Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân tích biến động VA theo vùng kinh tế (1995 - 2002)

Phân tích biến động VA theo vùng kinh tế (1995 - 2002)

Tải bản đầy đủ - 0trang

1



6



9



5



7



7



4



2.1. Năm 1998 so với 1995:



54607

54607 41929,91 39529,96

=

.

.

37961 41929,91 39529,96 37961

=1,4385 =1,3024. 1,0607 . 1,0413

Biến động tương đối

∆ I VA = 1,4385 - 1= 0,4385



hay 43,85%



∆I VA( w ) = 1,3024 - 1 = 0,3024



hay 30,24%



∆I VA( d ) = 1,0607 - 1 = 0,0607



hay 6,07%



∆ I VA(LT) = 1,0413 - 1 = 0,0413



hay 4,13%



Biến động tuyệt đối:

∆ VA



= 54607 - 37961 - 37961



= 16646



∆ VA (w)



= 54607 - 41929,91



= 12677,09 tỷ đồng



∆ VA (d)



= 41929,91 - 39529,96



= 2399,95



∆ VA (ΣT)



= 39529,96 - 37961



= 1568,96 tỷ đồng



∆ VA



=



16646 tỷ đ



= 12677,09 tỷ đ + 2399,95 tỷ đ + 1568,96 tỷ đ



∆ VA (w)



+



∆ VA (d) +



tỷ đồng



tỷ đồng



∆ VA (ΣT)



=> Nhận xét:

VA của ngành CN năm 1998 so với năm 1995 tăng 43,85% tức

là tăng 16646 tỷ đồng là do tác động của 3 nhân tố:

-



Do bản thân NSLĐ theo từng vùng kinh tế tăng 30,24% làm

cho VA tăng 12677,09 tỷ đồng



-



Do kết cấu lao động tăng 6,8% làm cho VA tăng 2399,95 tỷ

đồng



-



Do số lượng lao động tăng 4,13% làm cho VA tăng thêm

1568,96 tỷ đồng.



2.2. Năm 2000 so với năm 1998:



10866

70866 76585,85 65866,21

=

.

.

54607 76585,85 65866,21 54607

=1,2977 = 0,9253 . 1,1627 . 1,2062

Biến động tương đối:

∆ I VA = 1,2977 - 1 = 0,2977



hay 29,77%



∆I VA( w ) = 0,9253 – 1



= -0,0747 hay -7,47%



∆I VA( d ) = 1,1627 - 1



= 0,1627



hay 16,27%



∆ I VA(ΣT) = 1,2062 - 1



= 0,2062



hay 20,62%



Biến động tuyệt đối:

∆ VA



= 70866 - 54607



= 16259



∆ VA (w)



= 70866 - 7658585



= -5719,85 tỷ đồng



∆ VA (d)



= 76585,85 - 65866,21 = 10719,64 tỷ đồng



∆ VA (ΣT)



= 65866, 21 - 54207



∆ VA



=



16259 tỷ đ



= -5719,85 tỷ + 10719,64 tỷ đ + 11259,21 tỷ đ



∆ VA (w) +



tỷ đồng



= 11259,21 tỷ đồng



∆ VA (d)



+ ∆ VA (ΣT)



=> Nhận xét:

VA của ngành CN năm 2000 so với năm 1998 tăng 29,77% là

do tác động của 3 nhân tố.

-



Do NSLĐ theo từng vùng kinh tế giảm 7,47% làm cho VA

giảm 5719,85 tỷ đồng



-



Do kết cấu lao động tăng 16,27% làm cho VA tăng 10719,64

tỷ đồng



-



So số lượng lao động tăng 20,62% làm cho Va tăng

11259,21 tỷ đồng



2.3. Năm 2002 so với năm 2000:



89106

89106 125113,87 88496,81

=

.

.

