Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sử dụng đàn Organ trong giảng dạy

Sử dụng đàn Organ trong giảng dạy

Tải bản đầy đủ - 0trang

người GV thể hiện những kĩ năng của mình trong các hoạt động dạy cũng như

trong phong trào của nhà trường.

Hầu hết các GV dạy bộ môn âm nhạc đều có kỹ năng sử dụng ít nhất một

nhạc cụ, nhất là đàn organ. Tuy nhiên điều kiện sử dụng đàn Organ còn ít, vì thế

GV khá lúng túng khi tiếp cận. Chỉ cần GV nắm bắt được phương pháp sử dụng

là có thể khai thác triệt để tất cả các loại âm sắc của nhạc cụ như: Nhạc hiện đại,

nhạc dân ca… phục vụ tối đa cho việc giảng dạy các thể loại nhạc.

Mục tiêu của dạy nhạc cho HS lớp 1, 2, 3 là học hát, thuộc bài hát; đối với

HS lớp 4, 5 học tên và vị trí các nốt nhạc là chính. Việc thiếu nhạc cụ để thực

hành khiến cho tiết học mang tính truyền miệng là chính nên khơng lơi cuốn HS,

tiết học tẻ nhạt. Được tiếp cận với đàn Organ khiến cho các em HS có tinh thần

học tập hơn, tiết học trở nên sinh động và tạo ra sự tích cực hơn.

3.2. Một số đàn organ có thể sử dụng hỡ trợ trong dạy nhạc, học nhạc

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại đàn Organ dành cho nhiều đối

tượng khác nhau như: Dùng cho việc dạy học, biểu diễn chuyên nghiệp v.v...

nhưng ta sẽ cùng nhau điểm danh các model organ thường được sử dụng trong

việc dạy và học ở các lớp nhạc trang bị trong việc giảng dạy.

Organ Casio

Đây là thương hiệu chuyên được sử dụng trong việc học và dạy nhạc bởi

các tính năng đa dạng, sản phẩm bền bĩ, giá thành kinh tế.

Đầu tiên là CASIO LK55.





50 Bài nhạc trong chương trình âm nhạc phổ thơng



Micro tập hát theo đàn và chức năng tự chấm điểm

• Phím sáng.

• Chức năng bài học: Cho phép tắt phía bên trái hoặc bên phải của bàn

phím thuận lợi cho việc học.

• Chức năng thu: Ghi âm và phát lại những gì đã được chơi trên bàn phím.









Cổng USB: Dễ dàng giao tiếp với máy tính.

CÁC BÀI HÁT CĨ TRONG ĐÀN LK55

CASIO LK55

Lớp 1



BÀI HÁT



Số trên đàn



1.QUỐC CA



00



2.Quê hương tươi đẹp



26



3.Lí cây xanh



27



4.Đàn gà con



28



5.Sắp đến Tết rồi



29



6.Hồ bình cho bé



43



7.Đi tới trường



44



39



Lớp 2



Lớp 3



Lớp 4



Lớp 5



8.Thật là hay



30



9.Xoè hoa



31



10.Múa vui



33



11.Chúc mừng sinh nhật



45



12.Cộc cách tùng cheng



46



13.Hoa lá mùa xuân



32



14.Bài ca đi học



01



15.Đếm sao



02



16.Gà gáy



03



17.Lớp chúng ta đoàn kết



04



18.Con chim non



05



19.Ngày mùa vui



06



20.Em yêu trường em



07



21.Cùng múa hát dưới trăng



08



22.Tiếng hát bạn bè mình



10



23.Cò lả



47



24.Chim sáo



11



25.Chú voi con ở Bản Đơn



13



26.Thiếu nhi thế giới liên hoan



14



27.Những bông hoa những bài ca



15



28.Tre ngà bên lăng Bác



16



29.Dàn đồng ca mùa hạ



17



Organ Yamaha. Đây là thương hiệu có sự nổi trội về âm thanh, sự đa dạng

trong việc mở rộng tính năng bởi nó được phổ biến rộng rãi nhờ vào việc du

nhập vào Việt Nam từ rất lâu.

Cấp tiểu học, trung học: sử dụng model E443, bởi chất lượng âm thanh ổn

định, chức năng mở rộng thơng dụng sẽ giúp cho các em có sự tiếp xúc âm

thanh, nhạc cụ chính xác hơn.

