khiến trẻ phải đặt câu hỏi, kích thích trí tò mò ham

hiểu biết và sự khao khát, mong muốn chinh phục, muốn làm những việc có nghĩa như:



71



Quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ, nhường nhịn giữa các thành viên trong nhóm lớp cũng như

với mọi người xung quanh, từ đó KNHT của trẻ cũng được phát triển.

* Nội dung –cách tiến hành:

+ Nội dung:

- Trong quá trình trẻ tham gia vào TC ĐVTCĐ, GV tạo tạo tình huống chơi

hấp dẫn mang tính nêu vấn đề, lơi cuốn thu hút trẻ vào tình huống đó. Ngồi ra, GV

cần khơi gợi ở trẻ lòng khao khát, mong muốn được làm việc với nhau, cùng đàm

phán, thoả hiệp, giúp đỡ chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm với nhau để cùng thực hiện

công việc chung. Các tình huống được nảy sinh từ các mối quan hệ diễn ra trong

quá trình tổ chức TC.

- Các tình huống dược nảy sinh từ các mối quan hệ diễn ra trong q trình tổ

chức TC nhằm kích thích sự phát triển trẻ ở tính tích cực hợp tác giữa các vai chơi

với nhau.

+ Cách tiến hành:

- GV theo dõi, quan sát ở từng nhóm chơi để kịp thời phát hiện ra những tình

huống nảy sinh trong quá trình chơi, gợi mở, kích thích, và u cầu trẻ giải quyết

tình huống. Qua đó GV chủ động tạo ra các tình huống chơi cho trẻ theo diễn biến

cuộc chơi.

- Các tình huống đưa vào trong quá trình chơi phải khéo léo, linh hoạt nhằm

mở rộng nội dung chơi, vai chơi, hoàn cảnh chơi, tạo điều kiện để trẻ liên kết các

nhóm chơi với nhau để trẻ phản ánh các mối quan hệ phức tạp trong cuộc sống

người lớn trong TC vào TC, đồng thời thơng qua đó trẻ có cơ hội thể hiện mình và

biết cách ứng xử hợp tác với bạn.

Ví dụ: Ở nhóm chơi "Bác sĩ" thì có "bác sĩ" khám bệnh, kê đơn cho "bệnh

nhân", y tá phát thuốc hoặc tiêm cho bệnh nhân. Nếu chỉ có những thao tác như vậy

thì TC rất đơn điệu, nên GV tạo ra tình huống có "bệnh nhân" cần cấp cứu do chảy

máu, ngộ độc thức ăn... để hoạt động trong nhóm chơi được phong phú hơn.

- Ở nhóm chơi "Gia đình" cũng vậy, GV tạo ra tình huống tổ chức bữa tiệc

sinh nhật cho con, sau đó các chuyên gia đầu bếp, các thành viên trong gia đình, bạn



72



bè cùng tổ chức bày tiệc, cùng chuẩn bị thì nhóm chơi sẽ hứng thú hơn, mọi người

trong nhóm sẽ liên kết hợp tác giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành cơng việc.

- Các tình huống được đưa vào trong q trình chơi, GV khơng nên vội đưa

ra cách giải quyết cụ thể mà phải khéo léo tạo điều kiện khuyến khích trẻ tự tìm

cách giải quyết nhằm mở rộng nội dung chơi, vai chơi, hoàn cảnh chơi, giúp trẻ biết

liên kết giữa các hành động chơi của các trẻ với nhau và lúc này trẻ sẽ phản ánh các

mối quan hệ phức tạp của cuộc sống người lớn vào trong TC, đồng thời thơng qua

mối quan hệ đó trẻ sẽ có cơ hội được hợp tác với các bạn và các mối quan hệ khác

nhau của vai chơi một cách hợp lý.

Ví dụ: Ở nhóm chơi “Bán hàng” xảy ra tình huống chen lấn, xơ đẩy nhau khi

mua hàng, lúc này với vai trò cố vấn cho người “bán hàng”, GV có thể điều chỉnh

bằng cách yêu cầu trẻ trong vai người “bán hàng” hãy cho các “bác mua hàng” xếp

hàng theo thứ tự, ưu tiên cho những cụ già và những người có con nhỏ, đồng thời

nếu thấy cháu nào có biểu hiện vui vẻ nhường chỗ cho bạn mua trước thì khen ngợi,

động viên ngay để trẻ khác noi gương làm theo. Cụ thể: “Tôi thấy “bác M” đã vui

vẻ nhường chỗ cho “bác H” mua hàng trước vì “bác H” mang theo “con nhỏ” đang

khóc vì đứng đợi lâu rồi”, thật đáng ca ngợi.

