Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
qua sự đánh giá của GV

qua sự đánh giá của GV

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tiêu chí 2

Tiêu chí 3

Tiêu chí 4

Tiêu chí 5

Tổng



60

60

60

60

60



1

1

1

1

1



3

3

3

3

3



2,00

1,94

2,14

2,04

2,03



0,687

0,714

0,693

0,761

0,735



Q trình quan sát và phỏng vấn GV tác giả nhận thấy trẻ chưa tích cực tham

gia hoạt động. Trong TC ĐVTCĐ, trẻ thường tự chơi theo ý mình ít có sự bàn bạc,

thỏa thuận giữa các bạn trong cùng nhóm chơi. Trong q trình chơi trẻ có khả năng

hợp tác đạt ở mức cao, thì thường là những trẻ được nhận nhiệm vụ khá đặc biệt

trong nhóm chơi. Cụ thể, giữ vai trò "thủ lĩnh", trẻ này có nhiệm vụ phân công các

bạn vào vai phù hợp cũng như giải quyết những mâu thuẫn vướng mắc trong quá

trình chơi. Để nhận rõ hơn về điều này, chúng ta có thể phân tích theo từng biểu hiện.

Chẳng hạn: Tiêu chí: “Biết cùng thỏa thuận và chấp nhận sự phân công

nhiệm vụ chơi của nhóm chơi”.

Ở tiêu chí này, điểm trung bình đạt 2,03 điểm và độ lệch chuẩn là 0,82 điểm.

Kết quả cho thấy điểm tiêu chí này ở tất cả các trẻ đạt mức độ trung bình, khá tập

trung. Số liệu chi tiết thể hiện trên bảng 2.2.

- Tiêu chí : “Biết cùng thỏa thuận với các bạn và chấp nhận sự phân cơng

nhiệm vụ chơi của nhóm”.

Bảng 2.2: Biết cùng thỏa thuận với các bạn và chấp nhận sự phân cơng nhiệm

vụ chơi của nhóm.

Tiêu chí



Số lượng

N=60



Tỉ lệ

(%)



Trẻ ln thỏa thuận cùng nhau nhiệm vụ chơi chung một

cách hiệu quả. Sẵn sàng chấp nhận sự phân cơng nhiệm vụ

19

31,7

của nhóm.

Trẻ thỏa thuận với nhau về nhiệm vụ chơi nhưng đôi khi

còn thể hiện tính cá nhân cao, khơng hướng tới mục tiêu

20

33,3

chung. Trẻ chấp nhận sự phân công nhiệm vụ của nhóm

nhưng khơng tích cực.

Trẻ thờ ơ với việc thỏa thuận cùng nhau về nhiệm vụ chơi,

21

35,0

không chấp nhận sự phân cơng của nhóm nếu khơng thích.

Kết quả bảng 2.2 cho thấy, ở tiêu chí này thì số lượng trẻ thực hiện ở mức độ

trung bình là 33,3% Tuy nhiên số trẻ em chỉ đạt ở mức độ thấp lại khá cao, chiếm

tới 35,0%. Điều này cho thấy sự dàn trải trong phân bố phần trăm trẻ thực hiện tiêu

chí ở cả ba mức độ cao - trung bình - thấp. Trong khi chơi, số đông trẻ chưa thỏa



42



thuận được với nhau mà còn phụ thuộc vào sự giúp đỡ của cơ giáo. Một số trẻ còn

tỏ ra vẻ thờ ơ, khơng quan tâm, khơng hòa nhập mình vào cơng việc của nhóm chơi.

Bởi từ đầu khi phân nhóm cơ giáo ln muốn trẻ thành lập nhóm chơi theo ý muốn

cơ, trẻ thành lập nhóm theo kiểu áp đặt trẻ. Điều này đã phần nào làm giảm hứng

thú với TC, trẻ khơng thích chơi với những bạn này nhưng lại phải chơi. Vì vậy, TC

trở nên thụ động, KNHT của trẻ khơng có động cơ thúc đẩy, trẻ ít có cơ hội thể hiện

hết mình, chơi hết mình. Bên cạnh đó, cũng có nhiều trẻ thể hiện tiêu chí ở mức độ

thấp là do trẻ chưa có kinh nghiệm trong việc thảo luận, ít nói hay được nng

chiều nên thể hiện ý kiến cá nhân quá cao, dẫn đến quá trình thảo luận khơng thể

hiện như kết quả mong đợi.

