Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Khái quát về nền nông nghiệp chất lượng cao

I. Khái quát về nền nông nghiệp chất lượng cao

Tải bản đầy đủ - 0trang

tiến bộ, hiện đại được quản lý và xác nhận chất lượng ở phạm vi quốc

gia và quốc tế

- Nhiều nước trên thế giới hiện áp dụng các chỉ tiêu của qui trình “Sản

xuất nơng nghiệp tốt (GAP)” để xác nhận chất lượng nơng sản đảm

bảo an tồn vệ sinh thực phẩm và xuất xứ của sản phẩm. Tại Việt Nam

hiện cũng đang thúc đẩy phát triển nông sản sản xuất theo qui trình

GAP với các tiêu chuẩn Viet GAP và Global GAP nhằm đáp ứng yêu

cầu về chất lượng sản phẩm an toàn, sạch ngày càng cao của thị

trường nội tiêu cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia vào

thị trưòng xuất khấu một cách hiệu quả, đặc biệt với những thị trưòng

khó tính nhưng giàu tiềm năng kim ngạch như các quốc gia Bắc Mỹ,

EU, Úc v.v…

Như vậy, sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao cần hội đủ các yếu tố

cả về phẩm chất lẫn về tiêu chuẩn sạch, an toàn cho người tiêu dùng.

Đây là những yếu tố mang lại lợi thế cạnh tranh cao cho nông sản chất

lượng cao trên thị trường tiêu thụ thơng thường cũng như những thị

trường khắt khe, khó tính.

Nơng nghiệp chất lượng cao phát triển cơ bản dựa trên kỹ thuật sản

xuất thâm canh, ứng dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học - cơng nghệ,

trong đó nơng nghiệp cơng nghệ cao ngày càng khẳng định vai trò

động lực thúc đẩy q trính phát triển nơng nghiệp cả về lượng lẫn về

chất

Ứng dụng công nghệ cao trong nông - lâm - ngư nghiệp là áp dụng

một cách hợp lý các kỹ thuật tiên tiến nhất trong chọn tạo giống mới,

chăm sóc ni dưỡng cây, con bằng hệ thống thiết bị tự động, điều

khiển từ xa, chế biến phân bón vi sinh cho cây trồng, thức ăn chăn

nuôi (gồm cả thuỷ sản), thuốc thú y, bảo vệ thực vật, công nghệ tự

động trong thuỷ lợi, công nghệ sau thu hoạch và chế biến nông - thuỷ

sản, công nghệ xử lý chất thải bảo vệ mơi trường… Trong đó, cơng

nghệ sinh học giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển nông nghiệp

công nghệ cao.



3



Việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đã đem lại những

bước phát triển đột phá với những ưu thế trong sản xuất. Cụ thể như

hàng loạt giống mới được tạo ra với những ưu thế về năng suất, chất

lượng kháng sâu bệnh, chịu hạn, chịu mặn… mang lại hiệu quả cao

trong sản xuất , phương pháp canh tác hữu cơ sau bệnh, an toàn vệ

sinh thực phẩm, kỹ thuật canh tác trong nhà kính (có hệ thống điều

khiển tự động hoặc bán tự động đối với các yếu tố nhiệt, ẩm, ánh sáng,

phân bón, nước tưới…) giảm bớt sự lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên.

Đồng thời, việc sử dụng các vật liệu mới như nilon che phủ để chống

cỏ dại, giữ ẩm đất, có thể tự phân huỷ khi cây lớn, sử dụng các phế

liệu nông nghiệp như trấu, mùn cưa… làm giá thể trồng cây đảm bảo

vơ trùng, thống khí, giữ ẩm tốt, tự động hố, cơ giới hố trong q

trình sản xuất, vận chuyển sản phẩm, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản,

chế biến nông sản…

Nông nghiệp chất lượng cao là nền nông nghiệp phát triển với những

phương thức tổ chức sản xuất tiến bộ đáp ứng với yêu cầu về qui mô

sản xuất mang tính hàng hố, tập trung, chun canh cao

Các phương thức tổ chức sản xuất thích hợp là trang trại, gia trại… có

qui mơ lớn; hoặc có thể các nông hộ được tổ chức liên kết sản xuất

( các hợp tác xã kiểu mới)… nhằm hình thành các vùng chun canh,

tập trung. Như vậy, nền nơng nghiệp hàng hố chất lượng cao cần

được phát triển có định hướng và được tổ chức sản xuất với những

phưong thức phù hợp, đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả của qui mô sản

xuất, năng lực đầu tư đồng thời phát huy tính năng động trong q

trình phát triển.

