Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ứng dụng các chỉ tiêu và phương pháp thống kê để phân tích biến động sản xuất ngành công nghiệp (1995-2002)

Ứng dụng các chỉ tiêu và phương pháp thống kê để phân tích biến động sản xuất ngành công nghiệp (1995-2002)

Tải bản đầy đủ - 0trang

ngành CN, đánh dấu bằng tốc độ tăng cao nhất trong vòng 8 năm của thời kỳ

này (95 - 2002) của năm 2000 so với năm 1999 tăng 17,5% tương ứng với

29577 (tỷ đồng). 2 năm tiếp theo tốc độ tăngtuy có giảm xuống nhưng ở mức

độ khơng đáng kể 14,65% của năm 2001/2000 và 14,43% của năm 2002/2001

ứng với lượng tăng tuyệt đối là 29055 (tỷ đồng) & 32822 (tỷ đồng).

Tốc độ tăng trưởng GO bình quân của ngành CN thời kỳ 1995 - 2002

đạt ở mức 14,1%. Trong khi đó tốc độ tăng trưởng GO bình qn của ngành

Nông nghiệp trong cùng thời kỳ chỉ đạt ở con số 5,8%. Như vậy có thể thấy rằng để đạt

được tốc độ tăng trưởng kinh tế bình qn của tồn quốc trong giai đoạn 1995 - 2002

thì có sự đóng góp rất lớn của tốc độ tăng của ngành CN. Điều này phù hợp với quy

luật chung của sự phát triển kinh tế trên thế giới, khi một nên kinh tế càng phát triển, sự

đóng góp của ngành CN vào tổng sản phẩm trong nước càng phải cao, giảm dần sự

đóng góp của ngành nơng nghiệp (NN).

Như vậy có thể thấy rằng sự đầu tư vào phát triển ngành CN của nước ta trong

thời gian vừa qua là có hiệu quả. Nếu như trước kia trong thời kỳ bao cấp, nền CN

nước ta lạc hậu, yếu kém, hầu như không phát triển, sự đóng góp vào tăng trưởng kinh

tế là rất ít thì trong thời kỳ 95 - 02 với sự đầu tư có hiệu quả của Nhà nước đã đem lại

một kết quả đáng khả quan. Khẳng định cho con đường theo hướng phát triển "CNH HĐH" là hoàn tồn đúng đắn.

Trên đây ta mới chỉ nói đến tốc độ tăng GO ngành CN dựa trên yếu tố về khối

lượng sản phẩm vật chất mà nó tạo ra. Tuy nhiên, khi xét về sự phát triển của một

ngành kinh tế còn phải quan tâm đến các lợi ích khác mà sự phát triển của ngành này

đem lại cho nền KTQD. Thực tế cho thấy nước ta đi lên từ một nước NN nghèo với

hơn 80% dân số sống trong NN vì vậy mức sống của người dân còn khá thấp. Một xu

hướng phát triển chung với bất kỳ một quốc gia nào; đó là khi chuyển dịch từ NN sang

CN kéo theo một lượng lớn lao động từ ngành NN chuyển sang ngành CN. Vì vậy, số

lượng lao động trong ngành cũng sẽ có sự biến chuyển mạnh mẽ, được thể hiện qua

bảng số liệu sau:



Bảng 2: Lao động ngành CN thời kỳ 1995 - 2002

Chỉ tiêu

Lượng lao động

Năm



(Người)



Lượng tăng tụt



Tốc độ phát



đối (Người)



triển (%)



Liên

hồn



Định gốc



Tốc độ tăng (%)



