Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
DẠY HỌC GDCD Ở TRƯỜNG THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC

DẠY HỌC GDCD Ở TRƯỜNG THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình; tự giác thực hiện trách

nhiệm cơng dân với gia đình, cộng đồng, đất nước.

- Giải quyết các vấn đề đạo đức, pháp luật, chính trị, xã hội.

+ Tự đánh giá, điều chỉnh những hành động chưa hợp lý của bản thân

trong học tập và cuộc sống hàng ngày.

+ Chủ động tham gia hợp tác giải quyết các vấn đề đạo đức, pháp luật,

chính trị, xã hội.

Khi thiết kế mục tiêu về năng lực cần hình thành cho HS, có thể phân

tích thành chi tiết hơn.

Ví dụ: NĂNG LỰC CHUYÊN BIỆT 1: Tự nhận thức về giá trị của

bản thân.

Tự

Tự nhận

nhận thức

thức về

về giá

giá trị

trị của

của bản

bản thân

thân là

là sự

sự nhận

nhận thức

thức về

về điểm

điểm mạnh

mạnh

cũng

cũng như

như điểm

điểm yếu

yếu trong

trong năng

năng lực

lực và

và tính

tính cách

cách của

của bản

bản thân

thân để

để hồn

hồn

thiện

thiện và

và phát

phát triển

triển nhân

nhân cách;

cách; là

là sự

sự xác

xác định

định đúng

đúng vị

vị trí

trí xã

xã hội

hội của

của

bản

bản thân

thân trong

trong các

các mối

mối quan

quan hệ

hệ và

và ngữ

ngữ cảnh

cảnh giao

giao tiếp,

tiếp, hoạt

hoạt động

động để

để

ứng

ứng xử

xử phù

phù hợp.

hợp.



Nhận

Nhận ra

ra một

một số

số

phẩm

phẩm chất

chất và

và

năng

năng lực

lực chính

chính

của

của bản

bản thân

thân



Chỉ

Chỉ ra

ra

được

được

mặt

mặt

mạnh

mạnh

về

về

năng

năng

lực

lực



Chỉ

Chỉ ra

ra

được

được

mặt

mặt

mạnh

mạnh

trong

trong

tính

tính

cách

cách



Tiếp

Tiếp cận

cận có

có

chọn

chọn lọc

lọc một

một số

số

phản

phản hồi

hồi về

về bản

bản

thân

thân



Xác

Xác định

định vị

vị trí

trí

xh

xh của

của bản

bản thân

thân

trong

trong ngữ

ngữ cảnh

cảnh

giao

giao tiếp

tiếp



Phân

Phân

Thể

Thể

tích

tích

hiện

hiện được ý

được ý

thái

thái độ

độ nghĩa

nghĩa

bình

bình

của

của

tĩnh

tĩnh

phản

phản

khi

khi

hồi

hồi đối

đối

nghe

nghe

với

với

phản

phản

bản

bản

hồi

hồi

thân

thân



Chỉ

Chỉ ra

ra

được

được

vai

vai trò

trò

của

của

bản

bản

thân

thân

trong

trong

ngữ

ngữ

cảnh

cảnh

giao

giao

tiếp

tiếp

28



Chỉ

Chỉ ra

ra

được

được

các

các

hành

hành

vi

vi

tương

tương

ứng

ứng

với

với vai

vai

trò

trò



Thay

Thay đổi

đổi hoàn

hoàn

thiện

thiện bản

bản thân

thân



Chỉ

Chỉ ra

ra

được

được

Nói

Nói

dấu

dấu

được

được

hiệu

hiệu

cách

cách

thay

thay

mà

mà

đổi

đổi

mình

mình

trong

trong đã thay

đã thay

hành

hành

đổi

đổi

vi

vi và

và

lời

lời nói

nói



NĂNG LỰC CHUYÊN BIỆT 1: Tự điều chỉnh hành vi phù hợp với

pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội.