70886 125113,87 88496,81 70866

1,2574 = 0,7212

. 1,4318 . 2488

Biến động tương đối:

25,74%

∆I VA =1,2574 −1= 0,2574 hay

− > 25,74%

- 27,88%

∆I VA( w ) = 0,7212 −1= − 0,2788

0,0788 −hay

> 27,88%

hay 41,38%

∆I VA( d ) =1,4138 −1= 0,4138 − > + 41,38%

∆I

=1,2488 −1= 0,2488hay

− > +24,88%

24,88%

VA( CT )



Biến động tuyệt đối:

∆ VA = 89106 − 70866 =18240



tỷ đồng



∆ VA (w) = 89106 - 125113,87 = -36007,87



tỷ đồng



∆ VA (d) = 125113,87 - 88496,81 = 36617,06



tỷ đồng



∆ VA (ΣT) = 88496,81 - 70866 = 17630, 81 tỷ đồng

∆ VA



=



∆ VA (w) + ∆ VA (d)



+ ∆ VA (ΣT)



18240 tỷ đ



= -36007,87 tỷ đ + 36617,06 tỷ đ + 17630,81 tỷ đ



=> Nhận xét:

VA của năm 2002 so với năm 2000 tăng 25,74% tức là tăng

18240 tỷ đồng là do tác động của 3 nhân tố:

-



Do NSLĐ theo phân vùng kinh tế giảm 27,88% làm cho V A

giảm 36007,87tỷ đồng.



-



Do kết cấu lao động tăng 41,38% làm cho V A tăng



36617,06 tỷ đồng

-



Do số lượng lao động tăng 24,88% làm cho VA tăng

17630,81 tỷ đồng



* Như vậy:

Nhìn chung VA của ngành CN thời kỳ (95 - 02) tăng lên do ảnh

hưởng của các nhân tố theo chiều rộng: kết cấu lao động và số

lượng lao động. Còn nhân tố theo chiều sâu: năng suất lao động hầu

như có xu hướng giảm. Điều này làm cho chất lượng phát triển của

ngành CN còn kém.

IV. KHUYẾN NGHỊ

Tóm lại, qua tồn bộ nội dung phân tích về sự biến động trong

sản xuất ngành cơng nghiệp giai đoạn 1995-2002 cho ta thấy cái

nhìn tổng quát về những thành tựu đã đạt được cũng như những yếu

kém còn đang tồn đọng cần được khắc phục để trong thời gian tới

ngành công nghiệp của Việt Nam sẽ đạt được những bước phát triển

lớn đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội. Để đạt được

mục tiêu này trước hết chúng ta cần phải thấy ra được những nhược

điểm của mình thể hiện qua một số mặt sau đây:

Thứ nhất: Chi phí trung gian của ta quá cao dẫn đến giá cả của

hàng hoá sản xuất lớn làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên

thị trường so với các hàng hoá khác cùng loại do nước ngồi sản

xuất. Bên cạnh đó chất lượng hàng hố của chúng ta còn thấp do sử

dụng cơng nghệ lạc hậu. Việt Nam được xếp vào nhóm các nước có

năng lực cơng nghệ thấp nhất trong khu vực. Xét trên góc độ mơi

trường, các ngành cơng nghiệp ở Việt Nam hiện nay có chi phí tài

ngun rất cao. Đơn cử với hai loại tài nguyên chính là nước và

năng lượng. Mức sử dụng nước ở nhiều ngành công nghiệp là rất

cao và lãng phí, ví dụ qua ngành bia. Trên thế giới để sản xuất 1 lít



bia trung bình sử dụng 4 lít nước song ở Việt Nam con số này là 13

lít nước trên 1 lít bia. Điều này là tương tự với các ngành tiêu thụ

điện năng. Tốc độ tiêu thụ điện cho sản xuất của chúng ta so với thế

giới lớn gấp nhiều lần. Những điều này là do máy móc quá cũ kỹ,

lạc hậu, công nghệ không đồng bộ làm tiêu hao một lượng lớn nhiên

liệu trong quá trình sản xuất. Vì vậy, muốn tiến hành giảm chi phí

trung gian thì chúng ta phải đặc biệt chú ý đến giảm các chi phí về

năng lượng, phải thay đổi công nghệ mới.