Liên



Định



Liên



Định



hồn



gốc



hồn



gốc



1995



2633201



-



-



100



100



-



-



1996



2745452



112251



112251



104,26



104,26



4,26



4,26



1997



2715768



-29684



82567



98,92



103,14



-1,08



3,14



1998



2742089



26321



108888



100,97



104,14



0,97



4,14



1999



2974623



232534



341422



108,48



112,97



8,84



12,97



2000



3307367



332744



674166



111,19



125,60



11,19



25,60



2001



3596036



288669



962853



108,73



136,57



8,73



36,57



2002



4130154



534118



1496954



114,85



156,85



14,85



56,85



Bình

qn



213851



106,64



6,64



Qua số liệu bảng trên ta thấy quy mô ngành CN ngày càng mở rộng

thể hiện qua số lượng lao động khơng ngừng gia tăng qua các năm. Chỉ

trong vòng 8 năm (95 - 02), một lượng lao động lớn đã chuyển từ các

ngành khác sang ngành CN, tốc độ tăng bình quân của lao động tăng

6,64% tức là tăng lượng tuyệt đối 213851 người/năm.

Một câu hỏi đặt ra là nguyên nhân nào làm cho ngành CN ngày một

thu hút thêm được lượng lao động lớn như vậy? Phải chăng có sự tác động

của yếu tố thu nhập ở đây. Bảng số liệu sau sẽ chỉ ra cho ta thấy sự thay

đổi trong thu nhập ngành CN

Bảng 3: Thu nhập của người lao động ngành CN thời kỳ 1995 - 2002

Chỉ tiêu



Năm



Thu nhập

người lao

động (tỷ

đồng)



Lượng tăng

tuyệt đối (tỷ

đồng)



Tốc độ phát

triển (%)



Tốc độ tăng

(%)



Liên

hồn



Định

gốc



Liên

hồn



Định

gốc



Liên

hồn



Định

gốc



1995



16012



-



-



100



100



-



-



1996



19427



3415



3415



121,33



121,33



21,33



21.33



1997



25085



5658



9073



129,12



156,67



29,12



56.67



1889



29398



4313



13386



117,19



183,54



17,19



83.54



1999



35256



5858



19244



119,93



220,29



19,93



120.18



2000



43439



8183



27427



123,21



271,29



23,21



171.29



2001



51190



7751



35178



117,84



319,69



17,84



219.69



2002



60538



9348



44526



118,26



378,08



18,26



278.08



Bình qn

(95 - 02)



35043,125



6360,8



120,92



20,92



Trong 8 năm (1995 - 2002), tổng thu nhập của người lao động trong

ngành CN đã có bước tăng đáng kể. Tốc độ tăng thu nhập bình quân đạt mức

20,92%/năm ứng với lượng tăng tuyệt đối là 6360,857 tỷ đồng/năm.

Như vậy, qua số liệu bảng 2 & 3 đều cho kết quả là sự phát triển không

ngừng của ngành CN về cả quy mô, số lượng và chất lượng. Số lượng công

nhân và tổng thu nhập của họ cũng tăng nhưng thu nhập tăng (20,92%) nhanh

hơn số lượng lao động tăng (6,64%). Đó là cơ sở tốt để nâng cao thu nhập bình

quân của người lao động trong khu vực CN. Sự chênh lệch trong lượng người

lao động và thu nhập là một tín hiệu tốt trong việc cải thiện mức sống của

người lao động.

Bảng 4: Tốc độ phát triển thu nhập bình quân lao động ngành CN

thời kỳ 1995 - 2002

Năm

Chỉ tiêu



1995



1996



1997



1998



1999



2000



2001



2002



Bình

quân

(95 - 02)



16012



19427



25085



29398



35256



43439



51190



60538



35043,12

5



2. Tốc độ phát triển

liên hoàn (%)



-



121,3



129,12



117,19



119,93



123,21



117,84



118,26



120,92



3. Tốc độ phát triển

định gốc (%)



-



121,33



156,67



183,54



220,18



271,29



319,69



378,08



1. Thu nhập người lao

động (tỷ đồng)



1. Lượng lao động

(người)



2633201 2745452 2715768 2742089 2974623 3307367 3596036 4130154 3105587



2. Tốc độ phát triển

liên hoàn (%)