Vai trò của nền nông nghiệp chất lượng cao

1 Đảm bảo an ninh lương thực

Nền nông nghiệp chất lượngcao giúp đảm bảo an ninh lương thực cho

các quốc gia. Vấn đề an ninh lương thực luôn là một vấn đề đáng quan

tâm của hầu hết các nước trên thế giới. Để đảm bảo điều này cần đến

sự phối hợp của nhiều biện pháp, bao gồm: chính sách, cán cân xuất

nhập khẩu và đặc biệt là việc phát triển nông nghiệp lương thực ở

3)



4



quốc gia. Ngày nay, các nước đang dần tiến đến việc sản xuất lương

thực nhằm mục đích xuất khâu. Trước hết cần đảm bảo nguồn lương

thực dự trữ trong nước. Phát triển nông nghiệp chất lượng cao sẽ là

một bước tiến quan trọng trong ván đề đảm bảo an ninh lương thực.

Nghiên cứu của các nhà khoa học 13 nước hàng đầu thế giới vừa được

công bố ở London (Anh) cũng khẳng định vai trò và trách nhiệm của

khoa học trong việc ngăn chặn khủng hoảng môi trường, đảm bảo

cung cấp lương thực chất lượng và giảm tác động của biến đổi khí

hậu. Trong khi 12 triệu hécta đất nơng nghiệp bị suy thoái hàng năm,

các sự kiện thời tiết cực đoan đã gây tổn thất nơng nghiệp tồn cầu tới

11,4 tỷ USD trong năm 2011. Khoảng 1,3 tỷ tấn lương thực hàng năm,

chiếm 1/3 sản lượng lương thực để nuôi sống con người trên toàn cầu,

đang bị tổn thất hoặc bị lãng phí.

Thách thức trong vài thập kỷ tới là hòa nhập khoa học vào cuộc chiến

tăng sản xuất lương thực mà không gây tổn hại môi trường; đồng thời

giảm tổn thất lương thực sau thu hoạch, góp phần tăng cường an ninh

lương thực toàn cầu.

Các chuyên gia Liên hợp quốc và các nhà khoa học quốc tế cũng nhấn

mạnh trách nhiệm của khoa học trong bối cảnh 1,4 tỷ người trên thế

giới đang sống dưới mức nghèo khổ và 2 tỷ người đang sống ở các

khu vực khô hạn. Trong 4,9 tỷ hécta đất nơng nghiệp trên thế giới, có

tới 3,7 tỷ hécta đang được sử dụng để chăn thả và trồng các loại cây

làm thức ăn cho gia súc.

Chính vì thế vấn đề nơng nghiệp chất lượng cao có vai trò thúc đẩy

sản lượng lương thực, từ đó đảm bảo cân bằng lương thực quốc gia.

Hiệun nay vấn đề biến đổi khí hậu đang trở thành vấn đề nóng của

toàn cầu. Một nghiên cứu mới bao gồm các nhà nghiên cứu đến từ

MIT (Viện công nghệ Massachusetts - Massachusetts Institute of

Technology) đã chứng minh những mối tương tác nói trên có thể khá

quan trọng, cho thấy những người làm chính sách cần đưa cả hai yếu

tố: ấm lên tồn cầu và ơ nhiễm khơng khí vào để tính tốn khi tìm

cách giải quyết vấn đề an ninh lương thực.

Nghiên cứu này đã xem xét chi tiết sản lượng toàn cầu của 4 loại cây

lương thực hàng đầu gồm: lúa gạo, lúa mì, ngơ và đậu tương – chiếm



5



hơn một nửa lượng calo tiêu thụ của con người trên toàn cầu. Nghiên

cứu dự đoán các ảnh hưởng sẽ thay đổi rất đáng kể giữa các vùng khác

nhau, và một số loại cây lương thực bị tác động mạnh hơn so với loại

cây lương thực khác hoặc bị tác động mạnh hơn bởi các yếu tố khác:

Ví dụ, lúa mì rất nhạy cảm với tiếp xúc ozone, trong khi đó ngơ lại bị

tác động bất lợi nhiều hơn do nhiệt độ.