Tự

Tự điều

điều chỉnh

chỉnh hành

hành vi...

vi... là

là khả

khả năng

năng vượt

vượt qua

qua những

những khó

khó khăn

khăn cám

cám

dỡ,

để

tự

thay

đởi

nhận

thức,

hành

vi

của

mình

cho

phù

hợp

với

chuẩn

dỡ, để tự thay đởi nhận thức, hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn

mực

mực đạo

đạo đức

đức và

và pháp

pháp luật

luật để

để hành

hành động

động ngày

ngày một

một trở

trở nên

nên tự

tự giác

giác hơn

hơn

trong

mọi

hoàn

cảnh.

trong mọi hoàn cảnh.

Hiểu được những quy

định của pháp luật và

chuẩn mực đạo đức

XH

Nêu

Nêu được

được

một

một số

số

quy

định

quy định

và

và chuẩn

chuẩn

mực

mực đạo

đạo

đức

đối

đức đối

với

với hành

hành

vi

của

vi của

công

công dân

dân



Phát

Phát biểu

biểu

được

được ýý

nghĩa

nghĩa của

của

các

chuẩn

các chuẩn

mực,

mực, quy

quy

định

định đó

đó

đối

với

đối với cá



nhân

nhân



Nhận thức được các

đặc điểm tâm lý của

bản thân



Nêu

Nêu được

được

điểm

điểm

mạnh

mạnh và

và

điểm

yếu

điểm yếu

của

của cá



nhân

nhân



Điều chỉnh nhận

thức và hành vi phù

hợp với chuẩn mực

và quy định của pháp

luật



Chỉ

Chỉ ra

ra

được

được

những

những

cách

cách giúp

giúp

vượt

vượt qua

qua

cám

cám dỗ

dỗ



Chỉ

Chỉ ra

ra

được

được kết

kết

quả

quả của

của sự

sự

điều

điều chỉnh

chỉnh

hành

hành vi

vi



5.2. Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học môn GDCD theo định

hướng phát triển năng lực

Với mục tiêu dạy học định hướng phát triển năng lực HS, có thể khẳng

định, các phương pháp sử dụng có sự khác biệt so với phương pháp truyền

thống. Trong đó, sự khác biệt cơ bản nhất là vai trò của người học và người

dạy đã thay đổi, sự thay đổi này đã biến quá trình học của HS từ thụ động

sang chủ động, từ việc nghe giảng sang hoạt động tư duy, làm việc độc lập,

làm việc theo nhóm, đổi mới quan hệ GV - HS theo hướng cộng tác có ý

nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội.

Các PPDH môn GDCD truyền thống và hiện đại đã được đề cập tới

trong nhiều tài liệu khác nhau, được GV làm quen qua các đợt tập huấn và

thực hiện nhiều trong các giờ dạy học trên lớp. Mỗi PPDH có những bước cấu

trúc khác nhau, thực hiện những chức năng lí luận dạy học khác nhau, có

những ưu, nhược riêng. Một số PPPDH và kỹ thuật dạy học (KTDH) có ưu

thế trong việc định hướng phát triển năng lực của HS (thường gọi tắt là

PPDH, KTDH tích cực) mà GV có thể dễ dàng sử dụng để phát triển năng lực

HS PT trong các giờ dạy học môn GDCD như sau:

29



5.2.1. Một số PPDH theo định hướng phát triển năng lực

5.2.1.1. Phương pháp dạy học nhóm

a. Các năng lực có thể hình thành qua phương pháp này

Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ có tác dụng phát triển năng lực

giao tiếp, tăng cường sự tự tin cho HS; năng lực hợp tác làm việc nhóm; năng

lực sáng tạo, tự lực và tính trách nhiệm của HS.

b. Cách tiến hành

Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, luyện tập, củng cố một

chủ đề đã học hoặc cũng có thể tìm hiểu một chủ đề mới. Được triển khai theo

cách sau:

- HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ;

- GV giao nhiệm vụ và xác định nhiệm vụ của các nhóm;

- Quy định thời gian giới hạn cho các nhóm;

- Mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân

cơng và hợp tác làm việc;

- Trình bày kết quả làm việc của nhóm và đánh giá trước toàn lớp.

c. Một số lưu ý

- Số lượng HS trong nhóm nên từ 4-8 HS để đảm bảo tất cả các thành

viên trong nhóm đều được chủ động làm việc và phát huy lợi thế, quan điểm

của mình;