-



104,26



98,92



100,97



108,48



111,19



108,73



114,85



3. Tốc độ phát triển

định gốc (%)



-



104,26



103,14



104,14



112,97



125,60



136,57



156,85



106,64



1. Thu nhập bình quân

10,7210 11,8522 13,1340 14,2351 14,6575

6,08081 7,07607 9,23680

10,87421

(trđ/người)

2

6

1

2

6

2. Tốc độ phát triển

liên hoàn (%)



-



116,38



130,54



116,07



110,55



110,81



108,38



102,97



3. Tốc độ phát triền

định gc (%)



-



116,38



151,90



151,51



167,50



215,90



234,10



241,05



113,39



Tốc độ phát triển thu nhập bình quân lao động ngành công

nghiệp (1995-2002)

%

140

120

100

80

60

40

20

0



Thu nhập ng ời lao động

L ợ ng lao động

Thu nhập bình quân



1996



1997



1998



1999



2000



2001



2002



Nm



Trong 8 nm liờn tip (1995 - 2002), tốc độ phát triển thu nhập người lao động

luôn cao hơn tốc độ phát triển lực lượng lao động trong ngành này.

Nếu như năm 1996, thu nhập người lao động đạt 19427 (tỷ đồng, tăng

21,33% so với năm 1995, thì cùng thời gian đó, lượng lao động chỉ tăng 4,26% tức

là tăng 3415 (người) làm cho thu nhập bình quân lao động ngành CN đạt 7,07607

(triệu đồng/người) tức là tăng 16,38%.

Tương tự các năm sau, tốc độ tăng thu nhập người lao động luôn đạt lớn

hơn tốc độ tăng số lượng người lao động. Xu hướng tăng trưởng lệch pha giữa thu

nhập người lao động và số lượng người lao động là động lực to lớn làm thay đổi

thu nhập bình quân lao động ngành CN.

Đỉnh cao nhất trong thời kỳ này là năm 1997, khi đó tốc độ tăng thu nhập

bình quân người lao động ngành CN đạt 30,54% so với năm 1996. Kết quả này đạt

được do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Một phần là do

lượng lao động năm 1997 giảm so với năm 1996 nhưng nếu xét trong hoàn cảnh

lúc đó như cuộc khủng hoảng kinh tế Châu á làm cho đà tăng trưởng các nước nói

chung và Việt Nam nói riêng có phần bị chững lại thì kết quả này của ngành CN là

một nỗ lực rất lớn. Qua đây có thể thấy rằng, dù trong hồn cảnh khó khăn thế nào

thì ngành CN vẫn giữ vững được vai trò "đầu tàu" của mình trong phát triển kinh

tế của cả nước nói chung.

Sau năm 1997, tốc độ tăng thu nhập bình qn người lao động ngành CN có

phần giảm xuống. Năm 1998 đạt 16,07% so với năm 1997. Năm 2000 đạt 10,81%



so với năm 1999 và đến năm 2002 chỉ còn 2,97% so với năm 2001. Có phải ngành

CN đang kém phát triển dần?

Câu trả lời là không phải ngành CN đang sụt giảm phát triển. Bởi Việt Nam

ban đầu là một nước với nền CN què quặt, không phát triển. Điểm xuất phát của

chúng ta quá thấp, từ một nền kinh tế tập trung bao cấp, chỉ với một vài nhà máy

CN. Bước sang cơ chế thị trường cùng với sự mở rộng trong các ngành, ngành CN

có bước nhảy vọt lớn, đạt được các tốc độ phát triển và tốc độ tăng tương đối cao

là điều tất yếu với bất kỳ một nền kinh tế nào. Những con số phát triển của thời kỳ

chuyển giao có thể là những con số rất lớn nhưng đó chỉ là sự tăng trưởng "nóng".

