Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG SẢN SANG THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG SẢN SANG THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sau cách mạng tháng Tám, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gặp vơ vàn khó khăn về

cả mặt kinh tế và xã hội. Nền kinh tế sau chiến tranh trở nên xơ xác tiêu điều, đặc biệt là nền

nông nghiệp. Đồng ruộng hoang hóa, thiên tai liên miên khiến mất mùa liên tục. Cơng nghiệp

thì lạc hậu, người dân thì đến 90% là mù chữ, quân địch thì vẫn lăm le. Tình hình lúc đó được

ví là ngàn cân treo sợi tóc. Đất nước phải đối mặt với “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”. Lúc

đó, Bác Hồ với cương vị là Chủ tịch nước đã đề nghị thực hiện trước hết phải diệt giặc đói.

Tại phiên họp 14/11/1945, Hội đồng chính phủ đã ra Quyết nghị thành lập Bộ canh nơng

với nhiệm vụ giải quyết nạn đói và soạn thảo một chương trình PTNN tồn diện phục vụ xây

dựng đất nước. Thực hiện Quyết nghị, ngày 1/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số

69 với nội dung: “Tất cả các cơ quan Canh nông, Thú y, Mục súc, Ngư nghiệp, Lâm chính và

Nơng nghiệp tín dụng (HTX và Nơng khố ngân hàng) trong tồn cõi Việt Nam thuộc từ nay

thuộc bộ canh nơng”.

Chính vì vậy, ngày 14/11/1945 có thể xem là ngày hoạt động chính thức đầu tiên của

ngành Nơng nghiệp và PTNN dưới chính thể mới – chính thể dân chủ cộng hòa và là ngày nay

là Cộng hòa XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.



b) Giai đoạn 1955 -1975



Chặng đường 20 năm (1955-1975) là thời kỳ đặc biệt của quá trình xây dựng và phát

triển ngành Nơng nghiệp nước ta, khi đất nước bị chia cắt làm hai miền, tiến hành hai chiến

lược cách mạng khác nhau, chịu nhiều thách thức to lớn trong và ngoài nước, dưới chịu ảnh

hưởng nặng nề của chiến tranh.

Trong khi nông nghiệp miền Nam phát triển không ổn định, không đáp ứng được đầy đủ

nhu cầu LTTP của xã hội, thì nơng nghiệp miền Bắc đã hồn thành vai trò mặt trận hàng đầu

trong xây dựng hậu phương lớn, chi viện đắc lực cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.

Chiến thắng vĩ đại mùa Xuân năm 1975, đất nước được độc lập, tự do, mở ra cơ hội và điều

kiện thuận lợi để khai thác tiềm năng, thế mạnh về SX nông nghiệp của cả hai miền.

c) Giai đoạn 1976 đến nay.



6



-6-



Trong giai đoạn này cả đất nước bước vào công cuộc xây dựng XHCN. Trước năm 1986

nền kinh tế đất nước là kinh tế KHHTT, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhằm phát triển SX

nhưng giai đoạn này SX nông nghiệp ở miền Bắc vẫn mang nặng tính bình qn, bao cấp; còn

ở miền Nam, phong trào hợp tác hóa phát triển nhanh nhưng khơng bền vững. Trước tình hình

đó, từ những thí điểm hình thức khốn trong SX nơng nghiệp ở Hải Phòng, Vĩnh Phú, Nghệ

Tĩnh năm 1980, Đảng, Nhà nước đã có chủ trương mở rộng hình thức khốn theo Chỉ thị 100CT/TW - chuyển sang cơ chế quản lý mới trong SX nông nghiệp trong cả nước, tạo đà cho

phát triển và đem lại hiệu quả rõ rệt, góp phần cải thiện đời sống nhân dân.