- Nhiệm vụ thảo luận của nhóm có thể độc lập hoặc trùng nhau;

- Cần quy định rõ thời gian thảo luận nhóm và thời gian trình bày kết

quả thảo luận của mỗi nhóm;

- Trong khi các nhóm thảo luận, GV đi vòng quanh quan sát, động viên

và hướng dẫn HS thảo luận tập trung vào chủ đề.

d. Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Khi dạy bài “Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em”

(GDCD lớp 6), sau khi cho HS tìm hiểu các nhóm quyền theo Cơng ước của

Liên hợp quốc, GV yêu cầu HS thảo luận nhóm và viết ý nghĩa việc thực hiện

các quyền cho trẻ em vào bảng theo mẫu dưới đây:

Ý nghĩa

Bản thân trẻ em

Gia đình

Xã hội

30



- Các nhóm thảo luận, ghi kết quả vào bảng và trưng bày xung quanh

lớp học như một phòng trưng bày tranh;

- HS cả lớp đi một vòng quanh lớp học, xem kết quả thảo luận của các

nhóm khác và ghi ý kiến bình luận hoặc bổ sung bằng bút màu khác;

- GV chốt lại đáp án đúng cho từng câu hỏi và kết luận.

Ví dụ 2: Dạy bài 14- Phòng, chống HIV/AIDS (GDCD lớp 8), sau khi

cho HS quan sát các bức ảnh về vi rút HIV và hình ảnh 3 chiều của Protein

GP20 - một thành phần của lớp màng vi rút HIV hoặc băng hình về cơ chế

hoạt động của viruts HIV và những người bệnh... GV có thể tổ chức cho HS

thảo luận nhóm theo các câu hỏi sau:

Nhóm 1: Nhìn bề ngoài có thể biết một người bị nhiễm HIV khơng? Vì

sao?

Nhóm 2: Nêu những biểu hiện chính của một người bị nhiễm

HIV/AIDS?

Nhóm 3: Thời gian tiến triển từ lúc HIV đến AIDS mất bao lâu? Phụ

thuộc vào những yếu tố nào?

Nhóm 4: Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện khi

nào? Ở đâu? Tại sao hiện nay vẫn chưa thể chữa được bệnh nhiễm HIV?

- Các nhóm thảo luận, ghi kết quả ra giấy khổ lớn và trưng bày xung

quanh lớp học như một phòng trưng bày tranh;

- HS cả lớp đi một vòng quanh lớp học, xem kết quả thảo luận của các

nhóm khác và ghi ý kiến bình luận hoặc bổ sung bằng bút màu khác;

- GV chốt lại đáp án đúng cho từng câu hỏi và kết luận.

Ví dụ 3: Khi dạy bài “Lịch sự, tế nhị” (GDCD lớp 6), GV nêu câu hỏi

và tổ chức cho HS hoạt động nhóm để tìm hiểu những biểu hiện của lễ độ,

lịch sự, tế nhị trong giao tiếp, ứng xử với người khác.

Câu hỏi thảo luận: Em hãy cùng các bạn trong nhóm thảo luận về

những biểu hiện của lễ độ, lịch sự, tế nhị và không lễ độ, lịch sự, tế nhị trong

giao tiếp, ứng xử với người khác và liệt kê vào bảng theo mẫu dưới đây:

Biểu hiện của lê độ, lịch sự, tế

nhị trong giao tiếp, ứng xử



Biểu hiện của không lê độ, lịch

sự, tế nhị trong giao tiếp, ứng xử



- Các nhóm thảo luận, ghi kết quả ra giấy khổ lớn và trưng bày xung

quanh lớp học như một phòng trưng bày tranh. Ghi lại những vấn đề mà nhóm

còn băn khoăn, thắc mắc, cần được giải đáp với thầy/cô giáo;

31



- HS cả lớp đi một vòng quanh lớp học, xem kết quả thảo luận của các

nhóm khác và ghi ý kiến bình luận hoặc bổ sung bằng bút màu khác;

- GV chốt lại đáp án đúng cho từng câu hỏi và kết luận.