Nó chỉ xảy ra ở trong giai đoạn mới, còn khi nền kinh tế đi dần vào ổn định, mọi

mặt đã được nâng cao thì tốc độ tăng chỉ ở một mức độ nhất định vừa phải, giao

động trong khoảng đảm bảo. Ngành CN là một bộ phận của nền KTQD vì vậy sự

phát triển của nó khơng nằm ngồi quy luật phát triển chung của toàn nền kinh tế.

Sau một khoảng thời gian phát triển, ngành CN của Việt Nam đang dần dần đi vào

sự ổn định của mình. Các tốc độ tăng khơng còn là những con số "khổng lồ" mà

chỉ dừng lại ở một tốc độ vừa phải, khẳng định ngành CN của nước ta đang ngày

một trở nên ổn định với rất nhiều lĩnh vực sản xuất.

Từ chỗ tất cả hàng hoá đều khan hiếm, đến nay Việt Nam đã trở thành một

nước có nền kinh tế phát triển nhanh, sản xuất trong nước đã đáp ứng được phần

lớn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, xuất khẩu ngày một tăng, đời sống vật chất và

tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt. Đạt được những thành tựu này là có

sự đóng góp to lớn của ngành CN. Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế

đặc biệt là ngành CN đã tạo thêm nhiều chỗ làm mới.

Mục tiêu phát triển chung của bất kỳ quốc gia nào cũng là cải thiện được

đời sống của người dân. Với ngành CN nước ta, đặc biệt trong thời kỳ 1995 2002, mục tiêu này có thể coi như hồn thành tương đối tốt thể hiện sự tăng

trưởng của thu nhập bình quân người lao động ngành CN năm sau luôn cao hơn

năm trước. Vừa giải quyết được việc làm cho người lao động, vừa khơng ngừng

cải thiện mức thu nhập bình quân của người lao động trong ngành , đây có thể coi

là một thành cơng lớn của ngành CN nói riêng.



1.2. Phân tích biến động về cơ cấu giá trị sản xuất ngành CN

1.2. 1. Phân tích biến động cơ cấu giá trị sản xuất CN (GO) theo khu vực kinh

tế.



Bảng 5: Cơ cấu giá trị sản xuất CN theo khu vực kinh tế thời kỳ 1995-2002.

(Theo giá 1994)

Đơn vị: %

Năm 1995



1996



1997



1998



2000



2001



2002



100



100



100



100



100



100



100



Khu vực kinh tế

1. Tổng số



2. Khu vực KT trong nước 74,913 71,077 68,180 65,325 64,051 64,685 64,679

- DN Nhà nước



50,293 47,965 46,181 43,283 41,798 41,091 40,103



- Ngoài quốc doanh



24,620 23,113 21,998 21,942 22,258 23,593 24,516



3. Khu vực có vốn ĐT 25,081 28,923 31,820 34,675 35,643 35,315 35,321

nước ngoài



Xem xét tỷ trọng GO của các khu vực kinh tế đóng góp cho GO chung của

ngành CN tồn quốc ta thấy tỷ trọng GO của khu vực kinh tế trong nước ln cao

hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên khoảng cách của 2 khu vực này

ngày càng được thu hẹp lại. Nếu năm 1995, tỷ trọng của khu vực kinh tế trong

nước chiếm tới 74,913% so với 25,087% của khu vực có vốn đầu tư nước ngồi

thì đến năm 1998 tỷ trọng tương ứng của 2 khu vực là 68,180% và 31,820% và

đến năm 2002 thì con số đó chỉ còn là 64,679% và 35,321%. Điều này cho thấy

càng về sau, khi chính phủ Việt Nam đã có những chính sách mở rộng thị trường

Việt Nam, hấp dẫn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nên đã thu hút được nhiều nhà

đầu tư nước ngồi tìm đến Việt Nam để sản xuất, kinh doanh. Khu vực FDI có

khả năng rất lớn về vốn, họ đã đầu tư theo chiều sâu, trang thiết bị hiện đại đem lại

hiệu quả cao.