Nông nghiệp chất lượng cao sẽ giúp tăng năng suất đồng thời với các

chính sách phát triển xanh sẽ giúp giảm thiểu ảnh hưởng của môi

trường đối với nông nghiệp.

Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới sẽ đạt 9 tỉ người

vào năm 2050. Cùng với sự gia tăng dân số, thế giới còn phải đối mặt

với vấn đề biến đổi khí hậu, nhiên liệu hóa thạch tăng giá, hệ sinh thái

suy thối cũng như tình trạng khan hiếm đất và nước – tất cả đang

khiến các phương thức sản xuất lương thực hiện hành khơng còn bền

vững. Trước những thách thức này, sự cải tiến về công nghệ sản xuất

nơng nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng.

Trang cơng nghệ TechNewsWorld của Mỹ có bài giới thiệu về nơng

nghiệp đơ thị. Nơng nghiệp đơ thị là mơ hình trồng trọt và chăn nuôi

bên trong và xung quanh thành phố. Nó đồng nghĩa với việc sản xuất

lương thực ngay tại các khu vực dân cư đông đúc, với nhiều loại hình

khác nhau như vườn rau tự nhiên, vườn rau trong nhà lưới (ngăn sâu

hại xâm nhập) và canh tác nơng nghiệp trong mơi trường có kiểm sốt

(CEA).

CEA là một công nghệ trồng trọt tiên tiến, kết hợp giữa kỹ thuật, khoa

học cây trồng và những công nghệ quản lý dựa trên máy tính nhằm tối

ưu hóa các hệ thống canh tác, chất lượng cây trồng cũng như hiệu quả

sản xuất. Theo đó, nó cho phép nhà nơng điều chỉnh các yếu tố môi

trường theo ý muốn, bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, độ pH và hàm lượng

dinh dưỡng trong đất. Mơ hình trồng trọt này cho phép chuyển đổi các

nhà máy, nhà kho, tòa nhà bị bỏ hoang thành các trang trại hữu dụng.

Với CEA, nhà nông kết hợp mơ hình ni thủy sản với mơ hình thủy

canh (trồng cây trong nước) nhằm tạo ra hệ thống thủy canh tích hợp

sinh học. Đây là một hệ thống sản xuất lương thực bền vững, kết hợp

hài hòa giữa trồng các loại rau quả với nuôi thủy sản trong một môi



6



trường cộng sinh, tuần hồn và khép kín. Khơng chỉ ứng dụng vào

trồng trọt trong nhà, CEA còn được các trường đại học hoặc công ty

sử dụng vào việc nghiên cứu những thay đổi của môi trường đối với

cây trồng, chẳng hạn như nghiên cứu sự quang hợp khi so sánh một

cây được trồng dưới ánh sáng cảm ứng và một cây được trồng với ánh

đèn LED.

Như vậy nông nghiệp chất lượng cao có một vị trí quan trọng trong

việc đảm bảo an ninh lương thực trước những thách thức về môi

trường và dân số thế giới. Nông nghiệp chất lượng cao sẽ là bước đệm

đảm bảo nguồn lương thực dự trữ cũng như cung ứng cho xuất khẩu

của quốc gia. Vì thế cần phải chú trọng phát triển nơng nghiệp chất

lượng cao để đảm bảo an ninh lương thực thế giới cả ở hiện tại và

tương lai.

Tăng sức cạnh tranh cho hàng nông sản trên thị trường

Sản phẩm nông nghiệp ngày càng gặp phải nhiều rào cản thương mại

do các nước nhập khẩu dựng lên dưới hình thức chống bán phá giá,

chống trợ cấp, nhằm khống chế thị phần, bảo hộ cho sản xuất trong

nước. Những rào cản kể trên đã trực tiếp tác động làm giảm tính cạnh

tranh cơng bằng của hàng nông sản các nước trên thị trường thế giới.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao sức cạnh tranh

hàng nông sản, đặc biệt là ở các nước nông nghiệp là việc làm vừa cấp

bách, vừa lâu dài phải gắn liền trong tổng thể chiến lược xây dựng nền

nông nghiệp chất lượng cao, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp và nơng thơn.