Năm 1986, đất nước chuyển đổi nền kinh tế từ kinh tế KHHTT sang nền kinh tế nhiều

thành phần Đại hội Đảng VI), Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, cơ

chế, biện pháp mới nhằm giải phóng sức SX, phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng

CNH - HĐH. Nhờ vậy, nông nghiệp, nông dân và nông thơn nước ta có những chuyển biến

mạnh mẽ.

Sau hơn 30 năm đổi mới, thành công trong lĩnh vực nông nghiệp là một trong những

thành tựu rõ rệt nhất của quá trình đổi mới kinh tế- xã hội Việt Nam thời gian qua. Từ chỗ đất

nước đang khủng hoảng lương thực nghiêm trọng, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn lương

thực của nước ngoài, nhưng đến nay chúng ta đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu các mặt

hàng nông sản nhiệt đới đứng hàng đầu thế giới, trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên

thế giới .

1.1.2



Vai trò của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Hiện nay, trong nền kinh tế nơng nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo. Việt Nam vẫn là nước

nông nghiệp, xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng nơng sản. Vì thế, nơng nghiệp có vai trò rất quan

trọng trong nền kinh tế của đất nước, được thể hiện rõ như sau:

Cung cấp LTTP cho xã hội

Các thực phẩm chúng ta ăn hàng ngày đều có nguồn gốc từ nông nghiệp. Theo Maslow,

nhu cầu sinh lý như ăn, ngủ… là nhu cầu cơ bản, hàng đầu của con người. Chúng ta có thể

khơng mua quần áo, nhưng khơng thể khơng mua thực phẩm đề duy trì sinh hoạt hằng ngày.

Mỗi ngày trung bình mỗi người phải nạp năng lượng là 2000kcal để cơ thể có thể tái tạo sức

lao động một cách tốt nhất. Vì vậy, đảm bảo cung cấp LTTP cho xã hội là quan trọng.

7



-7-



Đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành CNSX

Các ngành CN nhẹ như: “chế biến LTTP, chế biến hoa quả, công nghiệp dệt, giấy,

đường…” phải dựa vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ nông nghiệp. Sự tăng trưởng và phát

triển cũng như mở rộng quy mô của nguồn nhiên liệu đầu vào, là yếu tố quan trọng quyết định

đến tốc độ tăng trưởng, quy mô cũng như chất lượng sản phẩm của các ngành CN này.

Cung cấp một phần vốn để CNH

CNH đất nước là nhiệm vụ trung tâm trong suốt cả thời kỳ quá độ lên CNXH. Vốn là

điều kiện tiên quyết để thực hiện quá trình CNH. Với lợi thế để phát triển nơng nghiệp, nếu

chúng ta có thể tăng kim ngạch xuất khẩu các SPNN, thu về lợi nhuận thì có thể góp phần giải

quyết nhu cầu về vốn.



Đảm bảo an ninh lương thực, góp phần ổn định KT – CT.

Lương thực là một trong những hàng hóa dự trữ quan trọng của dự trữ quốc gia. Nông

nghiệp không những cung cấp đủ các LTTP nhu thiết yếu cho đời sống hàng ngày của nhân

dân, mà còn dư thừa để dự trữ. Mục đích của dự trữ quốc gia là đề phòng các trường hợp thiên

tai, mặt khác là để viện trợ nhân đạo từ đó tạo mối quan hệ chính trị tốt đẹp với nước nhận

được viện trợ. Hơn thế, LTTP xuất khẩu đem về ngoại tệ đóng góp vào GDP giúp nền kinh tế

phát triển tốt hơn.

1.1.3



Các sản phẩm của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp thì được hiểu là chăn ni trồng trọt, theo nghĩa rộng thì

được bao gồm lâm nghiệp và thủy sản. Vì vậy, các sản phẩm của ngành nơng nghiệp bao gồm

3 mặt hàng chính là nơng sản, lâm sản và thủy sản.

Sản phẩm nông sản bao gồm các sản phẩm như: Gạo, chè, hạt tiêu, rau quả, café, hạt

điều, sắn và cá sản phẩm từ sắn…..