Ví dụ: Khi được nhóm phân cơng nhiệm vụ cho mọi thành viên trong nhóm,

H. có thái độ phản ứng, vì khơng thích làm kéo xe, mà thích làm”thủ lĩnh”. Các

bạn trong nhóm nói rằng hơm qua H. làm “thủ lĩnh” rồi, hôm nay làm kéo xe chứ,

nhưng H. cũng không đồng ý.

TC ĐVTCĐ là điều kiện, cũng là thước đo cần thiết để đánh giá KNHT của

trẻ. Vì thế, trẻ càng tích cực trao đổi với nhau về cơng việc của nhóm bao nhiêu thì

càng thể hiện sự nhanh nhạy, KNHT của trẻ bấy nhiêu. Cho nên đây là một biểu

hiện quan trọng, cũng là phần phản ánh sự thuận lợi của quá trình chơi, cũng như

kết quả chơi.

- Biết lắng nghe, chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng chơi với bạn.

Điểm tiêu chí phối hợp lên kế hoạch cho hoạt động chung dao động từ 1 đến

3 điểm, điểm trung bình đạt 2,00 điểm và độ lệch chuẩn là 0,687 điểm. Kết quả cho

thấy điểm tiêu chí này ở tất cả các trẻ đạt mức độ thấp và tập trung. Số liệu chi tiết

thể hiện trên bảng...

Bảng 2.3: Biết lắng nghe chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng chơi với bạn.

Tiêu chí

Biết lắng nghe bạn và chờ đến lượt mình nói. Khi chưa

hiểu biết hỏi lại bạn. Biết chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng,

43



Tần



Tỉ lệ



Tần xuất



số

14



(%)

23,3



tích lũy

23,3



đồ chơi với bạn trong nhóm. Chủ động hỗ trợ bạn và

yêu cầu bạn hỗ trợ mình.

Lắng nghe bạn, song thỉnh thoảng chưa biết chờ đến

lượt mình. Đơi khi khơng hiểu lời bạn nói, chưa mạnh

dạn hỏi lại bạn. Biết chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng, đồ



32



53,3



76,6



14



23,4



100,0



chơi với bạn khi GV nhắc nhở. Biết hỗ trợ bạn và yêu

cầu bạn hỗ trợ nhưng đôi khi còn cần sự góp ý của GV.

Khơng biết lắng nghe bạn và chưa biết chia sẻ kinh

nghiệm, ý tưởng, đồ chơi với bạn. Biết hỗ trợ bạn và

yêu cầu bạn hỗ trợ khi gặp khó khăn.

Bảng 2.3 cho thấy, so với tiêu chí trước, ở tiêu chí này thì số lượng trẻ thực

hiện đạt mức độ trung bình đạt 53,3%, còn lại mức độ cao là 23,4% và thấp cũng là

23,3%. Điều này cho thấy sự tập trung trong sự phân bố phần trăm trẻ thực hiện các

tiêu chí, tập trung vào mức độ trung bình chiếm hơn một nửa phần trăm.

Hầu hết các trẻ có biểu hiện biết lắng nghe, chia sẻ kinh nghiệm chơi, ý

tưởng chơi với bạn tuy nhiên còn tập trung ở mức độ trung bình và biểu hiện này

không thường xuyên. Nguyên nhân là do trẻ đã biết lắng nghe bạn, để thể hiện ý

muốn của bản thân.

Ví dụ: Tú và mình sẽ làm bác sĩ, Lệ và Hoa sẽ là bệnh nhân, khi đang phân

nhiệm vụ Hoa đã chen ngang - mình chỉ thích bác sĩ thơi. Thay vì đợi bạn nói xong

Hoa nói lên suy nghĩ của mình, Tú đã vội ngắt lời bạn để đề nghị ý muốn của bản thân.

