Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)

2 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)

Tải bản đầy đủ - 0trang

và các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam như Luật Đầu tư năm 2005. Việc thực hiện

Chương này khơng đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành của pháp luật Việt

Nam. Nội dung của Chương cũng phù hợp với các nguyên tắc quy định tại Điều 3 của Luật Ký

kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế và tương thích với các cam kết quốc tế khác về đầu

tư.

Nội dung chính của hiệp định là: Cam kết về dịch vụ đầu tư, mơi trường, chính sách minh

bạch, khuyến khích cạnh tranh bình đẳng, phù hợp với quy định quốc tế góp phần tăng cường

thu hút đầu tư từ Hàn Quốc vào Việt Nam. Hàn Quốc dành cho Việt Nam ưu đãi cắt, giảm thuế

quan, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với nhóm hàng nơng, thủy sản chủ lực như tôm,

cá, hoa quả nhiệt đới và hàng công nghiệp như dệt, may, sản phẩm cơ khí. Lần đầu tiên, Hàn

Quốc cửa thị trường cho sản phẩm tỏi, gừng, mật ong, tôm tạo cơ hội cho Việt Nam cạnh tranh

với các nước khác trong khu vực. Hàn Quốc cam kết tự do hóa 95,43% số dòng thuế, Việt Nam

cam kết với 89,75% số dòng thuế”.[ http://trungtamwto.vn. Mục FTA. Bài viết tóm lược Hiệp

định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc]

1.2.2



Những quy định về xuất khẩu SPNN trong hiệp định thương mại tự do Việt Nam –

Hàn Quốc

Trong hiệp định thương mại tự Việt Nam – Hàn Quốc, quy định về xuất khẩu nơng sản

nói riêng và hàng hóa nói chung phải tuân theo các cam kết về thuế quan, cam kết về xuất xứ

cụ thể như sau:

“Về cơ bản, các cam kết thuế quan trong VKFTA được xây dựng trên nền các cam kết

thuế quan trong FTA ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), nhưng với mức độ tự do hóa cao hơn.

Nói cách khác, VKFTA sẽ cắt giảm thêm một số dòng thuế mà trong AKFTA chưa được cắt

giảm hoặc mức độ cắt giảm còn hạn chế.

Bảng 1.2.2.1: Số dòng thuế được cắt giảm đối với hàng hóa.



STT



Ngành



1



Nhóm tơm



2

3

4



Nhóm dệt may

Nhóm sản phẩm gỗ

Nhóm hoa quả nhiệt đới



Số dòng thuế cắt giảm

7 dòng (áp dụng hạn

ngạch thuế quan)

24 dòng

64 dòng

18 dòng

10



Kim ngạch nhập khẩu từ Hàn

Quốc (năm 2012)/ Thuế NK

hiện tại

60 triệu USD

21 triệu USD

9 triệu USD

- 10

-



5

6

7

8

9

10



(tươi, đóng hộp)

Nhóm thủy sản (đơng lạnh,

đóng hộp) gồm các mặt

hàng cá, cua (trừ mực)

Nhóm tỏi gừng (khơ, đơng

lạnh)

Nhóm rau quả và nơng sản

Mật ong

Các hàng hóa khác (café,

hóa chất, thực phẩm chế

biến…)

Tổng cộng



68 dòng



31 triệu USD



7 dòng



Thuế NK hiện tại từ 27 đến

300 – 400%

800.000 USD

Thuế NK hiện tại 243%



50 dòng

1 dòng

Các dòng còn lại

502 dòng



342 triệu USD

Nguồn: http://trungtamwto.vn



Để được hưởng ưu đãi thuế quan trong VKFTA, hàng hóa phải đáp ứng được các quy tắc

xuất xứ của Hiệp định. Tiêu chí xuất xứ Theo quy định tại Hiệp định, hàng hóa sẽ được coi là

có xuất xứ tại một Bên (Việt Nam hoặc Hàn Quốc) nếu đáp ứng được một trong các điều kiện

sau:



-



Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất khẩu;

Được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất khẩu và chỉ từ các nguyên liệu có xuất xứ;



-



hoặc

Khơng có xuất xứ thuần túy hoặc khơng được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất

khẩu nhưng đáp ứng được các yêu cầu về quy tắc xuất xứ được quy định cụ thể trong Phụ

lục về Quy tắc xuất xứ cụ thể từng mặt hàng (Phụ lục 3-A) hoặc Phụ lục về các hàng hóa

đặc biệt (Phụ lục 3-B).

Thủ tục chứng nhận xuất xứ

Về thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ ưu đãi (C/O), VKFTA vẫn áp dụng quy trình cấp



chứng nhận xuất xứ thơng qua một cơ quan có thẩm quyền do nhà nước quy định/ủy quyền

như trong các FTA ký trước đây mà Việt Nam đang thực hiện.

Mẫu C/O được đính kèm theo văn bản Hiệp định.

Đặc biệt, Hiệp định cho phép miễn nộp giấy Chứng nhận Xuất xứ đối với các hàng hóa

nhập khẩu có trị giá hải quan khơng q 600 USD (trị giá FOB), hoặc một mức cao hơn nếu

Nước nhập khẩu cho phép. Các FTA Việt Nam đã ký trước đây thường chỉ cho phép các hàng

hóa có trị giá khơng quá 200 USD được miễn nộp giấy Chứng nhận xuất xứ.”