- Một công việc góp phần mang lại thành cơng cho giáo dục KNHT cho trẻ

là GV phải ln có trong cuộc chơi của trẻ, luôn quan sát để kịp thời đưa ra những

tình huống phù hợp nhằm mở rộng nội dung chơi, vai chơi, hồn cảnh chơi,... qua

đó khuyến khích trẻ bộc lộ nhu cầu hợp tác của mình và có định hướng giáo dục

đúng đắn.

Ví dụ: Kết thúc buổi chơi, GV thông báo: “Các bạn ơi, giờ chơi đã kết thúc

rồi nhưng cơ thấy đồ chơi của các bạn ở nhóm “Gia đình” còn nhiều q, có cách

nào để các bạn trong nhóm chơi “Gia đình” kịp giờ ăn trưa khơng?”.

GV kịp thời động viên, khích lệ những trẻ có những biểu hiện của KNHT

trong khi tham gia TC cũng như giải quyết các tình huống để các trẻ các noi theo.

Như vậy, tận dụng tình huống và tạo ra tình huống trong TC là vô cùng hấp

dẫn đối với trẻ, chúng ta phải lựa chọn và sử dụng biện pháp này cho phù hợp với

đặc điểm của trẻ và diễn biến của tiến trình chơi. Làm được như vậy sẽ đạt được

73



hiệu quả cao trong việc phát triển KNHT trong TC ĐVTCĐ ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

* Điều kiện vận dụng:

- Tạo sự giao tiếp gần gũi, thân thiện giữa trẻ với trẻ, trẻ với GV và trẻ với

những người xung quanh.

- Trẻ phải có vốn hiểu biết phong phú về các mối quan hệ xã hội.

- Các tình huống tạo ra phải phù hợp với vốn kinh nghiệm, sự hiểu biết và

hứng thú của trẻ để trẻ có thể tự mình giải quyết được tình huống.

- Các tình huống tạo ra khơng gò bó, áp đặt trẻ. Tình huống phải đảm bảo

tính tự nhiên gắn liền với cuộc sống thực hằng ngày của trẻ, phản ánh được mối

quan hệ đa dạng phong phú trong xã hội.

3.2.3. Thiết kế môi trường và chuẩn bị đồ dùng đồ chơi hấp dẫn nhằm thu

hút trẻ trước khi chơi

* Mục tiêu biện pháp:

- Vấn đề thiết kế mơi trường và bố trí các đồ dùng đồ chơi hấp dẫn trong

các góc chơi có ý nghĩa vơ cùng to lớn đối với trẻ. Nếu như thiết kế tốt, sắp xếp

những góc thuận lợi nó sẽ giúp trẻ có nhiều cơ hội, nhiều tình huống lựa chọn

cách thức, tổ chức hoạt động, mang lại cho trẻ cơ hội phát triển mở rộng, nảy

sinh ý tưởng chơi, dự định chơi, khám phá ra nhiều điều mới lạ trong cuộc sống,

để trẻ bộc lộ khả năng của mình.

- Mơi trường chơi được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng để tạo

cảm hứng học hỏi và khám phá cho trẻ. Trong đó, thế giới đồ chơi phong phú sẽ

góp phần hình thành và phát triển mối quan hệ thân thiện, tự tin giữa GV với trẻ với

nhau. Đồng thời, là điều kiện cho hoạt động của cô và trẻ thêm hứng thú. Tạo môi

trường chơi hấp dẫn là cơ hội để trẻ được giao tiếp và phát triển KNHT trong quá

trình trẻ tham gia hoạt động nói chung và TC ĐVTCĐ nói riêng.