Cấp giáo viên giảng dạy s670, s750 sẽ hỗ trợ và phát huy khả năng sáng

tạo, biểu diễn, giảng dạy của giáo viên.

3.3. Hướng dẫn cách đệm đàn Organ cơ bản

3.3.1. Củng cố một số kiến thức cơ bản

- Điệu thức - giọng – giọng họ hàng – hợp âm.



40







Điệu thức – giọng – xác định giọng.



Điệu thức là một phương tiện diễn cảm rất quan trọng của âm nhạc. Màu

sắc, tính chất âm nhạc được hình thành qua cơ cấu và mối tương quan chức năng

điệu thức đã góp phần diễn tả tác phẩm.





Âm ổn định – Âm chủ – Âm không ổn định.



Khi nghe biểu diễn một tác phẩm âm nhạc, chúng ta nhận thấy giữa các

âm thanh hợp thành tác phẩm đó có những mối tương quan nhất định. Điều này

thể hiện trước hết ở chổ, trong quá trình phát triển âm nhạc nói chung và giai

điệu nói riêng, từ khối âm thanh chung nỡi lên những âm thanh có tính chất như

âm tựa. Các giai điệu thường kết thúc ở một trong những âm tựa đó.

Các âm tựa được gọi là Âm ổn định.

Trong các âm ổn định có một âm nỗi trội lên rõ hơn các âm khác. Đó là

âm chủ hay còn gọi là chủ âm.

 Sự giải quyết âm không ổn định – điệu thức.

Việc chuyển âm không ổn định về âm ổn định là cách tốt nhất.



Trong ví dụ trên âm Si bị hút về Đô; âm Rê bị hút về Mi khi giai điệu đi

lên và bị hút về Đô khi giai điệu đi xuống. Đô và Mi đều là hai âm ổn định (Đô

là âm chủ).





Điệu thức trưởng– Gam trưởng tự nhiên,



Trong âm nhạc có nhiều điệu thức khác nhau, rất đa dạng nhưng được

dùng nhiều hơn cả vẫn là điệu thức trưởng và điệu thức thứ.

Điệu thức trưởng là điệu thức trong đó có những âm ổn định tạo thành một

hợp âm ba trưởng gồm có 3 note.

VD: .Giọng trưởng có dấu thăng.

Ta có cơng thức tính và thành lập gam trưởng tự nhiên tính từ dưới lên

như sau 2T – 2T – 2t – 2T – 2T – 2T – 2t (Kí hiệu T : Trưởng, t : thứ)



41







Các giọng trưởng có dấu giáng.



Từ giọng Fa trưởng một dấu giáng ta sẽ tìm ra giọng trưởng có hai dấu

giáng, cách giọng Fa trưởng một quãng bốn đúng. (Si giáng trưởng).

Cứ tính lên quãng bốn nữa ta sẽ bắt gặp các giọng trưởng tiếp theo : Mi

giáng trưởng (Ba dấu giáng), La giáng trưởng (bốn dấu giáng)….Ta có sơ đồ sau







Điệu thức thứ gam thứ.



Điệu thức thứ cũng giống với điệu thức trưởng ở chổ nó cũng gồm bảy

bậc. Tuy nhiên ba bậc ổn định (Bậc I, III, V)của điệu thức có cấu trúc quãng

khác với điệu trưởng.

Bậc I và bậc III cách nhau quãng 3 thứ, bậc III và V cách nhau quãng 3

trưởng. Bậc I và bậc V cách nhau quãng 5 đúng. Ba âm này kết hợp với nhau tạo

thành hợp âm ba thứ.

Gam thứ tự nhiên cũng có cấu tạo thứ tự các quãng như sau :

2T – 2t – 2T – 2T – 2t – 2T – 2T

VD: Giọng thứ có dấu thăng :



VD: Giọng thứ có dấu giáng.



42



Cũng bắt đầu bằng giọng La thứ, nếu liên tiếp đi xuống quãng năm đúng

ta sẽ được các giọng thứ có từ một đến bảy dấu giáng : Re thứ, Sol thứ, Do thứ,

Fa thứ, Si giáng thứ, Mi giáng thứ, La giáng thứ.







Điệu thứ hoà thanh – điệu thứ giai điệu.



Ngồi điệu thứ tự nhiên đã trình bày ở trên, trong âm nhạc còn sử dụng

rộng rãi điệu thứ hoà thanh và điệu thứ giai điệu.