Kinh tế trong nước cũng có sự biến động khá lớn giữa tỷ trọng của khu vực

doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Rất nhiều các xí

nghiệp, nhà máy CN của tư nhân đã ra đời.Trong năm 1995, tỷ trọng GO của

doanh nghiệp Nhà nước đóng góp 50,293% gấp 2,043 lần của khu vực ngồi quốc

doanh là 24,620%. Bằng những nỗ lực của chính mình cộng với những chính sách

tạo điều kiện phát triển của Nhà nước dành cho khu vực ngoài quốc doanh mà khu

vực này đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong những năm sau. Điều này



được chứng minh bằng sự không ngừng tăng tỷ trọng GO của khu vực ngoài quốc

doanh đặc biệt là trong 3 năm 2000 - 2002 làm cho đến cuối năm 2002 tỷ trọng

GO của khu vực doanh nghiệp Nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh đã được

rút ngắn lại còn 40,103% và 24,576% tức là chỉ gấp có 1,63 lần. Một thực tế là sự

đóng góp tỷ trọng GO của khu vực doanh nghiệp Nhà nước ngày càng thấp và sự

tăng lên của khu vực ngoài quốc doanh. Đây là một điều hết sức cần thiết. Suy cho

cùng, để một đất nước phát triển mạnh thì doanh nghiệp Nhà nước chỉ nên tồn tại

ở một số ngành CN có tính chất đặc biệt không thể giao do tư nhân tiến hành

được. Kinh tế muốn phát triển trước hết cần phải có sự cạnh tranh lành mạnh và

công bằng. Với các doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn tồn tại đâu đó ảnh hưởng của

cơ chế bao cấp vì vậy sự khơng hiệu quả trong sản xuất là một điều dễ hiểu. Vì vậy

sự giảm tỷ trọng GO của khu vực này là một thực tế cần thiết. Còn đối với khu vực

ngồi quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngồi sự phát triển nhanh trong

tương lai là một tín hiệu đáng mừng.

1.2. 2. Phân tích biến động cơ cấu giá trị sản xuất - ngành CN theo phân

vùng kinh tế.



Bảng 6: Cơ cấu giá trị sản xuất CN theo phân vùng kinh tế thời kỳ

1995 - 2002

(theo giá 1994) ( Đơn vị: %)

Năm 1995



1996



1997



1998



1999



2000



2001



2002



100



100



100



100



100



100



100



100



Vùng kinh tế

Tổng số

Đồng Bằng Sông Hồng



16,887 17,259 17,515 17,500 17,880 17,743 20,362 21,385



Đông Bắc và Trung Du 6,916

Bắc Bộ



6,842



6,684



7,014



7,107



7,982



5,532



5,506



Tây Bắc



0,310



0,309



0,296



0,328



0,295



0,273



0,257



0,240



Khu Bốn cũ



3,542



3,387



3,274



3,181



3,127



3,609



3,674



3,810



Duyên hải miền Trung



5,299



5,379



5,432



5,370



5,340



5,463



5,017



5,212



Tây Nguyên



1,141



1,237



1,087



1,019



0,993



0,966



0,879



0,852



Đông Nam Bộ



49,186 48,939 49,659 49,806 50,348 49,673 49,740 48,719



Đồng

Long



bằng



Sông



Không phân vùng



Cửu 11,568 11,453 10,634 10,292 9,745

5,150



5,195



5,419



5,419



5,165



9,318



9,533



9,293



4,974



5,006



4,982



Từ các số liệu trên cho thấy được sự vượt trội trong cơ cấu giá trị sản xuất

của khu vực Đông Nam Bộ, luôn chiếm trong khoảng từ 48,719% ÷ 50,348%



tổng giá trị sản xuất tồn ngành CN. Tiếp theo sau là 2 khu vực đồng bằng sông

Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long. Thấp nhất là khu vực Tây Bắc, tỷ trọng