Việc ngắt lời bạn của H. đã làm ảnh hưởng đến bầu khơng khí tích cực của cả nhóm.

Bên cạnh đó, số trẻ không biết chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng chơi cùng nhau

cũng chỉ tập trung ở mức độ trung bình. Biết chia sẻ kinh nghiệm chơi với bạn nhưng

đôi khi còn cần sự nhắc nhở của GV.

2.3.2. Thực trạng về GD KNHT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ

Trong chương trình GDMN xác định mục tiêu GDMN là hình thành và phát

triển toàn diện nhân cách trẻ tạo nền tảng cho những kỹ năng sống phát triển phù

hợp với lứa tuổi đặt nền tảng cho các cấp học tiếp theo.

Hiện nay, ở các trường MN đang thực hiện chương trình mở theo định hướng

lấy trẻ làm trung tâm vì thế cho phép GV tự do lựa chon nội dung giáo dục phù hợp



44



với kinh nghiệm sống của trẻ.Việc tổ chức hoạt động theo hướng này đã giúp trẻ

hứng thú hơn khi tham gia hoạt động. Và đặc biệt là các KN sống luôn được quan

tâm. Song song với việc ban hành chương trình GDMN là Bộ chuẩn triển trẻ 5 tuổi

(2009) và chuẩn 11 với 5 chỉ số đã nêu rất rõ về vấn đề HT. Và biểu hiện kỹ năng

hợp tác của trẻ 5-6 tuổi thông TC ĐVTCĐ

- Trẻ cùng nhau thảo luận đưa ra ý tưởng chơi, phân công nhiệm vụ chơi

Trong khi chơi trẻ phải biết thảo luận, bàn bạc với các bạn để cùng thống

nhất về mục đích, hiểu được mục đích chung của hoạt động. Thảo luận để thống

nhất nội dung và kế hoạch thực hiện những công việc chung, giao tiếp giữa các vai

để thực hiện hành động chơi. Trong khi chơi trẻ phải dùng từ để chỉ những hành

động của mình, thể hiện những ý định, ý tưởng nảy sinh trong lúc chơi, cùng thảo

luận để tìm kiếm phương tiện thực hiện dự định chơi, bầu nhóm trưởng.

Nhóm chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi các thành viên trong nhóm ý thức

được mình là thành viên của nhóm và nhiệt tình đóng góp cơng sức của mình cho

nhóm. Q trình bàn bạc, thảo luận chỉ đi tới thống nhất khi có sự đồng thuận giữa

các thành viên, khi trẻ biết lắng nghe và trao đổi ý kiến của mình với các bạn. Vì

vậy, giáo dục kỹ năng này sẽ làm cho trẻ hiểu được giá trị của sức mạnh tập thể, trẻ

biết đặt lợi ích của tập thể lên trên sở thích và những mối quan tâm riêng của bản

thân mình. Thái độ tôn trọng bạn bè và ý thức sẵn sàng hợp tác vì mục tiêu chung sẽ

giúp trẻ “xích lại gần nhau” hơn để nhanh chóng tìm ra cách thức tiến hành những

hoạt động của nhóm một cách hiệu quả nhất.

Trong khi chơi trẻ phải biết phân công nhiệm vụ chơi cho từng thành viên

trong nhóm. Mỗi nhóm trẻ ln có sự đa dạng về kỹ năng và nhân cách giữa các

thành viên. Và trong các hoạt động tập thể, mỗi nhiệm vụ được hồn thành ln là

kết quả của sự nỗ lực chung của cả nhóm. Khi tham gia hoạt động cùng nhau, trẻ

phải biết tự đánh giá khả năng riêng của bản thân mình cũng như sở thích, nguyện

vọng và khả năng của bạn trong nhóm, từ đó đưa ra những ý kiến phù hợp nhất với

việc phân công các phần việc cụ thể cho từng bạn, đảm bảo để thành viên mạnh

điểm nào có thể trổ hết tài năng của mình về điểm đó, hỗ trợ điểm yếu cho các

thành viên khác, làm cho nhóm trở nên cơng bằng và hồn hảo hơn.

