Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. Giải pháp phát triển nông nghiệp chất lượng cao ở Việt Nam

III. Giải pháp phát triển nông nghiệp chất lượng cao ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

2015 Lúa mì của Mỹ đến Việt Nam được bán ở mức 300 USD/tấn bao

gồm cả chi phí vận chuyển, trong khi giá ngô của Brazil đến Malaysia

được chào bán khoảng 350 USD – 355 USD/tấn, thương nhân cho

biết..Bộ Nông nghiệp Mỹ USDA dự báo dự trữ lúa mì thế giới sẽ đạt

194,6 triệu tấn, tăng 5,7% so với tháng trước, và lượng ngơ thương

mại trung bình khoảng 187,7 triệu tấn.Sri Lanka đã mua 55.000 tấn

lúa mì trắng mềm từ Mỹ với mức giá 270 USD – 275 USD, giá FOB,

giao tháng 11năm 2014, trong khi Đài Loan nhận 44.100 tấn lúa mì

của Mỹ trong đấu thầu các lơ hàng giao từ ngày 16 – 30 tháng 10.

Tuần này, giá lúa mì trắng mềm của Mỹ được chào bán khoảng 320

USD/tấn, giá C&F, lúa mì mùa đơng đỏ cứng giá 375 USD/tấn và lúa

mì mùa xuân ở mức 435 USD/tấn. Tất cả các loại lúa mì đều giảm từ

10 USD – 15 USD so với tuần trước.Bộ Nông trại Nhật Bản đã mua

109.365 tấn lùa mì xay từ Mỹ, Canada và Úc trong đấu thầu đóng cửa

hơm thứ 5. Lúa mì Ấn Độ tại thị trường Châu Á có mức khoảng 300

USD – 320 USD/tấn sau khi Ấn Độ cho phép xuất khẩu 2 triệu tấn lúa

mì vào tuần trước. "Bangladesh và Sri Lanka sẽ được hưởng lợi từ lúa

mì Ấn Độ khi các nước này được hưởng lợi do chi phí vận chuyển

thấp hơn và được hưởng mức thuế nhập khẩu bằng 0 theo thỏa thuận

trong khu vực," thương nhân tại Singapore cho biết.



b



sự cạnh tranh của các nước trên thế giới

-Thấy rõ qua mặt hàng gạo



38



Biểu đồ biến động giá gạo thế gới quan các thời kỳ

Theo đó , The Oryza White Rice Index (WRI) - Chỉ số giá

gạo trắng xuất khẩu toàn cầu ở mức 413 USD/ tấn . Trong đó giá

gạo 4% tấm của Mỹ hiện đang ở mức 485 USD/ tấn. Giá gạo 5% tấm

của Campuchia hiện đang ở mức 440 USD/ tấn, Giá gạo 5% tấm Việt

Nam hiện đang ở mức 365 USD/ tấn. Đây là 1 ví dụ nhỏ về sự cạnh

tranh của nơng sản 1 số cường quốc, nó tạo sự cạnh tranh mạnh, giá

của nông sản các nước trên cao hơn rất nhiều so với giá nơng sản

trung bình của thế giới.

Năng suất lao động thấp ,chất lượng sản phẩm thấp kiến cho giá thành

sản phẩm cao

Theo đánh giá của Giám đốc Sở KH&CN Đỗ Khoa Văn thì

KH&CN cho biết nếu lấy sản phẩm gạo của Thái Lan để so sánh. Dù

giá cả cao hơn nhưng gạo Thái vẫn “sống” khỏe ngay trên “đất

khách”. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam



39



vẫn còn q ít và nhỏ lẻ. Hơn nữa, người nơng dân vẫn còn q thụ

động trong việc tiếp nhận giống, cơng nghệ mới.Nhìn chung, cơng tác

bảo quản, chế biến nơng sản vẫn còn phát triển chậm, mang tính tự

phát, phân tán trong dân, cơng nghệ lạc hậu, chất lượng hàng hóa thấp.

Đặc biệt, khâu chế biến nơng sản còn khá đơn giản, sản phẩm đưa ra

thị trường dưới dạng thô, giá trị kinh tế thấp. Một số lĩnh vực sản xuất

mang lại giá trị cao nhưng thiếu các cơ sở chế biến công nghiệp để tạo

sản phẩm hàng hóa như: cam chanh, bí xanh, lạc nhân, thịt các loại...