chiếm chưa được 1%. Điều này chứng tỏ khu vực này CN còn kém phát triển chưa

có sự đầu tư thoả đáng. Qua bảng số liệu về cơ cấu này chỉ ra cho ta thấy sự bất

hợp lý, tính khơng đồng bộ trong phát triển ngành CN ở nước ta qua các vùng kinh

tế. Khu vực Đông Nam Bộ với sự tăng vọt ồ ạt về các khu CN, khu chế xuất đã

chiếm tỷ trọng rất lớn bằng 8 khu vực còn lại cộng vào. Đặc biệt qua 8 năm mà

hầu như sự thay đổi về tỷ trọng đóng góp vào GO chung của tồn quốc của mỗi

vùng hầu như khơng có sự cải thiện đáng kể, chỉ có khu vực Đồng bằng sơng

Hồng là có 1 chút tăng dần từ 16,887% năm 1995 lên tới 17,500% năm 1998 và

21,385% năm 2002. Còn có những khu vực có dấu hiệu chững lại hoặc tụt giảm tỷ

trọng đóng góp như Tây Nguyên cứ năm sau tỷ trọng lại giảm so với năm trước,

năm 1995, tỷ trọng đạt 1,141%, năm 1998 là 1,019%, năm 2000 là 0,966% và đến

năm 2002 chỉ còn 0,852%. Vì vậy, có thể thấy đối với các khu vực có nền cơng

nghiệp phát triển tương đối mạnh vẫn duy trì được tính ổn định của mình. Còn đối

với các khu vực ngành CN còn non yếu thì vẫn chưa tìm ra được giải pháp nào

thực sự hữu hiệu để đẩy mạnh sự phát triển ngành CN của vùng mình.

Sự chênh lệch quá lớn trong việc đóng góp tỷ trọng của mỗi vùng kinh tế

vào tổng giá trị sản xuất ngành CN toàn quốc nói chung đã nảy ra 1 vấn đề cần

giải quyết là trong tương lai, biện pháp, phương thức nào cần được áp dụng để đẩy

mạnh sự phát triển CN ở các vùng non trẻ. Sao cho cân bằng được sự phát triển

của các vùng, khơng còn hiện tượng có vùng đóng góp q lớn, có vùng thì hầu

như sự đóng góp là khơng đáng kể, giậm chân tại chỗ trong việc phát triển, không

phát huy được các tiềm năng, nội lực của mình.

2. Phân tích biến động VA ngành CN theo khu vực kinh tế và vùng kinh tế



2.1. Phân tích biến động về khới lượng của VA

2.1.1. Phân tích biến động VA ngành CN theo khu vực kinh tế

Bảng 7: Tốc độ tăng VA của các khu vực kinh tế ngành CN

(1995 - 2002) ( Đơn vị: %)

Chỉ tiêu

Khu vực Kinh tế



Tốc độ tăng VA



Bình quân



96/95



97/96



98/97



99/98 2000/99 01/02



02/03



1995 - 2002



Toàn quốc



113,97



112.92



117,78



111,16



117,80



112,41



111,86



112,96



Khu vực Ktế trong nước



111,21



109.10



105,99



105,34



113,76



113,58



111,63



109,96



DN Nhà nước



111,74



109.76



105,51



104,04



110,20



110,40



108,64



108,58



Ngoài quốc doanh



110,18



107.81



106,94



107,92



118,78



119,20



116,52



112,37



Khu vc cú vn TNN



120,78



121,61



123,61



118,61



125,03



110,75



112,20



118,83



%



Tốc độ

tăng

củaVA

cáctheo

khu KV

vực kinh

kinh t?

Tc

VA

tng

tthuộc

ca

ngành công

nghiệCN

p ViƯ

t Nam (1995-2002)

ngành

(1995-2002)



140

120

100

80

60

40

20

0

96/95



Toµn qc

Khu vùc KtÕtrong n í c

DN Nhµ n ớ c

Ngoài quốc doanh

Khu vực có vốn Đ TNN



98/97



00/99



02/01



Năm



Tc độ tăng VA của 2 khu vực cơ bản không ổn định, theo những xu

hướng khác nhau.