5.2.1.2. Phương pháp động não

a. Các năng lực có thể hình thành qua phương pháp này

Phương pháp động não (một số tài liệu gọi là kĩ thuật động não) thường

được sử dụng trong dạy học trước khi giới thiệu bài học mới, giới thiệu một

nội dung mới hoặc kết thúc một nội dung nào đấy. Phương pháp này góp phần

rèn luyện năng lực tư duy độc lập; năng lực sáng tạo; năng lực giao tiếp cho

HS.

b. Cách tiến hành

GV có thể tiến hành theo các bước sau:

- Nêu câu hỏi hoặc vấn đề, trong đó có nhiều cách trả lời, cần được tìm

hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm;

- Khích lệ HS phát biểu;

- Liệt kê các ý kiến lên bảng hoặc giấy to;

- Phân loại các ý kiến; làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ;

- Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận.

c. Một số lưu ý

- Câu hỏi động não phải là câu hỏi tạo ra một số cách trả lời khác nhau;

- GV chú ý HS phát biểu ngắn gọn;

- GV không nên đánh giá, phê phán trong khi HS đang phát biểu.

d. Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Khi dạy bài 5: “Yêu thương con người” ở lớp 7, GV có thể sử

dụng phương pháp động não, nêu câu hỏi: Bác Hồ của chúng ta có những biểu

hiện như thế nào về tình yêu thương con người?

HS có thể trả lời về các biểu hiện khác nhau, mỗi em trả lời một hoặc

hai biểu hiện. GV ghi tất cả các ý kiến lên bảng, trừ những ý kiến trùng lặp.

GV cũng có thể gợi ý giúp các em suy nghĩ, nói đúng về một biểu hiện nào

đó. GV phân loại ý kiến, kết luận về các biểu hiện đúng. Cuối cùng, GV khen

ngợi những ý kiến đúng, không chê bai những ý kiến chưa đúng mà cần động

viên, khích lệ để các em hăng hái tiếp tục tham gia vào các câu hỏi sau.

Ví dụ 2: Khi dạy bài 5 “Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em”

(GDCD lớp 6), để huy động khả năng kết nối kinh nghiệm của HS và hướng

sự tập trung của HS vào chủ đề mà GV sẽ dạy, GV nêu câu hỏi động não: Em

32



hãy kể những quyền mà em và các bạn hiện nay đang được hưởng. Em suy

nghĩ gì khi được hưởng những quyền đó ?

5.2.1.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

a. Các năng lực hình thành qua phương phương pháp này

Phương pháp này nhằm phát huy năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề

cá nhân và hợp tác giải quyết vấn đề xã hội; năng lực tư duy sáng tạo; năng

lực tự nhận thức, tự điều chỉnh hành vi và năng lực tự học, tự nghiên cứu...

b. Cách tiến hành

Phương pháp này được tiến hành bằng cách:

- GV sử dụng một câu chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên

những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống thực tiễn để minh chứng

cho một vấn đề hay một số vấn đề;

- GV có thể cho HS đọc, hoặc xem, hoặc nghe về trường hợp điển hình

sau đó suy nghĩ về nó;

- Yêu cầu HS viết ra giấy suy nghĩ của mình và thảo luận về trường hợp

điển hình theo các câu hỏi hướng dẫn của GV.

c. Một số lưu ý

- Tuỳ từng nội dung vấn đề song trường hợp điển hình phải phù hợp với

chủ đề bài học, phù hợp với trình độ HS và thời lượng cho phép của tiết học;

- Trường hợp điển hình phải tương đối phức tạp, với các tuyến nhân vật

và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản

nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực;

- Trong từng trường hợp cụ thể, có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên

cứu một trường hợp điển hình hoặc phân cơng mỗi nhóm nghiên cứu một

trường hợp khác nhau;

- Phần nhiệm vụ: Xác định những nhiệm vụ người học cần giải quyết

khi nghiên cứu trường hợp. Các nhiệm vụ cần rõ ràng, vừa sức với người học

và nhằm đạt mục tiêu của bài học.

d. Ví dụ minh hoạ

Ví dụ 1: Khi dạy bài 15 - Quyền và nghĩa vụ học tập (GDCD lớp 7),

GV có thể liên hệ các câu chuyện về tấm gương HS nghèo vượt khó để đạt

nhiều thành tích cao trong học tập. Qua câu chuyện, HS sẽ hiểu nhanh hơn, cụ

thể hơn bổn phận, nghĩa vụ của mình.