Chỉ một số ít các sản phẩm được thông qua chế biến, đủ tiêu chuẩn

xuất khẩu như: chè đen; tinh bột sắn; dăm gỗ, gỗ các loại; tôm, mực

đông lạnh



c



tái cơ cấu nền kinh tế, cải cách thể chếsẽ tạo điều kiện tốt để

phát triển NN CLC

• Những hạn chế cần nhìn nhận để phát triển tại Việt Nam

Do phong tục tập quán, cách thức sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã

có từ rất lâu nên tình trạng sản xuất manh mún nhỏ lẻ vẫn điền nhiên

diễn ra.Bên cạnh đó ở các địa phương của Việt Nam hiện nay, nhiều

diện tích đất canh tác đang bị thu hẹp để lấy đất xây dựng các khu

công nghiệp. Trong khi đó, mục tiêu mn đời của phát triển nơng

nghiệp là tăng sản lượng trên đất, nhưng VN lại chưa có nhiều cơng

nghệ cao để giúp tăng sản lượng.Điều cản trở tầm nhìn lớn nhất của

các nhà đầu tư là kích cỡ và quy mơ sử dụng đất nơng nghiệp của

nông dân hiện nay. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, đa phần nông

dân VN hiện nay sở hữu diện tích đất nơng nghiệp nhỏ, nên việc phát

triển kinh tế của họ cũng diễn ra trong quy mô không lớn, manh

mún.Hơn nữa, VN chưa có những chiêu thức giới thiệu, quảng bá



40



nông nghiệp ấn tượng với thế giới, cùng với những thủ tục hành chính,

thuế…. cũng đã góp phần làm trở ngại cho nguồn vốn FDI. Khó thu

hút vốn vào nơng nghiệp tại hiệu quả cao trong sản xuất.

.



• Tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp chất

lượng cao trong nước

Từng bước cơng nghiệp hóa nơng nghiệp (cơ giới hóa các khâu của

q trình sản xuất), tự động hóa, cơng nghệ thơng tin, cơng nghệ vật

liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật ni

có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một diện

tích, phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ.

Theo bộ Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn ( NN & PTNT ),

trong giai đoạn năm 2001-2011, các hoạt động khoa học và cơng nghệ

( KH &CN ) đã đóng góp trực tiếp vào GDP của Ngạnh là khoảng

35% . Năng suất nhiều loại cây trồng , vật nuôi đã thăng đáng kể và

đạt mức tiên tiến của thế giới như lúa, cà phê, cao su…Cùng với đó là

các chiến lược đi kèm để đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp theo

hướng chất lượng cao của Bộ NN & PTNN

Bộ NN &PTNT đã xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN nông

nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011 – 2020. Trong đó, Bộ

NN&PTNT đặt ra mục tiêu đến năm 2015 thành tựu KH&CN đóng

góp 40% GDP ngành nơng nghiệp và 50% đến năm 2020. Sản phẩm

nông nghiệp công nghệ cao và sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công



41



nghệ cao chiếm tỷ trọng 30% trong giá trị sản xuất các sản phẩm chủ

yếu đến năm 2015 và 50% vào năm 2020.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia việc phát triển KH&CN trong lĩnh

vực nơng nghiệp, nơng thơn phải mang tính bền vững, hiệu quả, trong

đó quan tâm đến vai trò của người nông dân. TS Chu Tiến Quang,

Viện Quản lý kinh tế T.Ư cho rằng, cần tăng cường hơn nữa công tác

chuyển giao KH&CN cho người nông dân. Đây là một khoảng trống

lớn từ trước tới nay vẫn chưa được lấp đầy. Để làm tốt việc đó, phải

gắn kết giữa hệ thống nghiên cứu KH&CN Nhà nước với tư nhân, hợp

tác xã, người nơng dân. Hiện nay, có rất nhiều sáng tạo khoa học của

người nông dân nhưng chưa được công nhận và tiếp sức kịp thời.