[http://trungtamwto.vn. Mục FTA. Bài viết tóm lược Hiệp định thương mại tự do Việt Nam –

Hàn Quốc]

11



- 11

-



1.3



Sự cần thiết của việc thúc đẩy xuất khẩu SPNN Việt Nam sang thị trường Hàn

Quốc

Trong vòng hơn 20 năm qua, thương mại song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã

tăng gần 87 lần, từ 0,5 tỷ USD năm 1992 lên 43,4 tỷ USD năm 2016. Đặc biệt, hàng nông lâm

thủy sản có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu nông sản, thủy sản Việt

Nam vào thị trường Hàn Quốc đã tăng mạnh mẽ nhưng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong nhu

cầu nhập khẩu mặt hàng này của Hàn Quốc (mỗi năm, Hàn Quốc nhập khẩu khoảng 33 tỷ

USD các sản phẩm nông lâm thủy sản).[ http://kinhtedothi.vn. Mục kinh tế. Bài viết Nông sản

Việt vào thị trường Hàn Quốc: Cẩn trọng với rào cản kỹ thuật của nhà báo Thu Hương]

Thống kê từ Worlds Top Exports cũng cho thấy, năm 2016, xét về doanh số xuất khẩu,

trong 15 đối tác thương mại toàn cầu của Hàn Quốc thì Việt Nam đứng thứ 4 sau Trung Quốc,

Mỹ và Hồng Kông, với doanh thu 32,7 tỷ USD, chiếm 6,6% và là đối tác lớn nhất trong khu

vực Đông Nam Á. Những số liệu trên cho thấy, cán cân thương mại giữa Việt Nam - Hàn Quốc

khi VKFTA thực thi đang nghiêng về phía Hàn Quốc. Số liệu cập nhật từ phía Hàn Quốc còn

cho biết, mặt hàng trái cây nói riêng và mặt hàng nơng sản nói chung, người Hàn Quốc đang

sử dụng thường xuyên sản phẩm nhập từ Philippines, Mỹ và Thái Lan. Còn đối với mặt hàng

rau củ thì Trung Quốc, Mỹ, Nhật đang là những nhà cung cấp chính cho họ. Việt Nam chỉ có

thể cạnh tranh thị phần với Trung Quốc và Nhật Bản ở mặt hàng thủy sản .[

https://doanhnhansaigon.vn. Mục kinh doanh. Bài viết Xuất khẩu nơng sản vào Hàn Quốc,

cửa lớn khó qua của nhà báo Duy Khê và Đỗ Phương]

Tuy rằng, các sản phẩm nông nghiệp của chúng ta chưa là thị trường nhập khẩu lớn của

Hàn Quốc, nhưng xét tổng thể thương mại giữa hai quốc gia thì Hàn Quốc vẫn là thị trường

xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam, và Việt Nam cũng là thị trường nhập khẩu lớn thứ 6 của

Hàn Quốc. Trên thực tế, theo số liệu của tổng cục thống kê thì nước ta vẫn là nước nhập siêu từ

xứ sở kim chi này. Vì vậy, thúc đẩy các sản phẩm nông nghiệp sang Hàn Quốc là điều cần thiết

và quan trọng.

Thứ nhất cân bằng cán cân thương mại giữa hai bên. Nhiều năm qua, nước ta đều thâm

hụt cán cân thương mại với Hàn Quốc. Nhập siêu từ thị trường này là rất lớn, chúng ta chủ yếu

nhập các linh kiện điện tử, máy móc phụ tùng… Việt Nam hiện nay vẫn là nước nông nghiệp,

12



- 12

-



thế mạnh của chúng ta là các mặt hàng nơng, lâm, thủy sản vì vậy một trong các cách để giảm

thâm hụt cán cân thương mại là đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp sang Hàn Quốc.



Nguồn: Tổng cục hải quan

Biểu đồ 1.3.1: Cán cân thương mại Việt Nam – Hàn Quốc 2013- 2017



Thứ hai, tìm thị trường thay thế Trung Quốc cho các SPNN.

Trung Quốc là nước nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam. Nhưng lợi nhuận thu về

từ thị trường này không cao do các đặc điểm buôn bán với các thương nhân Trung Quốc, họ là

những người hay cháo trở. Nông dân thường bị trượt giá với kiểu thu mua của người Hoa.

Cũng vì là nước nhập khẩu số một cho các mặt hàng nông sản nên nông dân bị phụ thuộc quá

nhiều vào các nhà bn Trung Quốc. Đây cũng chính là lý do mà giá của các mặt hàng rau củ

quả thường rẻ khi xuất. Hàn Quốc cũng là một quốc gia có nhu cầu về các sản phẩm nơng

nghiệp cao. Theo KITA, tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người của nước này là

58,1kg/người/năm, mức tiêu thụ cao, cộng thêm việc người dân Hàn Quốc rất thích ăn các loại

quả như ổi, chuối, thanh long của Việt Nam. Từ đó, có thể thấy rằng người Hàn có nhu cầu về

thực phẩm nông nghiệp cao đây là cơ hội để chúng ta tìm thị trường xuất khẩu các mặt hàng

13



- 13

-



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×