Ví dụ 2: Khi dạy bài 14 - Phòng chống nhiễm HIV/AIDS (GDCD lớp

8), GV có thể liên hệ về tấm gương “Nữ anh hùng châu Á - Phạm Thị Huệ”,

một người bị HIV nhưng đã vượt qua số phận để giúp đỡ những người có

33



cùng hoàn cảnh và tiên phong trong phong trào đấu tranh phòng, chống

HIV/AIDS.

5.2.1.4. PPDH qua trải nghiệm và khám phá

a. Các năng lực có thể hình thành qua phương pháp này

Phương pháp này góp phần phát triển cho HS năng lực phát phát hiện

và giải quyết vấn đề; năng lực tự nghiên cứu; năng lực sáng tạo và năng lực tự

chịu trách nhiệm.

b. Cách tiến hành

Phương pháp này được tiến hành thông qua:

- GV cho HS xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống;

- HS thu thập thơng tin có liên quan đến vấn đề/tình huống đặt ra, liệt

kê các cách giải quyết có thể có;

- HS thông báo kết quả, cảm tưởng, phản ứng và phát hiện ra cách giải

quyết vấn đề;

- HS và GV cùng nhau phân tích theo hướng 5W1H (ai, cái gì, ở đâu,

khi nào, tại sao..);

- GV khái quát hóa kiến thức và đúc kết bài học (bài học gì, qui luật gì,

nguyên tắc gì, kết luận gì) và những hướng vận dụng kiến thức vào thực tế.

c. Một số lưu ý

- Các tình huống đưa ra cho HS trải nghiệm phải gần gũi với cuộc sống

thực, phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với trình độ nhận thức của HS và

có độ dài vừa phải;

- Tình huống/ vấn đề trải nghiệm phải chứa đựng những mâu thuẫn cần

giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách trải nghiệm, giải

quyết vấn đề.

d. Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Khi dạy bài 7 “Bảo vệ di sản văn hóa” (GDCD lớp 7), GV tổ

chức cho HS tham quan một di sản văn hóa của địa phương. Sau đó, GV yêu

cầu HS các nhóm ghi lại những gì mình quan sát được, nêu cảm tưởng, đề

xuất cách giải quyết các vấn đề còn chưa tốt và thảo luận với các bạn khác,

báo cáo lại kết quả cho GV.

HS và GV cùng nhau phân tích, sau đó GV khái quát hóa kiến thức và

đúc kết bài học và những hướng vận dụng kiến thức vào thực tế.

Ví dụ 2: Khi dạy bài 14 “Lịch sự, tế nhị” (GDCD lớp 6), GV cho HS

trải nghiệm về các hoạt động đã diễn ra. GV đặt câu hỏi: Trong tuần vừa qua

em đã giao tiếp với những ai? Ai là người đã để lại cho em ấn tượng tốt, làm

34



cho em thấy vui vẻ, dễ chịu, thoải mái khi giao tiếp? Ai là người làm cho em

cảm thấy khó chịu, khó gần, khơng muốn gặp lại nữa? Vì sao? Chia sẻ với

bạn bè trong lớp về trải nghiệm của bản thân.

5.2.1.5 Phương pháp đóng vai và giải quyết tình huống

a. Các năng lực có thể hình thành qua phương pháp này

Đây là phương pháp nhằm giúp HS phát huy năng lực giải quyết vấn

đề; năng lực sáng tạo; năng lực hợp tác; năng lực giao tiếp và năng lực tư duy

sâu sắc bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện

hoặc quan sát được.

b. Cách tiến hành

- GV tổ chức cho HS thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một

tình huống giả định;

- Chia nhóm, quy định thời gian và giao tình huống cho các nhóm;

- Yêu cầu các nhóm phân công nhiệm vụ, viết lời thoại, thảo luận cách

giải quyết tình huống và đóng vai giải quyết tình huống;

- Các nhóm thể hiện tình huống, GV và các nhóm khác nhận xét, đánh

giá.

c. Một số lưu ý

- Tình huống khơng nên quá dài và phức tạp, không cho trước lời thoại;

- Tình huống đưa ra cần mở và phải có nhiều cách giải quyết, cách ứng

xử;

- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với

lứa tuổi, trình độ HS và điều kiện, hoàn cảnh lớp học.

d. Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Khi dạy bài “Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em”

(GDCD lớp 6), GV cho HS đọc tình huống dưới đây và các nhóm phân công

nhiệm vụ, viết lời thoại và sắm vai giải quyết tình huống sau?