Một vấn đề quan trọng nữa là đẩy mạnh phát triển sản xuất theo

hướng GAP, tăng cường công nghệ sau thu hoạch để nâng cao giá trị

gia tăng và đảm bảo an toàn thực phẩm cho nông sản. Thứ trưởng Bộ

NN&PTNT Nguyễn Thị Xuân Thu nhận định, một số kỹ thuật trong

canh tác tạm thời đã được cải thiện, song công nghệ sau thu hoạch

chưa đạt yêu cầu. Do vậy, trong vòng 8 năm tới, ngành nông nghiệp

cần xác định rõ vấn đề trọng tâm ưu tiên phát triển KH&CN, trong đó

có cơng nghệ sau thu hoạch.

Trong thời gian tới, ngành nông nghiệp sẽ thực hiện cơ chế tự chủ,

tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN công lập; đổi mới cơ

chế quản lý, chế độ tài chính theo hướng quản lý sản phẩm, đầu ra của

nhiệm vụ KH&CN. Ngồi ra, ngành nơng nghiệp sẽ tăng cường đầu tư

nâng cấp cơ sở hạ tầng, thiết bị cơng nghệ cho các phòng thí nghiệm;



42



đào tạo nguồn nhân lực kết hợp với cơ chế quản lý nhân lực KH&CN

theo hướng tạo lập thị trường lao động trong hoạt động KH&CN.



• Mơ hình thực tiễn

Trên địa bàn tồn tỉnh Hà Tĩnhhiện có trên 1.060 cơ sở xay xát lúa

gạo, quy mô nhỏ từ 10-300 tấn/năm, phục vụ khoảng 54,6% nhu cầu

lúa gạo thị trường Hà Tĩnh năm 2010, tuy nhiên, tỷ lệ thu hồi gạo

thấp, chất lượng hạt gạo chưa đủ sức cạnh tranh với các địa phương

khác. Ngoài ra, 131 cơ sở chế biến lạc, đậu phân bố rải rác trên toàn

tỉnh, ngoài 2 cơ sở lớn ở huyện Nghi Xn thì còn lại đều là cơ sở

nhỏ, khối lượng nguyên liệu đầu vào hàng năm chỉ đạt khoảng 30%

sản lượng lạc trên địa bàn tỉnh. Các nông sản khác như cam, bưởi,

rau... hầu như chưa có cơ sở bảo quản, chế biến. Tín hiệu đáng mừng

trong việc chế biến của tỉnh là Nhà máy Chế biến súc sản Mitraco (Kỳ

Anh) được đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại theo tiêu chuẩn châu

Âu về vệ sinh an toàn thực phẩm, đã đi vào hoạt động từ giữa năm

2014, góp phần quan trọng trong giải quyết đầu ra cho người chăn

nuôi, phát triển chăn nuôi lợn bền vững trên địa bàn.



• Thí điểm trên diện rộng

Theo những kết quả đạt được ở Hà Tĩnh, Bộ NN và PTNN đã đưa

ra bàn bạc và thỏa luận để rút kinh nghiệm từ mơ hình và dần dần

hồnthiện hơn các quy trình, tổng kết kinh nghiệm. Bên cạnh đó, đẩy

mạnh sản xuất, quy hoạch ruộng đất được diễn ra trên nhiều địa

phương, áp dụng mơ hình như bò sữa ở Mộc Châu – Sơn La, Rau ở



43



Mộc Châu, Lúa ở tỉnh Bạc Liêu ,Sóc Trăng và nhiều mơ hình ở địa

phương khác …

Được đánh giá khá cao và triển vọng, mang lại nguồn thực phẩm

sạch đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đẩy mạnh năng suất, chất

lượng, nhờ đó đem đến những hiệu quả tích cực,tuy nhiên mơ hình

còn nhiều thiếu sót cần hồn chỉnh hơn.

Từ những thành tựu trên, nông dân Việt Nam được đẩy mạnh tiếp

xúc với khoa học công nghệ, các thành tựu mới,ứng dụng mới tạo nên

tri thức ,tăng hiểu biết.

Kèm theo đó với những lợi ích mang lại ,cùng với GDP là sự lớn

mạnh của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu trong nước, đẩy mạnh

xuất khẩu mặt hàng tinh,hạn chế nhập khẩu như trước, tăng cường

đảm bảo cho ổn định giá sản phẩm trong nước.

