Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

1 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Triết học Mác - Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp cách mạng nhất của thời

đại - giai cấp cơng nhâ, nó trang bị cho giai cấp cơng nhân và chính đảng cộng

sản vũ khí lý luận sắc bén để giải phóng mình và giải phóng nhân dân lao động,

các dân tộc bị áp bức bóc lột trên tồn thế giới, thốt khỏi ác nơ dịch, bóc lột,

xây dựng một xã hội tốt đẹp. Vì vậy, chỉ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống ưu việt

nhất, là con đường, sách lược tốt nhất cho sự phát triển xã hội loài người.

2.1.2. Tư tưởng triết học tác động trở lại đời sống xã hội

PH.Ăngghen viết:"Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triêt học, tôn

giáo, văn học, nghệ thuật…. đều dựa vào sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả

chúng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế ".

Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng nói chung và tư tưởng triết học nói riêng

đến sự phát triển xã hội phụ thuộc vào những điều kiện lịch sự cụ thể, vào tính

chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó tư tưởng nảy sinh, vào vai trò lịch

sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng; vào mức độ phản ánh đúng đắng của tư

tưởng đối với các nhu cầu phát triển của xã hội; vào mức độ mở rộng của tư

tưởng quần chúng, cũng do đó, ở đây cần phân biệt vai trò của ý thức tư tưởng

tiến bộ và ý thức tư tưởng phản tiến bộ đối với sự phát triển của xã hội.

C.Mác khẳng định: "Lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh bại bởi lực

lượng vật chất" và một hệ tư tưởng tác động được tới quần chúng hay khi có

những điều kiện để biến thành lực lượng vật chất" (C.Mác) thì nó mới trở thành

động lực cho sự phát triển của xã hội.

2.2. Vai trò và chức năng của triết học trong đời sống xã hội

Triết học Mác - Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng

nhất của tư duy triết học nhân loại. Nó được C.Mác và Ph. Ăngghen sáng tạo ra

và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc. Đó là chủ nghĩa duy vật biên chứng

trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy

con người.

Vai trò của triết học trong đời sống xã hội đựơc thể hiện qua chức năng của

triết học. Triết học có nhiều chức năng như: Chức năng nhận thức, chức năn

12



đánh giá, chức năng giáo dục…. Nhưng quan trọng nhất kà chức năng thế giới

quan và chức năng phương pháp luận.

2.2.1. Chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luậ của triết

học

- Những vấn đề được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước hết là những

vấn đền thuộc về thế giới quan. Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng

trong cuộc sống của con người và xã hội loài người. Tồn tại trong thế giới dù

muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân

mình. Những tri thức này dần dần hình thành nên thế giới quan lại trở thành

nhân tố định hướng, thế giới quan nên thế giới quan. Khi đã hình thành, thế giới

quan trở thành nhân tố định hướng cho quá trình con người tiếp tục nhận thức

thế giới.

Như vậy, thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích

cực và trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng

thành của mỗi cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội nhất định.

Trong triết học Mác - Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với

nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là

phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện

chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành

lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả

giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người.

Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho

thế giới quan phát triển như một quán trình tự giác dựa trên sự tổng kế kinh

nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại.

Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống các quan điểm

chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

Tuy không phải là một ngành khoa học độc lập nhưng phương pháp luận là

một bộ phận không thể thiếu được trong bất kỳ một ngành khoa học nào. Xét



13



phạm vi tác dụng của nó, phương pháp luân ngành; phương pháp luận chứng và

phương pháp luận chung nhất.

+ Phương pháp luận ngành là phương pháp luận của một ngành khoa học

cụ thể nào đó.

+ Phương pháp luận chung là phương pháp luận được sử dụng cho 1 số

ngành khoa học.

+ Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận được dùng làm

điểm xuất phát cho việc xác định các phương pháp luận chung, các phương pháp

hoạt động khác của con người.

Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai

trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung

nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy triết học thực hiện chức năng phương pháp

luận chung nhất khẳng định điều này, Ph.Ăngghen viết - khi phê phán những

nhà khoa học tự nhiên siêu hình khơng thấy được mối quan hệ biện chứng các

ngành khoa học, không thấy được sự khác nhau giữa tư duy lý luận với tư duy

thực nghiệm.