45



- Cùng phối hợp hành động chơi, thiết lập quan hệ chơi.

Về phối hợp hành động chơi, phối hợp hành động trong TC ĐVTCĐ bản

chất của nó là sự thống nhất nỗ lực của các bên tham gia nhằm đạt được mục đích

chung (mục tiêu chung), và giữa các cá nhân này có sự phân chia chức năng, vai

trò hay nhiệm vụ chơi một cách rõ ràng. Để hợp tác thì các thành viên phải thấu

hiểu những hành động phối hợp, đây là những hành động chung chứa đựng các

thành tố hướng tới sự hồn thành các nhiệm vụ q trình (cả đơn giản và phức

tạp). Để hoàn thành nhiệm vụ cần nhận thức được rõ mục đích của hoạt động

chung, hệ thống các hành động cá nhân, các hành động phối hợp, điều chỉnh hành

vi của các thành viên tham gia trong mối tương quan của hoạt động, so sánh kết

quả hành động với mục tiêu đặt ra.

Có các cách thức khác nhau trong việc phối hợp hành động trong quá trình

chơi. Điều này phụ thuộc vào cấu trúc của nhiệm vụ chơi. Trẻ có những biểu hiện

phối hợp hành động sau trong khi chơi TC ĐVTCĐ:

Phối hợp hành động chơi theo kiểu “mục tiêu – kết quả” – mỗi trẻ sẽ tự hồn

thành nhiệm vụ của mình trong tổng thể nhiệm vụ chung một cách độc lập. Trong

q trình hồn thành nhiệm vụ, nhiệm vụ cá nhân sẽ trở thành một phần của kết quả

cuối cùng. Sự phối hợp hành động chơi giữa các trẻ được thực hiện ở giai đoạn đầu

– giai đoạn xác định mục tiêu, và lên kế hoạch cho hoạt động, và ở giai đoạn cuối –

tổng kết kết quả hoạt động. Phối hợp hành động “mục tiêu kết quả” thường biểu

hiện trong nhóm hạt nhân (theo cặp).

Ví dụ: Trong TC “Sinh nhật Búp Bê”, các bé sẽ tái hiện lại quá trình tổ chức

bữa tiệc sinh nhật, ngồi nhiệm vụ trang trí bánh, sắp đặt bàn ghế, trang trí sân

khấu…các bé còn chuẩn bị tiết mục văn nghệ, hay đóng kịch tái hiện lại những câu

chuyện để tặng sinh nhật cho Búp Bê. Ví dụ, khi bé cùng nhau tập đóng kịch Thỏ và

Rùa để tặng sinh nhật Búp Bê, thì hai bé sẽ phối hợp với nhau để trao đổi về từng

vai của câu chuyện, ai đóng vai gì. Sau đó hai bé sẽ độc lập tập lời thoại cho vai

của mình. Cuối cùng hai bé sẽ cùng nhau phối hợp để thể hiện câu chuyện. Như vây

hai bé đã phối hợp hành động theo kiểu “mục tiêu – kết quả”.



46



Phối hợp hành động theo kiểu “dây chuyền sản xuất”- trẻ sẽ hoàn thành

nhiệm vụ lần lượt. Tức là, kết quả của một nhiệm vụ được hoàn thành bởi một đứa

trẻ này sẽ là đối tượng cho hoạt động của đứa trẻ khác. Điều này đòi hỏi sự tương

tác giữa các trẻ.

Kiểu phối hợp hành động hợp tác này, trẻ không chỉ xác định mục tiêu chung

mà còn phải thực hiện các hành động một cách nhất quán giữa những người tham

gia. Khi một hoạt động vốn được thực hiện bởi một người lại trở thành mục tiêu

hoạt động của người khác sẽ đòi hỏi sự giao lưu, hợp tác giữa những người tham gia

– hoạt động theo kiểu “dây chuyền sản xuất”.