Có thể thấy rõ vai trò quan trọng của nền nơng nghiệp chất lượng cao

trong lộ trình nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản:

Xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao đi liền với cải tạo, phát

triển các loại giống có năng suất cao và áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ

thuật, tổ chức lại sản xuất sẽ tạo sức mạnh cung cấp cho thị trường

những lô hàng nông sản lớn. Thực hiện cơ giới hóa, hiện đại hóa, xây

dựng vùng nguyên liệu gắn với nhà máy chế biến và thực hiện đa dạng

hóa sản phẩm, phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã cổ phần nơng

nghiệp, qua đó hình thành vùng sản xuất hàng hóa lớn trong nơng

nghiệp. Có chính sách thu hút đầu tư trong và ngồi nước, đặc biệt là

2



7



đầu tư nước ngồi vào nơng nghiệp, nhất là nông nghiệp công nghệ

cao. Đầu tư mạnh cho nghiên cứu khoa học (giống cây trồng và vật

nuôi, kể cả những giống có gien chuyển đổi thích nghi với điều kiện

canh tác khắc nghiệt của nông dân vùng sâu, vùng xa); công nghệ sau

thu hoạch. Những biện pháp này được thực hiện sẽ giúp tăng năng

suất và nâng cao chất lượng sản phẩm, là yếu tố quan trọng trước hết

để hàng nơng sản có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao đòi hỏi thực hiện đánh giá

cụ thể, chọn lọc các mặt hàng nơng sản có khả năng cạnh tranh để chú

trọng phát triển cũng như có biện pháp khắc phục những yếu kém của

những mặt hàng còn hạn chế về khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Trong đó, chú trọng các giải pháp đồng bộ về kỹ thuật và kinh tế làm

cho sản phẩm thích ứng với thị trường. Xác định rõ chủng loại và thị

trường xuất khẩu chủ yếu, bảo đảm giống tốt cho cây trồng xuất khẩu.

Xây dựng một danh mục hàng hóa nơng sản cho xuất khẩu. Lựa chọn

những loại đặc sản thị trường thế giới đang có nhu cầu lớn, dễ trồng

mà các nước trong khu vực khơng có hoặc chưa chú ý sản xuất nhằm

giảm bớt áp lực cạnh tranh, áp dụng khoa học - kỹ thuật để tăng tỷ

trọng xuất khẩu sản phẩm. Ðối với các sản phẩm chế biến cần lựa

chọn loại sản phẩm xuất khẩu vào thị trường nào tương đối rộng rãi và

chế biến thành nhiều loại sản phẩm khác nhau.

Nền nông nghiệp chất lượng cao gắn liền với việc xây dựng và phát

triển thương hiệu cho các mặt hàng nông sản. Việc xây dựng thương

hiệu khơng khó, cái khó là làm sao phát triển và giữ vững được

thương hiệu sau khi đã xây dựng. Muốn vậy, điều quan trọng nhất là

phải bảo đảm chất lượng của nông sản đúng theo yêu cầu của người

tiêu dùng và của thị trường. Việc hình thành các doanh nghiệp sản

xuất, kinh doanh hàng nơng sản có quy mơ lớn, tăng cường xây dựng

các chuỗi cung ứng nông sản... sẽ là cơ sở ban đầu để hình thành các

thương hiệu mạnh của các doanh nghiệp và nơng sản trên thị trường

thế giới.

Kiện tồn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống

thông tin thị trường từ Trung ương đến các địa phương; thành lập các

điểm thông tin thị trường ở các vùng chuyên canh có tỷ suất hàng hóa

lớn; phối hợp hoạt động của các điểm thông tin với hoạt động của các

tổ chức khuyến nông, các câu lạc bộ, các hiệp hội ngành hàng và

doanh nghiệp; tăng cường việc theo dõi, nghiên cứu thị trường quốc

tế, thông tin kịp thời cho các doanh nghiệp và nơng dân; duy trì và



8



phát triển các trang điện tử trên mạng Internet về nông sản và các

doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng nông sản; đặt vấn đề với các