"Những nhà khoa học tự nhiên tưởng rảng họ thoát khỏi triết học bằng cách

khơng để ý đến nó hoặc phỉ báng nó. Nhưng vì khơng có tư duy thì họ khơng thể

tiến lên được một bước nào và muốn tư duy thì họ cần có những phạm trù lơgíc,

mà những phạm trù ấy thì họ lấy một cách khơng phê phán, hoặc lấy trong cái ý

thức chung, thông thường của những người gọi là có học thức, cái ý thức bị

thống trị bởi những tàn tích của những hệ thống triết học lỗi thời hoặc lấy trong

những mảnh vụ của các giáo trình triết học bắt buộc trong các trường đại học

(đó khơng chỉ là những quan điểm rời rạc mà còn là một mớ hổ lớn những ý

kiến của những người thuộc các trường phái hết sức khác nhau và thường là

những trường phái tồi tệ nhất) Hoặc lấy trong những tác phẩm triết học đủ loại

mà họ đọc một cách khơng có hệ thống và khơng có phê phán. - Cho nên, dù

sao, rút cục lại, họ vẫn bị lệ thuộc vào triết học và đáng tiếc thường là thứ triết



14



học tồi tệ nhất. Những kẻ nô lệ của những tàn tích thơng tục hố, tồi tệ nhất của

những học thuyết triết học tồi tệ nhất.

Dù những nhà khoa học tự nhiên có làm gì đi nữa thì họ cũng vẫn bị triết

học chi phối, vấn đề chỉ ở chỗ họ muốn bị chi phối bởi một thức triết học tồi tệ

hợp mốt, hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thức tư duy lý luận dựa

trên sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tự của nó ""

(PH.Ăngghen; "Biện chứng của tự nhiên")

Vì vậy, mỗi quan điểm lý luận của triết học đồng thời là một nguyên tắc

trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.

Những chức năng nói trên được thực hiện ở các học thuyết triết học khoa

học tạo nên khả năng cải tạo thế giới của học thuyết triết học đó, trở thành một

cơng cụ hữu hiệu trong hoạt động chế ngự giới tự nhiên và sự nghiệp giải phóng

con người của những lực lượng sản xuất.

2.2.2 Chức năng phản ánh hiện thực của đời sống xã hội và chức năng

động lực cho sự phát triển xã hội.

-Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học MácLênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học

cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết

học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định

hướng sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt

quan trọng trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và cơng nghệ.

Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân

triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và

các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch

sử phát triển của khoa học và bản thân triết học.

Mỗi hệ thống triết học đều ra đời trong những hoàn cảnh xã hội nhất định,

phản ánh tư tưởng, địa vị, mong muốn của giai cấp mà nó phục vụ; mối hệ tư

tưởng Triết học đó đều là "tinh hoa của thời đại" đó.



15



C.Mác viết rằng: "Các Triết ra khơng mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản

phẩm của thời đại, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất q giá và vơ

hình được tập trung lại trong những tư tưởng Triết học".

Hay như G.V. Hegel, ông coi sự ra đời của các học thuyết Triết học là "sự

tất yếu", coi "triết học là tinh hoa của thời đại mình, và do đó nó thực hiện chức

năng được xã hội phó thác trong phạm vi của thời đại và chỉ khi đó tính tích cực

của tư duy triết học mới được phát huy.

- Cùng với tư cách là một hình thái ý thức xã hội nhưng là hình thái ý thức

xã hội đặc biệt, chung nhất, Triết học, nếu phản ánh đúng xu thế của thời đại thì

nó sẽ là cơ sở lý luận cho giai cấp tiến bộ thực hiện sự nghiệp của mình, chỉ đạo

thực tiễn hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đới sống xã hội, từ đó nó trở

thành động lực về mặt tinh thần cho sự phát triển xã hội.



16



CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

MÁC - LÊNIN

3.1 Ý nghĩa khoa học của triết học Mác - Lênin

Mác nghiên cứu xã hội giống như một nhà tự nhiên nghiên cứu tự nhiên và

phân tích chúng trên cơ sở phương pháp khoa học. Lênin cho rằng, tính chất

lơgíc đặc sắc và sự cố kết chặt chẽ trong tư tưởng của Mác đã hợp thành chủ

nghĩa duy vật hiện đại và CNXH khoa học hiện đại, và được coi là lý luận,

cương lĩnh của phong trào công nhân ở tất cả các nước văn minh.