Điệu thứ hoà thanh khác với điêu thứ tự nhiên ở bậc VII được nâng cao

lên nữa cung. Việc nâng cao bậc VII là do sự cần thiết tăng cường sức hút dẫn về

âm chủ. Do vậy thứ tự các quãng 2 trong điệu thứ hoà thanh như sau :

2T – 2t – 2T – 2T – 2T – 2 tăng – 3t

Giọng la thứ hồ thanh.



Đặc điểm điển hình của điệu thứ giai điệu là quãng 2 tăng giữa bậc VI và

bậc VII.

3.3.2. Đệm ca khúc dựa trên các hợp âm chính (Hợp âm 3 chính).

 Ở phần này ta chỉ cần dựa vào hợp âm ba chính thì cũng có thể đặt

được hợp âm cho hầu hết tất cả các ca khúc tuy nhiên nếu thực hiện như vậy

thì vẫn còn một số hạn chế nhất định đó là màu âm khi chúng ta trình bày sẽ

khơng được phong phú.





Các hợp âm ba chính của các giọng trưởng và giọng thứ.



Trên tất cả các bậc của một giọng trưởng hoặc giọng thứ đều có thể thành

lập các hợp âm ba bằng cách chồng thêm hai âm theo quãng ba lên mỗi bật.

Ví dụ :



Mỡi hợp âm đều có tên gọi riêng lay từ tên bậc của âm gốc các hợp âm

trong điệu thức.

Ví dụ :



Hợp âm ba xây dựng trên bậc I là hợp âm chủ.

Hợp âm ba xây dựng trên bậc IV là hợp âm hạ át.



43



Hợp âm ba xây dựng trên bậc V là hợp âm át.





Các hợp âm ba chính của giọng trưởng.



Trong giọng trưởng tự nhiên ba hợp âm xây dựng trên ba bậc chính (bậc I,

bậc IV và bậc V)đều là các hợp âm ba trưởng. Vì vậy chúng thể hiện rõ hơn cả

tính chất của giọng trưởng. Thêm nữa, tất cả các âm của một giọng đều nằm

trong thành phần của ba hợp âm này. Do đó chúng được gọi là các hợp âm ba

chính. Các hợp âm này là trung tâm của các chức năng điệu thức và chúng được

sử dụng rất rộng rãi trong âm nhạc.

Tên gọi của các hợp âm ba chính và kí hiệu được gọi theo bậc của chúng

trong điệu thức.

Hợp âm chủ



-



Kí hiệu T



(Tonique)



Hợp âm hạ át



-



Kí hiệu S



(Subdominante)



Hợp âm át



-



Kí hiệu D



(Dominante)



Ví dụ : Hợp âm ba chính của giọng sau ta có.







Giọng trưởng hồ thanh và giọng trưởng giai điệu.



Để xuất hiện thêm note mới và hợp âm mới, phong phú cho bè giai điệu,

bè hoà âm người ta đã nghĩ ra cách hạ bậc VI của giọng trưởng tự nhiên xuống

nữa cung, tạo cho tác phẩm màu sắc lơ lớ của giọng thứ.

Do đó, giọng trưởng mới này được gọi là giọng trưởng hoà thanh.

Trong một tác phẩm không nhất thiết phải hạ note bậc VI xuống từ đầu

đến cuối, nhạc sĩ có thể sử dụng xen kẽ giọng trưởng tự nhiên và giọng trưởng

hoà thanh.

Khi nào cần cho bậc VI hạ xuống người ta điền dấu hoá trước note

nhạc(dấu hoá bất thường).



Đặc điểm của gam trưởng hoà thanh là sự xuất hiện quãng hai tăng giữa

hai bậc VI và VII.

• Giọng trưởng giai điệu.

Giọng trưởng giai điệu hình thành khi ta hạ bậc VI và bậc VII xuống nữa

cung :



44



Giọng trưởng giai điệu thường được dùng chủ yếu cho giai điệu khi

chuyển động đi xuống. Các note bậc VI và VII bị hút ngược về bậc V.

Giọng trưởng hoà thanh tạo cho giọng trưởng hai hợp âm thứ mới.

Giọng trưởng giai điệu giúp ta lập thêm được bốn hợp âm nữa.

Ví dụ : Giọng Đơ trưởng tự nhiên và các hợp âm ba tìm ra theo thứ tự các bậc.