tổ chức quốc tế, đề nghị trợ giúp kỹ thuật xây dựng thí điểm sàn giao

dịch nông sản và nâng cao năng lực xúc tiến thương mại đối với hàng

nơng sản; có chính sách khuyến khích các địa phương, các doanh

nghiệp sản xuất kinh doanh hàng nông sản tham gia các hội chợ nông

sản trong nước và quốc tế, xây dựng các trung tâm giao dịch và giới

thiệu sản phẩm nơng nghiệp ở nước ngồi… cũng là những nhiệm vụ

đặt ra để xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao và nâng cao sức

cạnh tranh cho các mặt hàng nơng sản.

Ngồi ra, vai trò của Nhà nước đối với phát triển nền nông nghiệp chất

lượng cao cũng vô cùng quan trọng trong, thể hiện qua các chính sách

hỗ trợ nhằm xóa đói giảm nghèo và giúp đỡ nơng dân trong phát triển

sản xuất nơng sản có quy mô lớn, sản xuất theo quy hoạch; thực hiện

hợp đồng bán sản phẩm cho doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu;

chính sách hỗ trợ nơng dân mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất,

sơ chế, chế biến, bảo quản... nhằm nâng cao năng suất lao động và

chất lượng sản phẩm.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, với sự hợp tác, nỗ lực từ

nhiều phía là cơ sở để xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao, từ

đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nơng sản góp phần xây dựng

nền nơng nghiệp ở các nước sớm đi lên sản xuất hàng hóa lớn và có

thương hiệu quốc gia mạnh trên thị trường nông sản thế giới.

Nông nghiệp chất lượng cao gắn với phát triển bền vững

Phát triển bền vững là mối quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Khái niệm

về phát triển bền vững được đưa ra với sự động thuận cao của các

quốc gia trên thế giới là: “Phát triển bền vững là quá trình có sự kết

hợp chặt chẽ, hợp lý và hai hồ giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là:

phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”

3



Phát triển nông nghiệp bền vững là một cấu thành quan trọng của phát

triển bền vững. Phát triển nông nghiệp bền vững được hiểu một cách

khái quát là: nâng cao chất lượng môi trường và nguồn lực được dùng

trong nông nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu nông sản cho con người và

nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảo khả thi về kinh tế đi

đôi với nâng cao chất lượng cuộc sống cho nông dân và ngông thông

trong dài hạn.



9



Nền nông nghiệp chất lượng cao gắn với phát triển bền vững là nền

nông nghiệp phát triển trên cơ sở thâm canh cao nên nông nghiệp chất

lượng cao cũng được xác định như một giải pháp đáp ứng yêu cầu

phát triển bền vững khi đồng thời hướng tới các mục tiêu hiệu quả cao

về kinh tế, xã hội và bảo vệ mơi trường. Một số loại hình sản xuất của

nông nghiệp chất lượng cao như: nông nghiệp ứng dụng công nghệ

cao, nông nghiệp hữu cơ, canh tác sinh học - canh tác sinh thái… đều

chú trọng không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật

ni mà còn đảm bảo để hệ môi trường sinh thái được cải thiện, bảo

vệ một cách tích cực.

Tại Việt Nam, trong những giai đoạn vừa qua, q trình cơng nghiệp

hố, đơ thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ, tạo nên áp lực ngày càng cao

trong khai thác, sử dung các nguồn tìa nguyên, đặc biệt tài nguyên đất,

nước…. Trong bối cảnh đó, nông nghiệp chất lượng cao là yêu cầu

phát triển tất yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm

thiểu các áp lực trong khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ

môi trường sinh thái.

4)



4



Một số nền nông nghiệp chất lượng cao trên thế giới

Nền nông nghiệp Israel

Nền nơng nghiệp Israel phát triển ở trình độ cao. Bất chấp

điều kiện địa lý khơng thích hợp cho nông nghiệp, Israel là

một nhà xuất khẩu lớn của thế giới về nông sản và đứng hàng

đầu về công nghệ trong nơng nghiệp. Hơn một nửa diện tích

đất là sa mạc, điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thiếu nước

hồn tồn khơng thích hợp cho nơng nghiệp. Tính đến năm

2014, 24,2% diện tích Israel là đất nơng nghiệp. Hiện nay,

nơng nghiệp chiếm 2,5% tổng GDP và 3,6% giá trị xuất khẩu.