Ví dụ: Trong TC “Sinh nhật Búp Bê” các bé cùng nhau “làm bánh” để tặng

sinh nhật cho Búp Bê. Bé đóng vai Mẹ sẽ nhồi bột, đưa bột cho một bạn (đóng vai

con) xếp dải bánh thành hình trái tim, bạn tiếp theo (đóng vai con) xếp bánh hình

trái tim vào khay bánh. Mẹ đưa khay bánh vào lò nướng… Như vậy các bé đã phối

hợp hành động với nhau để làm bánh theo kiểu “dây chuyền sản xuất”.

Phối hợp hành động theo kiểu “Phối kết hợp” – trẻ sẽ lên kế hoạch công việc

và thực hiện công việc theo cặp trước để hồn thành một phần cơng việc, sau đó sẽ

phối hợp cùng để đạt được kết quả cuối cùng. Phối hợp hành động theo kiểu “Phối

kết hợp” diễn ra khi trẻ có kinh nghiệm trong cơng việc thực hiện hai kiểu phối hợp

hành động “mục tiêu – kết quả” và “dây chuyền sản xuất”. Trong kiểu phối hợp

hành động này sẽ nâng cao khả năng lên kế hoạch công việc, phối hợp hành động

và đánh giá kết quả trung gian và cuối cùng nhờ việc trẻ đã có kinh nghiệm hợp tác.

Về biểu hiện thiết lập mối quan hệ chơi, khi chơi trẻ cùng tham gia quan hệ

thực và quan hệ chơi. Quan hệ thực là mối quan hệ qua lại giữa các trẻ cùng tham

gia TC, còn quan hệ chơi là những mối quan hệ được thiết lập theo chủ đề và vai

chơi. Muốn phát triển mối quan hệ thực trẻ phải có ý thức chơi, biết chọn bạn chơi

phù hợp. Phát triển quan hệ chơi thì trẻ phải có vốn hiểu biết về cuộc sống xã hội,

có trí tưởng tượng phong phú, có vốn ngơn ngữ tích cực.

- Lắng nghe nhau và tuân thủ yêu cầu của nhóm chơi

Trẻ phải biết học cách lắng nghe, nghe để học. Lắng nghe là một kỹ năng cần

thiết khi trẻ học ở bất kì mơi trường học tập nào. Khơng những thế, lắng nghe còn là

một kỹ năng cực kỳ quan trong giúp trẻ thiết lập mối quan hệ bạn bè, thầy cô và

những người xung quanh.

47



Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo thường rất hiếu động và chúng chỉ có thể tập trung

chú ý trong một khoảng thời gian không lâu. Thêm vào đó trẻ lại có “cái tơi” rất lớn

và thích thể hiện “cái tơi” của mình ra để muốn chứng tỏ mình đã lớn. Thái độ này

xuất phát từ sự ích kỷ, vị kỷ trong mỗi trẻ nói riêng và trong mỗi con người chúng

ta nói chung. Vì “cái tơi” quá lớn cho nên trẻ không chú ý lắng nghe lời cơ giáo nói

và các bạn vì trẻ cho rằng trẻ là người biết tất cả rồi, những vấn đề mà cơ giáo, hay

các bạn nói chẳng thấm vào đâu so với trẻ nên không cần quan tâm đến những vấn

đề mà người khác đang nói hay tiêu cực hơn là trẻ chỉ chăm chăm nghe để tìm lỗi

sai của các bạn, để phản bác lại. Và hậu quả trẻ sẽ nhận được từ thái độ này, đó là:

trẻ sẽ chẳng có thêm chút kiến thức nào cả, nếu có chỉ là sự hài lòng một cách ngộ

nhận về kiến thức của bản thân.

Cho nên khi chơi chung trong nhóm sẽ tập cho trẻ biết chú ý lắng nghe lời cơ

giáo giải thích, hướng dẫn để biết tổ chức cách chơi theo nhóm hiệu quả, và trong

khi chơi trẻ phải biết lắng nghe ý kiến của các thành viên trong nhóm chơi, để tránh

những mâu thuẫn, xung đột,những bất đồng ý kiến xảy ra trong khi chơi.

Cho trẻ hoạt động theo nhóm để trẻ tập cách lắng nghe và xác định những

điểm giống và khác, những điểm trẻ đồng ý và những điểm trẻ không đồng ý và

những điểm trẻ không tán thành với các bạn trong khi chơi. Và từ đó trẻ có nhu cầu

chia sẻ những suy nghĩ riêng của mình với các thành viên trong nhóm.