Giọng trưởng hoà thanh(hạ bậc VI) và các hợp âm mới:



Giọng trưởng giai điệu (hạ bậc VI và VII) và các hợp âm mới:



Các hợp âm tìm ra theo thứ tự chỉ là những hợp âm “sơ khai” ta có thể gia

giảm thêm bớt khi ứng dụng vào thực tế, từ đó phát sinh ra hàng loạt kiểu hợp

âm mới.

• Giọng thứ tự nhiên và các hợp âm. HỢP ÂM LA THỨ Am



Các hợp âm cơ bản của giọng thứ tự nhiên và giọng trưởng tự nhiên nòng

coat đều giống nhau, chỉ khác nhau về sự sắp xếp vị trí.

Ví dụ : ở giọng trưởng hợp âm thứ năm giảm xuất hiện ở bậc VII thì ở

giọng thứ tự nhiên, nó lộ diện ngay ở bậc II.

Ơ giọng thứ, note bậc VII bị hút về bậc I (chủ âm) rất yếu vì khoảng cách

giữa hai bậc là một cung(quãng hai trưởng).

Trong khi đó note bậc VII của giọng trưởng cách note bậc I (chủ âm) chỉ

nữa cung (quãng hai thứ) nên bị hút về âm chủ rất mạnh.





Giọng thứ hoà thanh – giọng thứ giai điệu.



45



Trong giọng thứ tự nhiên, nhược điểm của note bậc VII là cách chủ âm

bậc I một cung.

Để khắc phục điều đó người ta đã nghĩ cách nâng bậc VII lên nữa cung

nhằm tăng cường sức hút về chủ âm cho nó.

Đặc điểm tiêu biểu của gam thứ hồ thanh là nảy sinh một quãng hai tăng

giữa hai bậc VI và VII.

- Các hợp âm ba trong giọng thứ hoà thanh.



- Giọng thứ giai điệu.

Khi giai điệu chuyển động đi lên, các note đều bị hút lên.

Trong giọng thứ hoà thanh bậc VII được nâng lên nữa cung. Khoảng cách

giữa note bậc VI và VII quá rộng (quãng hai tăng) âm ở bậc VI không bị hút về

đâu cả nên không thể giải quyết được.

Để cho giai điệu xuôi thuận, bậc VI lại được nâng lên nữa cung nó lập tức

bị hút về bậc VII khi giai điệu đi lên.

Ví dụ :



Khi giai điệu đi xuống đặc tính tự nhiên các âm ở bậc VI và VII được

phục hồi.



Tuy nhiên trong âm nhạc cũng có trường hợp giai điệu chuyển động đi

xuống theo các bậc của điệu thức giai điệu (bậc Vi và VII vẫn được nâng cao).





Sự liên kết các hợp âm ba chính.



Sự kết nới các hợp âm với nhau trong sự chuyển động các bè một cách

hợp lí được gọi là nối tiếp hợp âm. Sự nối tiếp liên tục hai hay nhiều hợp âm với

nhau gọi là vòng hồ âm.

Các hợp âm ba chính là cơ sở hoà âm trong một điệu thức, do vậy chúng

được dùng rất rộng rãi trong âm nhạc. trong các tác phẩm âm nhạc, các hợp âm

ba chính đều có rất nhiều cách liên kết với nhau .



46



Sau đây là một số ví dụ về những nối tiếp đơn giản giữa các hợp âm ba

chính và các thể đảo của chúng.

Ví dụ : Trên giọng Đơ trưởng.



Trên giọng La thứ hồ thanh.







Hệ thống cơng năng của các hợp âm ba chính.



Cơng năng hồ thanh là vai trò và chức năng của các hợp âm trong điệu

thức. Trong điệu thức mỗi hợp âm có một chức năng riêng. Các hợp âm ba chính

là đại diện chủ yếu của các chức năng hoà thanh trong điệu thức.

Hợp âm ba chủ T(hoặc bậc I) là hợp âm mang chức năng ổn định nhất, là

trung tâm của điệu thức.

Hợp âm hạ át S(bậc IV) là hợp âm mang chức năng không ổn định.

Hợp âm át (bậc V) là hợp âm có chức năng khơng ổn định nhất. Tính chất

căng thẳng của nó bao giờ cũng đòi hỏi phải giải quyết vào hợp âm chủ ổn định.