Mặc dù lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 3,7% tổng lực

lượng lao động trong nước, Israel tự sản xuất được 95% nhu

cầu thực phẩm, phần còn lại được bổ sung từ việc nhập

khẩu ngũ cốc, các loại hạt lấy dầu, thịt, cà phê, ca cao, đường.



- Thành tựu của nền nơng nghiệp:

10



• Hình thức tổ chức nơng nghiệp:

Phần lớn nơng nghiệp của Israel được tổ chức theo hình thức hợp tác

xã, hình thành từ các thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Thúc đẩy bởi cả ý

tưởng và hoàn cảnh thực tế, các nhà tiên phong đã tạo ra hai hình thức

nơng nghiệp mới: kibbuttz, một cộng đồng tập thể với phương tiện sản

xuất chung và mỗi thành viên được hưởng lợi ích từ cơng việc của

chính mình, và moshav, kiểu hợp tác xã của làng trong đó mỗi thành

viên sử dụng đất của mình để sản xuất, nhưng đầu vào và đầu ra (kể cả

marketing) được thực hiện tập thể, theo một đầu mối. Cả hai hình thức

lao động tập thể này đều được tạo ra để hiện thực hóa giấc mơ cộng

đồng nơng nghiệp dựa trên bình đẳng xã hội, hợp tác và tương trợ lẫn

nhau. Ngày nay, sản lượng nông nghiệp của các hợp tác xã này vẫn

chiếm đa số áp đảo trong sản xuất nông nghiệp, kể cả phục vụ thị

trường nội địa lẫn xuất khẩu.



• Quản lý đất đai

Đất đai ở Israel được nhà nước quản lý rất chặt chẽ và được tận dụng

triệt để. Nhà ở của dân thì xây trên các triền núi đá, còn đất đồng bằng

tuyệt đối sử dụng cho trồng trọt và canh tác. Israel đi tiên phong trên

thế giới trong lĩnh vực cải tạo đất hoang mạc, sa mạc thành đất nơng

nghiệp trù phú. Có thể hiểu đơn giản quy trình này như sau: San bằng

đất hoang mạc, sỏi đá; Phủ lên đó 1 lớp đất dày, ít nhất là 1/2 m;

Trồng các loại cỏ hoặc cây dại không cần tưới nước khoảng từ 3-5

năm, để biến đất chết thành đất màu. Sau quá trình cải tạo này, đất

hoang mạc biến thành đất nông nghiệp và được giao cho các chủ đất

(nhà đầu tư) để tiến hành sản xuất. Do vậy, bước vào thế kỷ 21, Israel

là nước duy nhất trên thế giới đã mở rộng được diện tích rừng và quỹ

đất nơng nghiệp.



• Đầu tư R&D và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong sản

xuất nơng nghiệp

Các ứng dụng R&D có định hướng trong nơng nghiệp đã được tiến

hành tại Israel từ đầu thế kỷ 20. Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay của



11



nước này hầu như gắn chặt với khoa học và công nghệ, với các tổ

chức Chính phủ, các viện nghiên cứu, cơng nghiệp và hợp tác xã. Tất

cả phối hợp với nhau nhằm tìm kiếm các giải pháp để giải quyết các

vấn đề trong nông nghiệp mà nước này gặp phải. Đối mặt với hàng

loạt các vấn đề, từ giống di truyền, kiểm soát bệnh dịch tới canh tác

trên đất cằn, R&D trong nông nghiệp của Israel đã phát triển các công

nghệ để tạo ra sự biến chuyển ngoạn mục không chỉ trong số lượng

mà cả chất lượng các sản phẩm nông nghiệp của đất nước. Các phát

kiến nổi tiếng của Isreal được ứng dụng rộng rãi trong hoạt động nơng

nghiệp có thể kể đến như: công nghệ tưới nhỏ giọt, kén tồn trữ lương

thực, kiểm sốt cơn trùng theo phương pháp sinh học, cơng nghệ chăn

ni bò sữa cơng nghiệp, sản xuất thực phẩm từ khí nhà kính… Chìa

khóa của thành cơng này là nhờ các thông tin hai chiều giữa bản thân

các nhà khoa học và các nhà nông. Thông qua mạng lưới dịch vụ mở

rộng nơng nghiệp (và sự tích cực tham gia của nhà nơng vào tồn bộ

tiến trình R&D), các vấn đề trong nông nghiệp được chuyển trực tiếp

tới các nhà nghiên cứu để kiếm tìm giải pháp. Từ đó, các kết quả

nghiên cứu khoa học cũng được nhanh chóng chuyển tới đồng ruộng

để thử nghiệm, thích nghi và điều chỉnh.