Khi lắng nghe người khác, trẻ cần chuẩn bị cho mình tâm thế “thấu hiểu” –

muốn và cố gắng hiểu lời bạn nói, khơng chỉ chăm chăm vào ý kiến của mình. Phải

hiểu được ý kiến của bạn, trẻ mới đưa ra được quan điểm của mình, cùng thảo luận

và đi tới thống nhất.

- Chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, trải nghiệm cùng nhau trong khi chơi.

Trong khi chơi trong nhóm, trẻ cần ý thức về trách nhiệm của mình với

nhiệm vụ chung, chủ động hồn thành nhiệm vụ riêng của mình. Ngay khi hồn

thành phần việc của mình, trẻ biết đặt nó trong tiến độ chung, quan sát sự hài hòa

giữa thành quả của mình với phần của các bạn, sẵn sàng giúp đỡ các bạn khác khi

họ gặp khó khăn, hoặc chưa hồn thành cơng việc.

Khi chơi chung trong nhóm trẻ phải biết phối hợp, giúp đỡ và cùng với các

bạn trong nhóm giải quyết những xung đột. Đã xác định là một thành viên của

48



nhóm, trẻ cần biết chấp nhận sự phân công và thực hiện tốt phần được giao, đồng

thời phải phối hợp chặt chẽ các thành viên khác trong nhóm. Sự phối hợp này

khơng chỉ dừng lại ở việc thể hiện ý thức, trách nhiệm đối với nhiệm vụ chung mà

còn bao gồm sự quan sát, đánh giá hoạt động của các bạn và giúp đỡ khi bạn gặp

khó khăn, hoặc nhờ bạn hỗ trợ nếu cần…

Trong quá trình cùng nhau hoạt động, trẻ sẽ nắm bắt, lĩnh hội được những

kinh nghiệm, thông tin, phương tiện (như đồ dùng, đồ chơi…của các bạn trong

nhóm chơi) nhờ vào sự chia sẻ; đây cũng là điều kiện hình thành nhân cách cho trẻ.

Trong nhóm chơi, trẻ phải biết trình bày ý kiến của mình một cách rõ ràng, mạch lạc

để đưa ra thảo luận, bàn bạc. Chấp nhận ý kiến trái chiều, kiềm chế bản thân, tôn

trọng bạn cũng như ý kiến của bạn.

Giúp đỡ, chia sẻ những kinh nghiệm, ý tưởng, thông tin đem lại sự thoải mái,

cởi mở, tinh thần đoàn kết ở trẻ, giúp trẻ hiểu nhau hơn, thân thiết hơn, hạn chế

những xung đột, mâu thuẫn. Điều đó giúp cho trẻ đi đến mục đích dễ dàng hơn, hiệu

quả công việc trở nên tốt đẹp hơn.

Ngoài việc chủ động giúp đỡ bạn bè, trẻ cũng cần học cách tìm kiếm sự giúp

đỡ khi cần thiết. Trẻ thường cảm thấy tự ti khi gặp khó khăn và ngại ngùng, xấu hổ

khi yêu cầu sự giúp đỡ của bạn đồng trang lứa. Trẻ cần hiểu được việc hỏi bạn về

điều mình chưa rõ, hoặc nhờ đến sự giúp đỡ của người khác là một việc khơng hề

khó, không cần sợ hãi cũng như mặc cảm.

Cùng nhau trải nghiệm những tình huống thực tế nảy sinh trong khi chơi, tìm

cách giải quyết chung nhất.

- Cùng nhau giải quyết xung đột

Q trình trẻ hoạt động cùng nhau trong nhóm rất thường xảy ra xung đột.

Mỗi trẻ phải có khả năng tự kiềm chế, phục tùng những quy định chung, biết giải

quyết mâu thuẫn một cách hòa bình, trên cơ sở tôn trọng và nhường nhịn lẫn nhau.