+ Với khu vực kinh tế trong nước

Nhìn chung, tốc độ tăng VA của khu vực này giảm trong khoảng thời

gian 1995 - 1999 sau đó có xu hướng tăng trở lại vào những năm tiếp theo.

Để hiểu rõ hơn về sự phát triển VA trong khu vực này ta sẽ xem xét kỹ hơn

ở thành phần tạo nên khu vực kinh tế trong nước là doanh nghiệp nhà

nước(DNNN) và khu vực dân doanh

=> DNNN (bao gồm các DN thuộc sở hữu của Nhà nước từ trung

ương đến địa phương)

Giai đoạn 95 - 02 thì chỉ có năm 1996, VA của khu vực này có tốc độ

tăng so với 1995 cao nhất đạt 11, 74%. Trong những năm kế tiếp, tốc độ

tăng của VA có sụt giảm trong vài năm rồi lại tăng lên tuy nhiên tốc độ

tăng của các năm tiếp theo không đạt được tới con số 11,74% của năm

96/95. Bình quân tốc độ tăng của VA khu vực nhà nước là 8,58%



=> Khu vực dân doanh (bao gồm kinh tế tập thể, kinh doanh cá thể

hộ gia đình, kinh tế TB tư nhân...)

Từ năm 1995 - 1997, tốc độ tăng VA của khu vực dân doanh luôn

thấp hơn khu vực DNNN. Đó là do thời gian đầu mới bước vào nền kinh tế

thị trường, người dân còn xa lạ với việc tiến hành kinh doanh không phụ

thuộc vào Nhà nước, khi đó luật pháp chưa thực sự khuyến khích cho khu

vực này phát triển. Tuy nhiên, những năm tiếp theo (1998 - 2002), khu vực

này hoạt động mạnh mẽ hơn. Với tốc độ tăng VA luôn cao hơn ở khu vực

DNNN. Đặc biệt ngay sau khi ban hành luật DN là một tiền đề, tạo đà

phát triển cho khu vực này đạt được tốc độ tăng cao nhất vào năm 2001 so

với năm 2000 là 19,20% trong khi năm đó khu vực DNNN chỉ đạt 10,4%.

Càng ngày sự chênh lệch sự chênh lệch tốc độ tăng VA của khu vực dân

doanh số với khu vực DNNN càng lớn thể hiện tiềm năng của khu vực này

trong tương lai. Dần dần khu vực này đóng góp vào sự phát triển chung

của tồn ngành CN.

-> Như vậy, nhờ có sự can thiệp kịp thời của Nhà nước bằng các biện pháp,

chính sách khuyến khích đầu tư... mà khu vực kinh tế Nhà nước gia tăng tốc độ

phát triển. Đặc biệt được đánh dấu bằng sự phát triển vượt bậc của khu vực dân

doanh. Điều này là rất phù hợp với xu thế phát triển chung của các nước trên

thế giới khi giảm dần tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp Nhà nước, tăng

dần khu vực dân doanh cả về số lượng và chất lượng.

* Khu vực có vốn đầu tư nước ngồi:

Trong 8 năm (1995 - 2002) thì 6 năm liền (1995 - 2000) tốc độ tăng

VA ngành CN của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đều cao hơn khu vực