- Thực tế hiện nay ở các trường MN, do số lượng trẻ tương đối đông nên

không gian cho trẻ chơi chật hẹp, đồ dùng đồ chơi còn thiếu thốn khơng đáp ứng

được nhu cầu chơi của trẻ. Trong khi đó, việc giáo dục KNHT cho trẻ trong TC

ĐVTCĐ lại đòi hỏi phải có một khơng gian hấp dẫn, rộng rãi, thống mát,… với



74



một thế giới đồ chơi phong phú, đa dạng, mới lạ và bầu khơng khí thân thiện cởi

mở… có như vậy mới kích thích hứng thú chơi và thúc đẩy trẻ rèn luyện các KNHT

theo khả năng của mình.

- Chính vì thế GV MN khơng cần phải thường xun thay đổi làm mới mơi

trường chơi, nó ln ln vận động, biến đổi và tăng cường bổ sung đồ dùng đồ

chơi từ các vật liệu thiên nhiên và các đồ phế liệu trong các góc chơi ĐVTCĐ. Đây

cũng là điều kiện thuận lợi để KNHT của trẻ được thể hiện và phát triển.

* Nội dung –cách tiến hành:

- Để TC ĐVTCĐ phát huy hết vai trò của mình, GV MN phải nhanh nhạy,

linh hoạt, chủ động trong việc tổ chức thiết kế mơi trường chơi cho trẻ hoạt động,

khuyến khích trẻ mở rộng quan hệ giữa các góc chơi.

- GV cần tạo ra các góc chơi sáng tạo, có mục đích tổ chức rõ ràng. GV lựa

chọn vị trí chơi đảm bảo rộng rãi, thống mát, thuận tiện, an tồn, vệ sinh phù hợp

với TC. Linh động trong môi trường lớp học nhỏ hẹp, tận dụng ban công, hành lang,

hoặc các khơng gian bên ngồi lớp học để tổ chức và tạo các góc hoạt động cho trẻ.

Ln ln đảm bảo cho trẻ có một khơng gian hoạt động tự do thoải mái có như vậy

mới kích thích trẻ bộc lộ và rèn luyện các KNHT.

- Để không gian chơi mang ý nghĩa giáo dục cụ thể, với mỗi chủ đề khác

nhau, GV thường xuyên thay đổi cách trang trí, xắp xếp các góc chơi theo chủ đề và

mục đích riêng. Bằng sự thay đổi các góc chơi, đồng thời đầu tư vào những công cụ

vật dụng tái hiện quang cảnh, bối cảnh của TC, cô giúp trẻ dễ dàng hoà nhập vào

TC, linh hoạt trong nhận thức về hoàn cảnh, kích hoạt tư duy và năng lực nhận biết,

hồ nhập và ứng xử ở trẻ.

- GV cần phải sắp xếp vị trí hoạt động của các góc chơi một cách phù hợp để

trẻ dễ dàng quan sát, di chuyển. Việc sắp xếp các góc vơ cùng quan trọng trong việc

phát triển KNHT ở trẻ. Do vậy, cần bố trí các nhóm hoạt động “tĩnh” và nhóm hoạt

động “động” xa nhau để không làm ảnh hưởng đến hoạt động của trẻ ở các góc khác

nhau. Chẳng hạn, góc “gia đình” sắp xếp cạnh góc “bán hàng”, “bác sĩ” để các gia

đình đi mua sắm cửa hàng siêu thị, đi khám bệnh. Còn góc “lớp học” thì nên bố trí

xa góc “xây dựng”.



75



Việc bố trí mơi trường cũng thể hiện mục đích và định hướng vào các TC của

GV. Đồng thời, việc bố trí đồ dùng ở các góc chơi đòi hỏi phải phù hợp với nội

dung, phải an toàn, vệ sinh và GV cũng phải chú ý đến tính mở và xuất phát từ kinh

nghiệm, kỹ năng của trẻ. Vì thế ở mỗi buổi chơi, GV tạo tình huống để giới thiệu và

cung cấp một số loại đồ dùng mới được làm từ các nguyên vật liệu và đồ phế liệu

khác bên cạnh những đồ chơi mà trẻ vẫn thường dùng. Trong khi trẻ sử dụng đồ

chơi mới, GV cần khuyến khích trẻ tích cực trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và biết

kết hợp các loại đồ chơi với nhau theo ý tưởng của mình.