Israel là nước hàng đầu về xuất khẩu các thực phẩm được trồng trong

nhà kính. Israel xuất khẩu hơn 1,3 tỷ USD sản phẩm nơng nghiệp mỗi

năm, ngồi ra còn xuất khẩu 1,2 tỷ USD các sản phẩm và công nghệ

đầu vào cho nông nghiệp.

Nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng sản lượng, cải thiện chất lượng và

tiết kiệm nhân cơng, các sáng chế về máy móc nơng nghiệp cũng như

thiết bị điện tử phụ trợ đã được ra đời và áp dụng nhanh chóng và rộng

rãi vào đời sống. Đặc biệt là các máy móc, thiết bị phục vụ đất trồng

trọt, chống xói mòn, các máy gieo hạt, thu hoạch và các thiết bị phù

hợp cho thâm canh tăng vụ, tưới tiêu (tự động hóa)… Nhiều thiết bị tự

động khác cũng được sử dụng trong chăn nuôi như máy vắt sữa, máy

thu hoạch trứng, các hệ thống cho ăn tự động… và các máy móc phục

vụ sau thu hoạch như máy phân loại sản phẩm, máy đóng gói, hệ



12



thống kho trữ và đặc biệt là hệ thống vận tải chuyên biệt. Những công

nghệ phát triển trong nước cũng chú trọng tới việc kiểm sốt bón phân

tự động hóa (thơng qua hệ thống máy tính), có thể bón phân qua nước

tưới tiêu, các biện pháp kiểm soát độ ẩm, tạo môi trường trong lành

cho trồng hoa, các thực phẩm trái mùa…



• Quản lý nhà nước về nơng nghiệp

Bộ Nơng nghiệp Israel hỗ trợ và kiểm sốt tồn bộ các hoạt động nông

nghiệp của đất nước, gồm cả việc duy trì các tiêu chuẩn cao đối với

các sản phẩm cây trồng và vật nuôi, đề ra các kế hoạch thúc đẩy, phát

triển nông nghiệp thông qua các hoạt động nghiên cứu và thị trường

(kể cả marketing). Từ nhiều năm nay, nơng nghiệp Israel được Chính

phủ nước này kiểm sốt chặt chẽ thông qua hệ thống trợ cấp sản xuất

và định mức nước tiêu thụ cho mỗi mùa vụ. Hiện nay, nước này cũng

kiểm soát định mức sản xuất và chất lượng của một số sản phẩm nông

nghiệp như sữa, trứng, gà con và khoai tây.

Các chương trình nghiên cứu nhằm gia tăng lượng nước để tưới tiêu

cũng đang được tiến hành, chủ yếu thông qua tăng lượng nước mưa

(tạo mưa nhân tạo), khử mặn trong nước và sử dụng các hệ thống lọc

nước để tái sử dụng. Các nghiên cứu mới đã dẫn tới việc khai thác

nước mặn ở các bể chứa nước khổng lồ tại sa mạc Negrev, dùng cho

một số giống cây phù hợp.



Cũng như nhiều nước khác, nông nghiệp Israel cũng phải chịu áp lực

bởi lượng nhân công phục vụ trong lĩnh vực này ngày càng ít đi (giảm

40% từ năm 1960 tới năm 1996). Mặc dù vậy, lượng nhân cơng ít ỏi

trong nơng nghiệp ngày nay lại đem lại sản lượng lớn hơn so với trước

kia. Trong đầu những năm 1950, một nơng dân có thể cung cấp đủ

lương thực cho 17 người thì vào năm 1994, mỗi người trong số họ đã

có thể ni được 90 người.



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Khái quát về nền nông nghiệp chất lượng cao

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×