Theo các tài liệu nghiên cứu khảo sát chỉ ra năng lực cạnh

tranh của các doanh nghiệp Việt Nam năm 2004 tụt 16-17 bậc so

với 2003. Nguyên nhân chủ yếu là do chậm đổi mới công nghệ và

ứng dụng khoa học vào sản xuất. Theo kết quả điều cho thấy có tới

10% thiết bị máy móc của các doanh nghiệp thuộc những năm 70;

có tới 39% máy móc thiết bị của các doanh nghiệp thuộc những

năm 80 và 51% thuộc những năm 90. Về cơng nghệ: 70% cơng nghệ

đạt mức trung bình và 7% là chắp vá. Kết quả điều tra cũng chỉ ra

rằng, đầu tư của các doanh nghiệp cho đổi mới công nghệ tập trung

chủ yếu để mua sắm, cải tiến máy móc thiết bị phần cứng còn đầu

tư cho phần mềm của công nghệ chưa được quan tâm đúng mức.

Như vậy, về dài hạn, ngành công nghiệp của Việt Nam nên hướng

tới những ngành ít phụ thuộc vào tài nguyên tự nhiên, dựa vào các

ngành sử dụng công nghệ cao.

Một trong số các yếu tố ảnh hưởng lớn đến chi phí trung gian

trong sản xuất của ngành công nghệ cao là chi phí thuê đất đai, nhà

xưởng của ta quá cao. Ở nước ta, chính sách tạo mặt bằng mới chỉ

phục vụ chủ yếu một nhóm đối tượng doanh nghiệp có quy mô vừa

và lớn. Nhưng đa số các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam là doanh

nghiệp nhỏ không đủ điều kiện vào các khu, cụm công nghiệp. Giá



thuê đất ở khu vực Hà Nội xấp xỉ 80USD/m 2 với thời hạn 50 năm,

diện tích thuê nhỏ nhất là 2ha, trả 1 lần. Như vậy, một doanh nghiệp

thuê một mảnh đất nhỏ nhất cũng phải trả hơn 1,5 triệu USD chưa

kể các chi phí dịch vụ hàng năm khác. Tất cả các chi phí này được

tính vào giá thành sản phẩm dẫn đến giá thành quá cao, khó được

người tiêu dùng chấp nhận. Vì vậy cần phải có sự đổi mới mang

tính hiệu quả mang tính đột phá của chính sách đất đai.

Thứ hai: Cần tiến hành cải thiện năng suất lao động, chú trọng

nâng cao chất lượng đào tạo nghề bên cạnh việc tăng cường đầu tư

vốn, công nghệ vào lĩnh vực sản xuất. Thực tế cho thấy, năng suất

lao động của ta thấy không chỉ đơn thuần do công nghệ lạc hậu mà

còn do ảnh hưởng yếu tố lao động của ta có trình độ tay nghề thấp.

Theo kết quả điều tra lao động và việc làm của Bộ Lao động,

Thương binh và xã hội, đến ngày 1/7/2004, số người được đào tạo

nghề nghiệp, kỹ năng chỉ chiếm 22,5%, trong đó tỷ lệ đã qua đào

tạo nghề là 13,3% tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp là 4,4%; tốt

nghiệp cao đẳng, đại học trở lên là 4,8%. Nếu so sánh với các nước

trong khu vực thì số lao động được đào tạo chính quy còn rất thấp.