- GV nên cho trẻ thường xuyên sử dụng nhiều loại đồ chơi và bố trí các

nguyên vật liệu thiên nhiên, đồ phế liệu khác nhau trong các góc chơi để kích thích

hứng thú và duy trì thói quen cũng như cách sử dụng cho trẻ. Khi trẻ chơi, nên đặt

câu hỏi đàm thoại với trẻ về các nguyên vật liệu mà trẻ đang sử dụng, hỏi trẻ về

những ý tưởng mới lạ của chúng.

Ví dụ: GV có thể chuẩn bị ở góc bán hàng một số nguyên vật liệu thiên nhiên

như: lá cây, hoa tươi, cát, sỏi, vỏ sò, quả thơng, rơm rạ... và các đồ phế liệu như: vỏ

hộp, vỏ bao, thìa nhựa, ống hút... sau đó đưa ra tình huống: “Cửa hàng mới nhập về

rất nhiều hàng hố, chúng ta có thể đến xem và mua về”. Khi trẻ đi “mua”, GV gợi

ý để trẻ nhận biết và lựa chọn những nguyên vật liệu mới lạ đó và trao đổi, gợi ý để

trẻ suy nghĩ và thảo luận cùng các bạn trong nhóm chơi, tìm cách sử dụng các

nguyên vật liệu mới kết hợp với các đồ chơi đã có. Hướng dẫn, khuyến khích trẻ

bày tỏ ý kiến, dự định chơi của mình với các loại đồ chơi.

- GV ln khuyến khích trẻ nghĩ ra các cách sử dụng các đồ chơi mới lạ và

độc đáo vào TC của mình.

Ví dụ: “Các con thử nghĩ xem, với các nguyên vật liệu mới lạ đó các con sẽ

làm gì nhỉ?”. Hoặc: “Khu trại chăn ni, các con có thể sử dụng rơm rạ để làm mái

lợp khơng?”; “Các bác sẽ dùng những thìa nhựa này như thế nào để làm được hàng

rào chắc chắn?”. Như vậy trẻ sẽ rất tích cực trao đổi, bàn bạc với nhau để cùng đưa

ra ý tưởng chơi độc đáo khi sử dụng các nguyên vật liệu mới lạ đó.

- Việc bố trí, sắp xếp các đối tượng là việc làm quan trọng và cần thiết trong

việc tạo môi trường chơi cho trẻ hoạt động. Vì vậy, đồ chơi phải được sắp xếp sao



76



cho thuận tiện cho việc lấy và cất đồ chơi, bố trí các đối tượng hợp lý, khoa học đẹp

mắt là góp phần tăng hiệu quả hoạt động.

- Với mỗi chủ đề khác nhau, GV lại cùng trẻ trang trí, bổ sung cho mơi

trường chơi trở nên sinh động, hấp dẫn và phù hợp với chủ đề chơi đó. Ln ln

đảm bảo mơi trường chơi cho trẻ phải hấp dẫn, sinh động và mang tính hợp tác.

- Trong khi chơi, nếu chúng còn lúng túng các thao tác với các đồ chơi đó, cơ

giáo gợi ý, hướng dẫn thêm để trẻ thực hiện một cách thuận lợi hơn. Việc cung cấp

nhiều đồ chơi với các chủng loại khác nhau như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi để

phát triển KNHT cho trẻ khi tham gia chơi ĐVTCĐ.

+ Môi trường chơi hấp dẫn bao gồm cả việc tạo dựng mối quan hệ thân thiện,

cởi mở, gần gũi giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với GV. Sự chân tình, cởi mở, gần gũi của

cơ sẽ tạo cảm giác thoải mái, an toàn, dễ chịu và là điều kiện thuận lợi để trẻ được

là chính mình. Đó là cơ sở để tạo cho mọi hoạt động giáo dục trở nên nhẹ nhàng,

hấp dẫn trẻ luôn tự tin, mạnh dạn, chủ động và tích cực khi tham gia TC.

Trẻ duy trì mối quan hệ tốt với bạn thì đó là điều kiện rất thuận lợi để có thể

chơi cùng nhau, hợp tác gắn bó với nhau. Để làm được điều này, GV cần đặt mình

vào suy nghĩ, ghi nhận về cảm xúc của trẻ, cùng chơi cùng gợi mở các hướng

chơi…để tạo cho trẻ cảm giác cơ chính là “bạn” của trẻ. Từ đó bộc bạch lòng mình,

mạnh dạn bày tỏ quan điểm của bản thân, khuyến khích trẻ cùng hoạt động, giao

tiếp, bàn bạc, chia sẻ ý tưởng với bạn trong khi chơi.