Tình huống: Ngày nào cũng vậy, mẹ cho tiền để Nam ăn sáng nhưng

Nam nhịn ăn, dành tiền chơi điện tử. Cứ tan học là Nam lại vào quán chơi

điện tử mải miết đến hơn 12 giờ trưa mới về đến nhà về nhà, Nam vội vàng ăn

cơm rồi lại tất tưởi đi học chiều ngay.

Chiều về, Nam cắm đầu vào xem ti-vi, không phụ giúp mẹ các công

việc nhà.Thấy vậy, mẹ mắng và cấm Nam khơng được chơi điện tử, nếu còn

tiếp tục, mẹ Nam sẽ không cho tiền ăn sáng. Nam giận dữ quát lại mẹ vì cho

rằng mẹ đã vi phạm quyền trẻ em.

Câu hỏi:

35



- Nam đã thực hiện đúng bổn phận của mình chưa? Tại sao? Hãy minh

hoạ bằng những chi tiết trong tình huống.

- Theo em, Nam nói mẹ vi phạm quyền trẻ em, điều đỏ có đúng

không ? Giải thích vì sao ?

- Em có tán thành với hành động của Nam và cách cư xử của Nam với

mẹ không ? Tại sao ?

- Em học được bài học gì thơng qua tình huống này?

Ví dụ 2: Khi dạy bài “Quyền được đảm bảo an tồn, bí mật về thư tín,

điện thoại, điện tín” (GDCD lớp 6) GV có thể cho HS đọc tình huống sau,

yêu cầu các nhóm phân công nhiệm vụ, viết lời thoại và sắm vai giải quyết

tình huống:

Tình huống: Dung và Linh cùng học một lớp. Do tò mò nên giờ ra chơi,

lúc Dung đi ra ngoài, Linh đã đến chỗ Dung tự ý lấy nhật kí của Dung ra xem

và đọc cho các bạn cùng nghe. Bước vào lớp, thấy Linh đang đọc nhật kí của

mình, Dung giận dữ đã mắng Linh và còn gọi anh trai đến đánh Linh sau buổi

học hôm đó.

Câu hỏi:

- Nhận xét cách cư xử của 2 bạn trong tình huống.

- Ai là người vi phạm pháp luật trong tình huống này? Họ đã vi phạm

điều gì?

- Em sẽ hành động thế nào khi chứng kiến sự việc trên?

Ví dụ 3: Khi dạy bài 14 “Lịch sự, tế nhị” (GDCD lớp 6), GV cho HS

sắm vai giải quyết tình huống sau:

Tình huống: Chủ nhật tới trường Lan tổ chức hoạt động ngoại khóa về

bảo vệ môi trường và Lan được phân cơng tham gia một bài thuyết trình. Tuy

nhiên, tối thứ sáu bố mẹ Lan thông báo: Chủ nhật cả nhà sẽ về q ngoại thăm

ơng bà, vì lâu rồi không gặp các con cháu, ông bà rất mong.

Lan sẽ nói như thế nào với bố mẹ?

- HS trình bày tiểu phẩm của nhóm trước lớp;

- Thảo luận lớp về cách giao tiếp ứng xử trong tình huống:

+ Cách giao tiếp, ứng xử trong tình huống đã lễ độ, lịch sự, tế nhị chưa?

Thể hiện ở những lời nói, cử chỉ, hành động ,... nào?

+ Theo em, có thể thay đổi, điều chỉnh lại cách ứng xử trong mỗi tình

huống như thế nào cho phù hợp hơn? Vì sao?