Hơn thế nữa, cơ cấu đào tạo của lực lượng lao động còn nhiều bất

hợp lý: số lao động có trình độ trung học chun nghiệp và cơng

nhân kỹ thuật còn q thiếu so với u cầu. Nhìn chung, đội ngũ lao

động trí thức của Việt Nam còn kém cả về số lượng và chất lượng

so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Với việc đào tạo

như hiện nay là rất khó trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào

sản xuất kinh doanh. Đặc biệt là trong ngành công nghiệp, yếu tố

khoa học kỹ thuật đóng vai trò rất lớn trong kết quả sản xuất nhưng

nhóm lao dộng khoa học và công nghệ chưa đáp ứng được các nhu

cầu triển khai công nghệ mới.



- Thứ ba: Chúng ta cần phải tiến hành tiếp tục chuyển dịch cơ

cấu kể cả cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ, cơ cấu theo vùng, cơ

cấu theo khu vực kinh tế. Nhìn từ góc độ dài hạn, chuyển dịch cơ

cấu trong ngành công nghiệp chưa diễn ra theo quy hoạch chiến

lược tổng thể có tầm nhìn xa, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển

theo chiều sâu để nâng cao chất lượng tăng trưởng. Các thành phần

kinh tế chưa được khuyến khích phát triển trên cùng một mặt bằng

cơ chế chính sách. Thực tế là nhiều DNNN yếu kém, làm ăn thua lỗ,

đáng lẽ cần phải được giải thể thì lại được tiếp sức cứu nguy. Các

DNNN kể cả các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả cũng được Nhà

nước tạo điều kiện ưu đãi như cung cấp vốn… đồng thời, khối

lượng nợ xấu khổng lồ của các DNNN được "khoanh", "xoá"… cơ

bản chỉ bằng những thao tác hành chính cơ bản. Chính vì đã quá

hạn thuộc với vấn đề bao cấp mà các DNNN kinh doanh thua lỗ

ngày càng thua lỗ nặng hơn. Bản thân doanh nghiệp đó khi khơng

kinh doanh có lãi vẫn được Nhà nước tài trợ, nâng đỡ. Mục đích của

kinh doanh là có lãi để tồn tại và phát triển doanh nghiệp. Nhưng

với các DNNN, mục tiêu này không còn, cho dù khơng kinh doanh

hiệu quả, họ vẫn mặc nhiên tồn tại, được hưởng hàng trăm các

chính sách ưu đãi. Như các số liệu phân tích ở trên cho thấy sự

đóng góp trong sản xuất cơng nghiệp của khu vực DNNN ngày càng

thấp trong đó là sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực kế toán tư

nhân nhưng khu vực kế toán này chưa nhận được sự quan tâm thoả

đáng của Nhà nước. Vì vậy trong tương lai Nhà nước cần phải có

một số giải pháp để phát triển khu vực này nhằm đem lại hiệu quả

lớn nhất như:

- Tạo sự bình đẳng thực sự trên thương trường: Nhà nước cần

tạo ra hành lang pháp lý ổn định, một sự cạnh tranh lành mạnh để



họ yên tâm sản xuất. Nhà nước cần tạo ra sự bình đẳng của các

thành phần kế toán trước pháp luật, nghĩa vụ và quyền lợi trong các

chính sách của Nhà nước. Cần quan tâm đến chất lượng hoạt động

của khu vực kinh tế tư nhân.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận

với vốn vay của ngân hàng. Việc không tiếp cận được với nguồn

vốn của ngân hàng nên khu vực kinh tế tư nhân phải vay nóng của

dân cư làm giảm lợi nhuận của họ.

- Tạo mặt bằng kinh doanh: Đa phần các doanh nghiệp khơng

có mặt bằng sản xuất kinh doanh họ phải sử dụng một phần diện

tích nhà ở của mình trong khu dân cư làm mặt bằng sản xuất hoặc

phải đi thuê mặt bằng để sản xuất kinh doanh, chi phí thuê đất cao

lợi thế chi phí sản xuất cao, tỷ suất lợi nhuận thấp và điều dễ hiểu.