Sự nối tiếp điển hình của các hợp âm ba chính là : T – S – D – T. Sự nối

tiếp này phù hợp với sức hút hoà thanh của các âm trong điệu thức.

Bên cạnh vòng hồ thanh đầy đủ các chức năng như trên, có thể có các

vòng hồ thanh chỉ có hai chức năng tham gia, ví dụ :

T – S – T; T – D – T ; S – D ; S – T ; D – T …

Không được để hợp âm D đứng trước hợp âm S (D – S) vì như vậy là

ngược cơng năng.(Phần này mơn hồ âm đã được học rồi).





Phối hoà thanh cho giai điệu bằng các hợp âm ba chính.



Phối hồ thanh cho giai điệu là kết hợp giai điệu đó với những hợp âm nối

tiếp nhau một cách chặc chẽ và hợp lí.

Khi phối hồ thanh cho một giai điệu cần phải tiến hành theo các bước.

a. Xác định giọng của giai điệu.

b. Tìm các hợp âm T, S, và D của giọng đó.

c. Xác định mỡi âm thanh của giai điệu có thể là âm I, âm III hay âm V

của hợp âm T, S hay D. nếu một âm có thể ở cả hai hợp âm, ta phải xét



47



đến các hợp âm đứng trước và đứng sau để chọn, tránh cách nối tiếp

ngược công năng (D - S).

d. Nếu giai điệu được bắt đầu ở phách mạnh thì hợp âm đầu tiên sẽ là hợp

âm chủ (T). nếu có nhịp lấy đà, thường nhịp này được phối bằng hợp

âm át (D). Rất ít khi giai điệu được bắt đầu bằng hợp âm hạ át. Giai

điệu phải luôn luôn kết thúc bằng hợp âm chủ.

e. Không được nhắc lại hợp âm đã dùng ở phách yếu nhịp trước sang

phách mạnh nhịp sau. Trong loại nhịp phức, phách tương đối mạnh

cũng không được nhắc lại hợp âm đứng ở phách yếu trước nó. Ví dụ :







Hướng dẫn thực hành phối hồ âm băng hợp âm ba chính.



Phối hồ thanh cho giai điệu sau:



a. Sau khi xem hố biểu và cách tiến hành giai điệu, ta xác định giai điệu

này ở giọng La thứ.

b. Các hợp âm ba chính của giọng La thứ là.



c. Âm đầu tiên là âm Mi có thể là âm 5 của hợp âm chủ (t) hoặc âm một

của hợp âm át (D). Tuy nhiên đây là âm mở đầu, lại nằm ở phách mạnh nên để

hợp âm này ở công năng chủ.

Tiếp theo là âm Fa, âm này là âm 3 của hợp âm hạ át (s) và chỉ có ở hợp

âm này, do vậy nó ở cơng năng s.

Âm Mi ở nhịp thứ hai nên để ở công năng D cho phong phú về màu sắc.

Âm Đô tiếp theo là âm 3 của hợp âm t và chỉ có ở hợp âm này nên ta để

công năng t.

Âm Rê cũng như vậy, nó là âm một của hợp âm s và chỉ có ở hợp âm này

nên ta để cơng năng s.

Âm Si là âm 5 của hợp âm át và chỉ có ở h. âm này do đó ta để ở công

năng D.

Kết thúc giai điệu ở âm La cũng là âm 5 của hợp âm hạ át nhưng là hợp

âm kết thúc nên chỉ có thể là hợp âm chủ t.



48



Cơng năng hồ âm của giai điệu được sắp xếp như sau :







Ứng dụng hợp âm ba chính vào một số ca khúc.



Muốn đặt hợp âm cho bài hát này trước tiên ta phải thực hiện đúng các

bước cơ bản sau:

a. Xác định được giọng của bài hát.

b. Xác định hợp âm ba chính của giọng.

c. Xét các âm của giai điệu và đặt cơng năng cho từng ơ nhịp.

•Lưu ý : ở ô nhịp cuối cùng của bài bao giờ cũng giải quyết về chủ âm.

(Ngoại trừ một số ca khúc kết ở âm át thể loại này thường rất ít được sử dụng)





Tiến hành đặt hợp âm cho ca khúc



Bài hát “Thật là hay” được viết ở giọng Đơ trưởng. Hợp âm ba chính của

giọng Đơ trưởng là.



- Cụ thể. Từ ô nhịp 1 đến ô nhịp 5.



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sử dụng đàn Organ trong giảng dạy

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×