5.2.1.6. Phương pháp trò chơi

a. Các năng lực có thể hình thành qua phương pháp này

36



Phương pháp trò chơi được sử dụng trong dạy học GDCD nhằm kích

thích năng lực sáng tạo; năng lực hợp tác giải quyết vấn đề; năng lực giao

tiếp; năng lực tự nhận thức và năng lực tự điều chỉnh hành vi.

b. Cách tiến hành

GV sử dụng phương pháp này bằng cách tổ chức cho HS tìm hiểu một

vấn đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm

thơng qua một trò chơi nào đó sau đó yêu cầu HS thảo luận về ý nghĩa giáo

dục của trò chơi.

c. Một số lưu ý

- Trò chơi phải phù hợp với chủ đề bài học, với đặc điểm và trình độ

HS, với quỹ thời gian, điều kiện thực tế của lớp học;

- Trò chơi phải dễ tổ chức, được thực hiện luân phiên và không gây

nguy hiểm cho HS;

- Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện

cho HS tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò

chơi và đánh giá sau khi chơi.

d. Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Khi dạy bài 20 “Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam”

(GDCD lớp 8), để tổng kết bài học, GV tổ chức cho HS chơi trò chơi xếp hình

“Cây pháp luật” được tạo bởi nhiều miếng ghép.

- GV phổ biến luật chơi:

+ Thời gian: Trong 3 phút, HS dùng những miếng ghép cho sẵn để lắp

ráp thành “Cây pháp luật”;

+ Mỗi nhóm cử 1 HS cầm miếng ghép và dán lên bảng; sau khi HS đó

trở về vị trí cũ, HS khác trong nhóm mới được lên dán miếng ghép tiếp;

+ Sau khi hoàn thành, các nhóm giới thiệu về “Cây pháp luật” của

nhóm mình;

+ Nhóm chiến thắng là nhóm hoàn thành sớm nhất, sắp xếp đúng nhất

và có bài giới thiệu đúng và hay về sản phẩm của nhóm.

- GV tổng kết và nêu ý nghĩa của trò chơi.

5.2.1.7. PPDH theo dự án

a. Các năng lực có thể hình thành qua phương pháp này

PPDH này nhằm phát triển năng lực hợp tác; năng lực tự học, tự quản

lí; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; năng lực tư duy phê phán; năng

lực công nghệ và năng lực sáng tạo.

b. Cách tiến hành

37



Quá trình thực hiện phương pháp học theo dự án:

+ Xác định một vấn đề, dự án phù hợp với HS;

+ Liên kết vấn đề với thế giới, môi trường xung quanh của HS;

+ Xây dựng các chủ đề xung quanh vấn đề, dự án;

+ Tạo cho HS cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch học tập để

giải quyết vấn đề;

+ Khuyến khích sự cộng tác bằng cách tạo ra các nhóm học tập;

+ Yêu cầu tất cả HS trình bày kết quả học tập dưới hình thức một dự án

hoặc chương trình.

c. Một số lưu ý

- Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và

khả năng của HS. HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp

với khả năng và hứng thú cá nhân;

- GV cần tư vấn cho HS chọn dự án gắn việc học tập trong nhà trường

với thực tiễn đời sống, xã hội; có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận

dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành.

- Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn

học khác nhau nhằm giải quyết vấn đề mang tính phức hợp.

d. Ví dụ minh họa

Ví dụ 7: Khi dạy bài “Bộ máy nhà nước cấp cơ sở” (GDCD lớp 7), GV

cho HS lập dự án tìm hiểu ở xã (phường, thị trấn) nơi em ở có bao nhiêu đại

biểu Hội đồng nhân dân? Họ có nhiệm vụ gì?

- GV hướng dẫn các nhóm HS xây dựng đề cương, kế hoạch thực hiện

dự án:

+ Xác định nội dung dự án: Các nhóm thảo luận, đề xuất nội dung công

việc, GV gợi ý bổ sung:

* Thời gian dự kiến;

* Cách tiến hành mỗi công việc;

* Phân công người phụ trách từng công việc.

- HS về nhà thực hiện các bước tiếp theo của dự án:

+ Thực hiện kế hoạch dự án theo kế hoạch đã phân công;

+ Thu thập số liệu, viết báo cáo kết quả;

+ Trình bày báo cáo trước lớp về sản phẩm của dự án.



38



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

DẠY HỌC GDCD Ở TRƯỜNG THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×