Nhà nước nên thu hồi đất của các DNNN làm ăn không hiệu quả để

cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân thuê với giá cả

và thời hạn hợp lý để họ yên tâm tiến hành sản xuất kinh doanh đem

lại lợi nhuận tối đa.

- Cung cấp thông tin cho khu vực kinh tế tư nhân: Nhà nước

cần có sự cung cấp thơng tin về thị trường giá cả trong và ngoài

nước… cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân để họ

có những phương án đầu tư hiệu quả nhất.



Kết luận

Nhìn chung trong giai đoạn (1995-2002) ngành cơng nghiệp Việt

Nam đã có rất nhiều biến động đánh dấu bằng sự phát triển mạnh mẽ về số

lượng. Hàng loạt các nhà máy, xí nghiệp, cơng ty, khu chế xuất… đã ra

đời. Điều này góp phần nâng cao vị thế của ngành cơng nghiệp trong tồn

bộ nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, để nhìn nhận một cách đúng đắn và khoa học qua các

phân tích do sử dụng một số chỉ tiêu của thống kê đã chỉ ra rằng sự tăng

trưởng này mới mang tính chất tăng trưởng theo chiều rộng là chủ yếu, các

nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu chưa thật sự phát huy được thế mạnh.

Thiết nghĩ trong những năm tới, để đạt được chỉ tiêu đặt ra là đến

năm 2020 để Việt Nam trở thành một nước "công nghiệp hố, hiện đai

hố" thì nhà nước cần phải xem xét lại để đưa các chính sách, biện pháp…

hợp lý, đem lại hiệu quả cao trong sản xuất của công nghiệp. Không chỉ để

ngành công nghiệp phát triển đơn thuần theo chiều rộng: giải quyết việc

làm, tăng sản lượng... mà còn phải phát triển theo chiều sâu: tăng năng suất

lao động, sử dụng tối đa lợi ích một đồng vốn đầu tư, giảm chi phí trung

gian...

Đặc biệt cần phải khuyến khích những khu vực, những vùng kinh tế

mà cơng nghiệp còn yếu kém để sao cho Việt Nam trở thành nước công

nghiệp phát triển đồng đều và ổn định.



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ...............................................................................................1



I. Sự cần thiết của đề tài.......................................................................1

II. Nội dung nghiên cứu.......................................................................1

III. Đối tượng nghiên cứu....................................................................1

CHƯƠNG I. MỘT SỐ CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ ĐỂ

NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG NGÀNH CƠNG NGHIỆP



I. Một số chỉ tiêu cơ bản......................................................................2

1. Khái niệm chỉ tiêu giá trị sản xuất: (Gross output - GO).................2

2. Giá trị gia tăng của đơn vị cơ sở (VA).............................................3

II. Một số phương pháp cơ bản dùng để phân tích sự biến động trong

sản xuất của ngành cơng nghiệp....................................................................5

1. Phân tích biến động của giá trị sản xuất (GO).................................5

2. Phân tích biến động của giá trị tăng thêm VA.................................5

CHƯƠNG II. ỨNG DỤNG CÁC CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ

ĐỂ PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG SẢN XUẤT NGÀNH CƠNG NGHIỆP (1995 - 2002). 7



I. Phân tích tình hình phát triển của ngành CN trong giai đoạn 1995 2002...............................................................................................................7

1. Phân tích biến động giá trị sản xuất ngành CN ..............................7

2. Phân tích biến động VA ngành CN theo khu vực kinh tế và vùng

kinh tế .........................................................................................................15

3. Phân tích biến động chi phí trung gian (IC) ngành CN thời kỳ

1995 - 2002..................................................................................................22

II. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến biến động GO trong ngành

CN (1995 - 2002).......................................................................................27

1. Phân tích biến động GO trong ngành CN (1995 - 2002) do

tác động của 3 nhân tố: Năng suất lao động cá biệt, kết cấu lao động

và tổng số lao động..................................................................................27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân tích biến động VA theo vùng kinh tế (1995 - 2002)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×