Mặt khác, cơ giáo cũng cần có sự động viên, khuyến khích cần thiết đối với

những nỗ lực và thành quả của trẻ trong việc thực hiện nhiệm vụ chơi. GV phải

đóng vai trò người tổ chức, hướng dẫn, là “điểm tựa”, là “thang đỡ” cho trẻ, giúp đỡ

trẻ khi cần thiết.

* Điều kiện vận dụng:

- Cần có sự đầu tư và quan tâm thích đáng đến việc xây dựng môi trường

chơi cho trẻ. Lớp học phải có khơng gian vừa đủ để trẻ dễ dàng hợp tác với nhau.

- Tạo nên một môi trường vui chơi tự do, thoải mái với nhiều loại đồ dùng,

đồ chơi phong phú, đa dạng về nguyên liệu, đảm bảo đẹp, vệ sinh và an toàn cho trẻ

cả về tinh thần lẫn vật chất.



77



- GV cần có lòng nhiệt tình và dạy trẻ tìm kiếm những nguyên vật liệu thiên

nhiên và phế liệu để cùng nhau tạo ra sản phẩm khi tham gia chơi.

- GV phải có tâm huyết khi hướng dẫn trẻ cùng trẻ tham gia hoạt động.

3.2.4. Xây dựng môi trường tương tác để trẻ cùng chia sẻ kinh

nghiệm, ý tưởng, thương lượng hợp tác, thoả thuận giữa

các trẻ với nhau khi tham gia chơi

* Mục tiêu biện pháp:

Trên thực tế trong các hoạt động hàng ngày của cô và trẻ đã có sự giao tiếp

và cùng làm việc với nhau ở một mức độ nào đó, tuy nhiên phần lớn các hoạt động

đó mới dừng lại ở mức độ tương tác, chứ chưa phải là KNHT, do đó để đạt được

mức độ KNHT, GV là người đặt ra các hoạt động “có vấn đề”, đưa ra một nhiệm vụ

chung hấp dẫn đòi hỏi trẻ phải cùng suy nghĩ và chia sẻ ý tưởng, bàn bạc, thoả

thuận, thống nhất, phân chia nhiệm vụ và phối hợp hành động giữa các trẻ để giải

quyết vấn đề.

ĐVTCĐ là một TC đòi hỏi ở trẻ sự hợp tác cao, sự mạnh dạn hợp sức với các

bạn trong nhóm chơi cũng như liên kết với các nhóm chơi khác. Vì lí do đó mà GV

phải ln hoạt động, khuyến khích để trẻ mạnh dạn hồ mình với các bạn, tránh tình

trạng để trẻ e dè, sợ sệt và lo lắng khi tham gia vào TC.

Hơn thế nữa là đối với trẻ khi tham gia TC, trẻ luôn mong muốn được mọi

người tôn trọng mình, được thể hiện tính tự nguyện, độc lập, sáng tạo, tự nói ra ý

tưởng kinh nghiệm chơi…. Trẻ hứng thú và say mê chơi khi được chia sẻ kinh

nghiệm, ý tưởng của bản thân cho các bạn trong môi trường phong phú đầy tính

kích thích và hấp dẫn. Tất cả những điều đó đã tạo nên sự phấn chấn tích cực chủ

động ở trẻ khi tham gia TC, cố gắng nỗ lực thực hiện ý đồ chơi của mình, thoả thích

bày tỏ mơ ước của bản thân. Đây là điều kiện thuận lợi biểu lộ một cách thực tế

những chuẩn mực và quy tắc hành vi đã được lĩnh hội, phát huy và bộc lộ KNHT

trong tập thể bạn cùng tuổi.

Khi trẻ tiến hành những việc trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực tế thì ở

trẻ sẽ hình thành kỹ năng về hợp tác, đối mặt với những vấn đề khó khăn phát sinh

trong q trình hợp tác, cụ thể: bất đồng quan điểm, ý tưởng chơi, xung đột, mâu thuẫn

giữa các bạn chơi, gây khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ,… Từ những vấn đề đó, GV sẽ

78



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Mục tiêu của biện pháp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×