Xung đột thường xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể vì ý tưởng

chơi khơng giống nhau, hành động chơi khơng trùng khớp vai chơi và đơi khi vì đồ

chơi… Xung đột là hiện tượng tất yếu xảy ra trong hoạt động chung, do đó trẻ biết

cách tự giải quyết xung đột để trò chơi được tiếp tục.



49



2.3.2.1. Thực trạng nhận thức của CBQL và giáo viên, phụ huynh về tầm

quan trọng GD KNHT cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ

Qua phỏng vấn GVMN, phụ huynh cũng như các CBQL theo câu hỏi: “Giáo

dục KNHT là gì?”, “Theo các anh, chị /cô giáo dục KNHT cho trẻ 5- 6 tuổi có

quan trọng khơng?” Tác giả đã tổng hợp rất nhiều kết quả tương tự nhau, họ đều

cho rằng: Là nhằm hình thành cho trẻ những KNHT là sự phối hợp hành động để

cùng thực hiện có hiệu quả một nhiệm vụ chung…; KNHT là kỹ năng vô cùng quan

trọng với mọi trẻ.

Vậy CBQL và GV, PH nhận thức như thế nào về sự cần thiết của kỹ năng này.

Bảng 2.4: Nhận thức của CBQL và GV, PH về sự cần thiết giáo dục KNHT

STT

1

2

5



Nội dung

Rất cần thiết

Cần thiết

Không cần thiết

Tổng



Số lượng (N=80)

41

29

10

80



Tỉ lệ %

51,2

36,3

6,1

100,0



Thứ bậc

1

2

3



Bảng 2.1 cho thấy, phần lớn CBQL và GV,PH đều có nhận thức rất rõ ràng

về sự “cần thiết” và “rất cần thiết” phải giáo dục và phát triển KNHT cho trẻ

trong độ tuổi này và xem đây là một trong những điều kiện thiết yếu để phát

triển các nhân cách trẻ trong tương lai. Bên cạnh đó, cũng còn một số CBQL và

GV,PH chưa nhận thức được tầm quan trọng của KNHT vì những lí do khác

nhau; thậm chí nhiều trường xem nhẹ việc phát triển kỹ năng nói chung và

KNHT nói riêng ở độ tuổi này.



Bảng 2.5: Nhận thức của CBQL, GV, PH về vai trò giáo dục KNHT

trong TC ĐVTCĐ

STT

1



Số lượng



Nội dung



N=80



Tạo sự gần gũi, giảm căng thẳng và khoảng cách

giữa cô và trẻ.

50



40



Tỉ lệ %

50,0



2

3

4

5



Tạo cảm giác thân thiện với bạn, dễ hồ đồng với

mọi người xung quanh

Biết tơn trọng lắng nghe, chia sẻ cùng bạn, biết chấp

nhận sự phân công của bạn

Biết nhường nhịn trong khi chơi cũng như chọn bạn

làm thủ lĩnh

Biết nhận ra năng lực của mình và của bạn, để phân

công nhiệm vụ cho phù hợp



76



95,0



78



97,5



69



86,2



44



55,0



6



Thoả thuận thống nhất cách chơi



74



92,5



7



Biết cách giải quyết vấn đề, giải quyết



68



85,0



Khảo sát thực trạng về nhận thức của CBQL và GV,PH cho thấy: hầu hết các

GV,PH và CBQL đều thấy vai trò của việc giáo dục KNHT thơng qua TC ĐVTCĐ,

thấy được mức độ ảnh hưởng của nó ảnh hưởng đến trẻ: sự gần gũi (50%); tính thân

thiện (95%); biết hợp tác chia sẻ (97,5%); cách giải quyết tình huống (85%).

Đánh giá theo kết quả bảng khảo sát cho thấy vai trò giáo dục KNHT cũng

đã quan tâm tuy nhiên qua thực tế tổ chức hoạt động chơi thì hiện nay CBQL cũng

như GV chỉ quan tâm đến nội dung phù hợp với chủ đề là chính chứ chưa chú ý

nhiều về tính hợp tác, mức độ rèn luyện các kỹ năng trong trong quá trình chơi.



51



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

qua sự đánh giá của GV

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×