Phân tích vấn đề bản chất khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin có ý nghĩa

gì đối với nước ta hiện nay? Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tâm đắc với câu: Độc thư

bất vong cứu quốc, cứu quốc bất vong độc thư (Đọc sách không quên cứu nước,

cứu nước không quên đọc sách). Đọc sách là hình ảnh tiêu biểu của nhà trí thức,

biểu trưng của tính khoa học; cứu quốc là hình ảnh tiêu biểu của người cách

mạng. Như vậy, hình ảnh của người trí thức và người cách mạng, tính cách

mạng và tính khoa học liên hệ mật thiết với nhau, khơng tách rời nhau. Mục đích

cuối cùng của đọc sách là phải cứu nước, giúp đời; còn người cách mạng phải

nâng cao tầm hiểu biết của mình. Chính vì vậy, một mặt, Đảng ta luôn lấy chủ

nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, kim chỉ nam cho hành động, khiến chúng ta

càng tin tưởng vững chắc vào con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã

lựa chọn; mặt khác, trong thời đại kinh tế tri thức, thời đại thông tin, để đáp ứng

được yêu cầu thực tiễn của đất nước, Đảng ta chủ trương phải nâng cao tầm hiểu

biết, trí tuệ của tồn Đảng.

3.2 Ý Nghĩa thưc tiễn của triết học Mác - Lênin

Học thuyết của Mác ra đời từ sự kế thừa thẳng và trực tiếp học thuyết của

các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã

hội. Chủ nghĩa Mác không chỉ kế thừa những tinh hoa của khoa học xã hội mà

còn tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của khoa học tự nhiên đương thời. Theo

Ăngghen, muốn có một quan niệm vừa biện chứng, vừa duy vật về tự nhiên thì

người ta phải biết, phải thơng thạo tốn học và khoa học tự nhiên; và mỗi lần có

một phát minh vượt thời đại, chủ nghĩa duy vật buộc phải thay đổi hình thức của



17



mình. Sau này, trong chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của

Lênin cũng đã có sự kế thừa những thành tựu của khoa học tự nhiên, đặc biệt là

vật lý học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Lênin đã nghiên cứu những thành tựu của khoa học, đặc biệt là những phát

minh trong vật lý học; mặt khác, tổng kết thực tiễn phát triển của CNTB chuyển

sang giai đoạn đế quốc và phát triển chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới, hình

thành một giai đoạn mới, giai đoạn Lênin.

3.3 Bài học lịch sử của triết học Mác - Lênin

Triết học Mác – Lênin ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX do C. Mác

và Ph. Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I. Lênin phát triển vào đầu thế kỷ XX.

Đây là sự phát triển hợp với quy luật phát triển chung của tư tưởng triết học lịch

sử. Do thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, những thành tựu

của khoa học tự nhiên và của tư duy lý luận trên lĩnh vực triết học, kinh tế chính

trị học và lý luận về chủ nghĩa xã hội đã tạo ra những điều kiện và tiền đề khách

quan cho sự ra đời của triết học Mác – Lênin. Nhờ khái quát được những thành

tựu của khoa học tự nhiên hiện đại, gắn với thực tiễn xã hội và kế thừa, phát

triển được những thành tựu của tư duy lý luận trong lịch sử.

Triết học Mác – Lênin với tư cách là hệ thống lý luận phản ánh thực tiễn

cuộc đấu tranh đó cũng phải khơng ngừng phát triển, phải được bổ sung bằng

những nội dung mới. Vì vậy triết học Mác – Lênin khơng những có tính khoa

học mà còn có tính cách mạng, tính nhân văn sâu sắc. Nội dung triết học Mác –

Lênin không phải là những khẳng định cứng nhắc như những giáo điều, mà nó

thường xuyên được kiểm nghiệm, mài sắc qua thực tiễn. Đây là một đặc điểm

quan trọng đảm bảo cho triết học Mác – Lênin trường tồn sức sống và ảnh

hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội hiện nay.

Triết học Mác — Lênin quy định phương pháp nghiên cứu môn học này là

phải liên hệ thường xuyên với thực tiễn xã hội, với quá trình phát triển của các

ngành khoa học hiện đại cũng như với q trình phát triển của chính triết học

trong lịch sử và các trào lưu triết học trên thế giới hiện nay.



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×