Bài học từ các quốc gia khác trên thế giới

21 Tích cực

a) Đầu tư cho khoa học - kỹ thuật nơng nghiệp

8)



Để có thể xây dựng và phát triển nền nơng nghiệp chất lượng cao

thì các quốc gia trên thế giới chắc chắn không thể đã chỉ tiếp tục sản

xuất theo các phương thức truyền thống. Một trong những điều tất yếu

đầu tiên và quan trọng nhất của “chất lượng cao” ở một nền nông

nghiệp nằm ở việc phải phát triển các công nghệ cao, các kỹ thuật

nông nghiệp mới để có thể ứng dụng vào sản xuất thực tế, nhằm nâng

cao năng suất cũng như chất lượng các mặt hàng nông sản.

*Ứng dụng công nghệ sinh học



44



Hiện nay trên thế giới đã có 29 quốc gia (bao gồm cả Việt Nam từ

năm 2015) tham gia vào việc ứng dụng công nghệ biến đổi gen trong

lĩnh vực giống cây trồng. Các giống cây trồng biến đổi gen có ưu điểm

nổi bật như đặc tính kháng được thuốc trừ cỏ, kháng sâu bệnh, chịu

lạnh tốt, chịu mặn, chịu hạn,…

Theo báo cáo “Hiện trạng cây trồng công nghệ sinh học/cây trồng

chuyển gen được thương mại hố trên tồn cầu 2014” của ISAAA Tổ chức quốc tế về tiếp thu các ứng dụng công nghệ sinh học trong

nông nghiệp), một phân tích tổng hợp tồn cầu của 147 nghiên cứu về

tác động của cây trồng công nghệ sinh học trong 20 năm (1995-2014)

đã xác nhận rằng cây trồng công nghệ sinh học giúp tăng 22% sản

lượng, giảm 37% việc sử dụng phân bón hố học, tăng 68% lợi nhuận

cho nơng dân.

Cũng theo báo cáo này, Mỹ hiện đang là quốc gia dẫn đầu về diện

tích trồng cây cơng nghệ sinh học với 73,1 triệu ha, chiếm 40% thế

giới, với tỷ lệ áp dụng hơn 90% cho những cây trng chính gồm ngô,

đậu tương và bông. Mức tăng trưởng hàng năm đạt 4%, tương đương

với 3 triệu ha. Đứng thứ hai là Brazil và Argentina duy trì ở vị trí thứ

ba.

*Cơng nghệ tưới của Isarel

Israel nổi tiếng là quốc gia có khí hậu và điều kiện địa hình phức

tạp. Hơn nửa diện tích đất đai của Israel là hoang mạc và bán hoang

mạc, nửa còn lại là rừng và đồi dốc; trong đó, chỉ 20% diện tích đất



45



đai là có thể trồng trọt, hơn một nửa trong số đó phải được tưới tiêu

thường xuyên.

Để sử dụng nguồn nước khan hiếm của mình một cách hợp lí và có

hiệu quả nhất, Isarel áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt “made in

Isarel”. Chất dinh dưỡng theo các ống dẫn nước tới từng gốc cây, gốc

rau và được tưới bón nhỏ giọt tùy theo từng loại cây củ quả bởi một

phần mềm điều khiển tự động sau khi đã nạp đủ thông tin về độ ẩm

khơng khí, đất đai, tuổi và nhu cầu tăng trưởng của từng loại cây. Hệ

thống này tự động đóng mở van khi độ ẩm của rễ cây đạt tới mức nhất

định thông qua các cảm biến điện tử.

Tưới nhỏ giọt được áp dụng nhiều trong các nơng trang, nhà kính

và vườn gia đình cũng như thích hợp nhất với các loại cây như dừa,

nho, chuối, cam quýt, dâu tây, mía, bông, ngô, cà chua và một số cây

công nghiệp khác. Israel trở thành quốc gia tiên phong trong việc phát

triển các công nghệ và thiết bị tưới nhỏ giọt; các mơ hình hệ thống

tưới nhỏ giọt khác nhau cũng được thiết kế tùy theo nhu cầu như tưới

thẳng, bán nguyệt xoay tròn, tưới nhỏ giọt hoặc phun sương.