kinh tế trong nước, đạt tốc độ tăng VA trung bình cả kỳ là 18,83% v ới chênh

lệch tốc độ tăng VA hàng năm với khu vực kinh tế trong nước tương đối

cao. Từ năm 1995 - 2000 tốc độ tăng VA của khu vực này thường giao động

trong khoảng từ 18,61% (năm 99/98) ÷ 25,03% (2000/1999). Trong 2 năm

01/00 và 02/01 thì tốc độ tăng này có giảm mạnh xuống còn 10,75% và

12,2% thấp hơn tốc độ tăng VA của khu vực kinh tế trong nước cùng thời kỳ

là 13,58% và 11,63%. Tuy nhiên sự giảm này có thể được hiểu là do sự

giảm về lượng đầu tư nước ngoài nói chung của tồn thế giới. Việt Nam là

một nước đang phát triển, đang thu hút được 1 lượng lớn các nhà đầu tư

nước ngồi. Vì vậy tình hình biến động về đầu tư nước ngồi trên thế giới

sẽ có ảnh hưởng rất mạnh đến toàn nền kinh tế Việt Nam nói chung và củ a



ngành CN nước ta nói riêng. Tóm lại, ta đã có một cái nhìn tổng quát về tốc

độ phát triển VA ngành CN thời kỳ 1995-2002 qua các khu vực khác nhau.

Với sự khẳng định tính vượt trội của mình khu vực có vốn đầu tư nước

ngồi sẽ còn đem lại nhiều đóng góp cho nền CN của Việt Nam trong tương

lai. Sự hơn hẳn khu vực kinh tế trong nước này xuất phát từ nguyên nhân cơ

bản là do vốn đầu tư của khu vực này rất lớn và ổn định vì vậy hiệu quả

đem lại rất cao. Còn đối với khu vực kinh tế trong nước, nguồn vốn đầu tư

phát triển còn thấp vậy càng cần phải tìm cách sử dụng sao cho hợp lý, đem

lại kết quả tối đa có thể đạt được. Những DNNN khơng hoạt động hiệu quả

mà còn có được sự ưu đãi tương đối lớn như việc ưu đãi trong vay vốn, cấp

đất đai sản xuất, độc quyền… vì vậy thiết nghĩ trong thời gian sắp tới Nhà

nước cần phải có sự xem xét lại hoạt động sản xuất của khu vực này, không

thể Nhà nước cứ tiếp tục bao cấp hay lấy ngân sách để bù lỗ cho các doanh

nghiệp làm ăn thua lỗ. Cần phải tiến hành giải thể các doanh nghiệp khơng

còn khả năng hoạt động, cổ phần hóa, liên doanh hay các biện pháp tích cực

khác để cải tiện tình hình khu vực này. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần ban

hành nhiều chính sách, điều luật, biện pháp… để phát huy tối đa tiềm lực

khu vực dân doanh. Khu vực này nếu có sự quan tâm đúng đắn của Nhà

nước hứa hẹn sẽ đem lại sự đóng góp to lớn cho nền sản xuất cơng nghiệp

tồn quốc và sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam. Cuối cùng, sự

thành công lớn của ngành CN của khu vực dân doanh và khu vực có vốn

đầu tư nước ngồi cho thấy chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc

phát triển kinh tế nhiều thành phần, coi khu vực này và khu vực có vốn đầu

tư nước ngồi là yếu tố quan trọng là hồn tồn đúng đắn.

2.1.2. Phân tích biến động VA ngành CN theo vùng kinh tế

Bảng 8. Tốc độ tăng VA ngành CN của các phân vùng KT thời kỳ 1995 - 2002

Chỉ tiêu



Tốc độ tăng VA



Bình quân

(95-02)



Vùng kinh tế



96/95 97/96 98/97 99/98 00/99 01/00 02/01



Đồng bằng sông Hồng



117,13 110,02 114,43 110,11 117,59 112,30 117,80



114,15



Đông Bắc và Trung Du 111,52 110,67 116,87 112,68 132,67 114,12 111,84

BB



115,56



Tây Bắc



112,42 108,61 123,63 99,56 108,36 157,32 104,59



115,15



Khu Bốn cũ



107,49 109,22 108,49 108,21 136,11 114,40 116,30



113,96



Duyên hải miền Trung



114,90 113,52 109,90 109,54 120,45 114,20 116,50



114,09



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ứng dụng các chỉ tiêu và phương pháp thống kê để phân tích biến động sản xuất ngành công nghiệp (1995-2002)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×