Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Sự cần thiết của việc thúc đẩy xuất khẩu SPNN Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc

3 Sự cần thiết của việc thúc đẩy xuất khẩu SPNN Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc

Tải bản đầy đủ - 0trang

thế mạnh của chúng ta là các mặt hàng nông, lâm, thủy sản vì vậy một trong các cách để giảm

thâm hụt cán cân thương mại là đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp sang Hàn Quốc.



Nguồn: Tổng cục hải quan

Biểu đồ 1.3.1: Cán cân thương mại Việt Nam – Hàn Quốc 2013- 2017



Thứ hai, tìm thị trường thay thế Trung Quốc cho các SPNN.

Trung Quốc là nước nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam. Nhưng lợi nhuận thu về

từ thị trường này không cao do các đặc điểm buôn bán với các thương nhân Trung Quốc, họ là

những người hay cháo trở. Nông dân thường bị trượt giá với kiểu thu mua của người Hoa.

Cũng vì là nước nhập khẩu số một cho các mặt hàng nông sản nên nông dân bị phụ thuộc quá

nhiều vào các nhà bn Trung Quốc. Đây cũng chính là lý do mà giá của các mặt hàng rau củ

quả thường rẻ khi xuất. Hàn Quốc cũng là một quốc gia có nhu cầu về các sản phẩm nơng

nghiệp cao. Theo KITA, tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người của nước này là

58,1kg/người/năm, mức tiêu thụ cao, cộng thêm việc người dân Hàn Quốc rất thích ăn các loại

quả như ổi, chuối, thanh long của Việt Nam. Từ đó, có thể thấy rằng người Hàn có nhu cầu về

thực phẩm nông nghiệp cao đây là cơ hội để chúng ta tìm thị trường xuất khẩu các mặt hàng

13



- 13

-



nơng nghiệp khơng những thay thế cho Trung Quốc mà còn thu về nguồn ngoại tệ góp phần

làm tăng dự trữ ngoại hối của quốc gia.

Thứ ba, với thị trường khó tính này các sản phẩm phải đạt chất lượng mới có thể xuất

khẩu từ đó nâng cao năng lực cạnh trang giữa các doanh nghiệp.



14



- 14

-



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU SPNN VIỆT NAM SANG

THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC.

2.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu ở Việt



Nam

2.1.1 Các mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

a) Gạo.

Ngành sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp nước ta có những tiến bộ vượt bậc, từ một

nước có nền nơng nghiệp lạc hậu sản xuất chủ yếu tự cung tự cấp. Từ một đất nước với nạn đói

cướp đi sinh mạng của hơn hàng triệu người. Thì cho đến hơm nay, Việt Nam đã vươn lên trở

thành nước xuất khẩu lớn thứ 2 trên thế giới chỉ sau Thái Lan. Những năm qua, chúng ta

không ngừng áp dụng những tiến bộ khoa học cũng như cải tiến các giống lúa để nâng cao sản

lượng lúa và chất lượng. Gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đem lại nguồn thu

lớn cho ngân sách và thu nhập cho nông dân. Dưới đây là sản lượng và trị giá xuất khẩu gạo

giai đoạn 2013 – 2017.

Bảng 2.1.1.1: Sản lượng và trị giá xuất khẩu gạo giai đoạn 2013 – 2017



Đơn vị: Sản lượng: nghìn tấn, trị giá: triệuUSD.

Năm



Sản lượng



Trị giá



2013



6580



2920



2014



6380



2960



2015



6580



2790



2016



4800



2150



2017



5078



2610

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2017



Qua bảng trên ta thấy, trị giá và sản lượng gạo năm năm gần đây đều tăng. Tuy nhiên tốc

độ tăng của trị giá không nhanh bằng tốc độ tăng của sản lượng. Như vậy, có thể thấy về mặt

giá trị thì giá cả gạo của chúng ta trên thị trường chưa được cao.



b) Hạt tiêu

15



- 15

-



Theo thống kê, Việt Nam là nước xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới. Có mặt ở trên 150

quốc gia, hồ tiêu ln nằm trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta. Nhưng hồ

tiêu của nước ta chưa có trị giá xuất khẩu cao, nhiều lần các nông dân phải điêu đứng vì hồ tiêu

mất giá. Những năm trở lại đây, nước ta đã có những biện pháp để nâng cao kim ngạch xuất

khẩu hồ tiêu, đưa hồ tiêu Việt Nam có thương hiệu trên thế giới.

Bảng 2.1.1.2.: Sản lượng và trị giá xuất khẩu hồ tiêu giai đoạn 2013 – 2017



Đơn vị: sản lượng: nghìn tấn, trị giá: triệu USD

Năm



Sản lượng



Trị giá



2013



133



890



2014



154



1201



2015



132



1259



2016



178



1429



2017



214



1117

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2017



c) Rau củ quả

Khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp của

nước ta. Vì vậy, các loại cây ăn quả, rau, củ nhiệt đới được người dân trồng theo mùa vụ và

quanh năm không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng mà còn có giá trị xuất khẩu đem lại nguồn

thu cho người dân. Đây cũng là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta.

Bảng 2.1.1.3: Trị giá xuất khẩu rau củ quả giai đoạn 2010 – 2017



Đơn vị: triệu USD

Năm



Trị giá



2013



1073



2014



1488



2015



2397



2016



2461



2017



3051

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2017



Trong các mặt hàng nơng sản xuất khẩu thì đây là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao

nhất. Do đặc điểm về tự nhiên và khí hậu mà nước ta trồng được nhiều loại rau quả nhiệt đới

16



- 16

-



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Sự cần thiết của việc thúc đẩy xuất khẩu SPNN Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×