Cơng nghệ này đang ngày càng trở nên phổ biến, được áp dụng

rộng rãi tại nhiều quốc gia khác trên thế giới như các nước Nam Mỹ,

châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ,…

b) Kết hợp nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân

Bên cạnh việc đầu tư vào khoa học kỹ thuật nông nghiệp, phát triển

cơng nghệ mới, các quốc gia còn tập trung xây dựng các khu nông

nghiệp công nghệ cao, như ở Mỹ, Anh, Trung Quốc, Thái Lan,..



46



Phần lớn các khu khoa học nông nghiệp công nghệ cao đều phân bố

tại nơi tập trung các trường đại học, viện nghiên cứu để nhanh chóng

ứng dụng những thành tựu khoa học cơng nghệ mới và kết hợp với

kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nghiệp để hình thành nên một

khu khoa học với các chức năng cả nghiên cứu ứng dụng, sản xuất,

tiêu thụ và dịch vụ.

Có thể ví dụ qua một cơng ty lớn chuyên về công nghệ tưới

NaanDan Jain của Israel. Đa phần các nước nhập khẩu công nghệ của

NaanDan Jain chỉ biết rằng đây là một trong những công ty hàng đầu

Israel chuyên về giải pháp tưới, không biết rằng chính cơng ty cũng

đang sở hữu những đồn điền rộng lớn, nơi chính những tiến bộ khoa

học của cơng ty được triển khai đầu tiên, nhằm đảm bảo sự thích ứng

hoàn hảo nhất đối với nhu cầu của người trồng trọt.

c) Xây dựng mơ hình hợp tác xã đặc trưng ở Isarel

Nền nông nghiệp Israel được cấu thành dựa trên sự hợp tác của các

cơ sở nông nghiệp được phát triển từ đầu thế kỷ 20. Khoảng 80% hoạt

động nông nghiệp được sở hữu và điều hành bởi các cộng đồng hợp

tác là Kibbutz và các Moshav; 20% còn lại hầu hết là các moshava

gồm các khu rừng nhỏ trồng cam quýt ở miền trung đất nước thuộc về

các công ty tư nhân lớn và các làng Arab.

Chính sách xây dựng các mơ hình sản xuất nơng nghiệp đặc trưng,

trong đó tiêu biểu là các Kibbutz nơng nghiệp mà chính phủ chú trọng

từ khi lập nước, đã hỗ trợ rất hiệu quả cho sự phát triển nơng nghiệp



47



nói chung và các hoạt động cơng nghệ nơng nghiệp nói riêng. Đó là

do:

Thứ nhất, nông nghiệp phát triển trong điều kiện tự nhiên không

thuận lợi mà phải đáp ứng nhu cầu cho dân số khá đơng; từ nhu cầu

cấp thiết đó, nơng dân trong các kibbutz đã có sự liên kết rất cao với

các nhà khoa học, để phát triển công nghệ phục vụ nông nghiệp; sản

xuất nông phẩm đủ tiêu dùng trong nước; liên kết với các doanh

nghiệp để bán sản phẩm ra thị trường thế giới.

Thứ hai, do mơ hình sản xuất là tập trung chứ không tách rời từng

hộ cá thể nên việc thực hiện các dự án mới sẽ đồng thuận, nhanh

chóng, hiệu quả hơn.

Thứ ba, các đơn vị sản xuất nông nghiệp tập trung sẽ là điều kiện

tốt để đất canh tác được tập trung lại, không phân tán nhỏ lẻ, do đó đủ

khả năng áp dụng những máy móc hiện đại canh tác trên cho những

cánh đồng có quy mơ lớn, vừa giảm sức lao động vừa thu được năng

suất cao.

d) Đấu giá nông sản ở Nhật Bản

Ở Nhật, mọi mặt hàng liên quan tới nông sản như lương thực, thực

phẩm, hoa, cây cảnh... đều có thể giao dịch thông qua chợ đấu giá

được Nhà nước cấp phép. Nhật Bản có tất cả 130 cơng ty đấu giá nông

sản phân bố khắp 37 tỉnh, thành phố. Bên cạnh chợ đấu giá hiện đại,

tồn tại song song các chợ truyền thống, chợ đấu giá truyền thống và

chợ bán sỉ do chính quyền địa phương cấp phép. Nơng sản đã tham gia

chợ đấu giá thì khơng được tham dự ở chợ bán sỉ và ngược lại.



48



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. Giải pháp phát triển nông nghiệp chất lượng cao ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×