Thủy sản bao gồm các mặt hàng chính: tơm, cá, mực, bạch tuộc…

8



-8-



Lâm sản bao gồm các mặt hàng chính: cao su, sản phẩm từ cao su, gỗ và các sản phẩm từ

gỗ.

1.2 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)

1.2.1 Giới thiệu chung về hiệp định.



“Ngày 5/5/2015, Việt Nam và Hàn Quốc đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại Tự

do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA). Hiệp định VKFTA có hiệu lực từ ngày 20/12/2015.

Hiệp định gồm 17 Chương (208 Điều), 15 Phụ lục và 01 Thỏa thuận thực thi quy định.

Các Chương chính là:

Chương về thương mại hàng hoá

Gồm các cam kết về thuế quan và các cam kết về quy tắc xuất xứ. Trong đó, các cam kết

về thuế quan nêu rõ các dòng thuế quan hai bên VN và HQ bãi bỏ cho nhau, về hạn ngạch về

thuế quan. Các cam kết về quy tắc xuất xứ chỉ rõ các tiêu chí xuất xứ, cách cộng gộp xuất xứ,

thủ tục nhân chứng xuất xứ …

Chương về thương mại dịch vụ.

Các quy định chung (gọi là cam kết lời văn) cam kết nguyên tắc: MFN, NT, tiếp cận thị

trường với các Phụ lục về Dịch vụ Viễn thơng, Dịch vụ Tài chính, Di chuyển thể nhân. Các

biểu cam kết mở cửa dịch vụ cụ thể (gọi là cam kết mở cửa thị trường)

Chương về đầu tư :

Chương về đầu tư trong VKFTA được chia làm 02 phần:

Phần A: Đầu tư, bao gồm các cam kết về nguyên tắc chung (bao gồm các định nghĩa, các

quy định chung về nghĩa vụ Đối xử quốc gia, Đối xử tối huệ quốc…); các cam kết về mở cửa

của từng Bên (Mỗi bên sẽ có một Danh mục bảo lưu các biện pháp/lĩnh vực không phải áp

dụng một số nguyên tắc đầu tư – Danh mục các biện pháp khơng tương thích) Hiện tại, Phụ lục

về Danh mục các biện pháp/lĩnh vực bảo lưu vẫn chưa được hình thành. Hai bên cam kết sẽ

tiến hành đàm phán về Danh mục này ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực và sẽ kết thúc đàm

phán trong vòng 1 năm.

Phần B: Giải quyết tranh chấp đầu tư, bao gồm phạm vi, nguyên tắc và quy trình thủ tục

giải quyết tranh chấp khi có mâu thuẫn phát sinh giữa Nhà nước của một Bên của Hiệp định và

nhà đầu tư của Bên kia. Về cơ bản, các cam kết trong Chương đầu tư phù hợp với Hiến pháp

9



-9-



và các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam như Luật Đầu tư năm 2005. Việc thực hiện

Chương này khơng đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành của pháp luật Việt

Nam. Nội dung của Chương cũng phù hợp với các nguyên tắc quy định tại Điều 3 của Luật Ký

kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế và tương thích với các cam kết quốc tế khác về đầu

tư.

Nội dung chính của hiệp định là: Cam kết về dịch vụ đầu tư, môi trường, chính sách minh

bạch, khuyến khích cạnh tranh bình đẳng, phù hợp với quy định quốc tế góp phần tăng cường

thu hút đầu tư từ Hàn Quốc vào Việt Nam. Hàn Quốc dành cho Việt Nam ưu đãi cắt, giảm thuế

quan, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với nhóm hàng nơng, thủy sản chủ lực như tơm,

cá, hoa quả nhiệt đới và hàng công nghiệp như dệt, may, sản phẩm cơ khí. Lần đầu tiên, Hàn

Quốc cửa thị trường cho sản phẩm tỏi, gừng, mật ong, tôm tạo cơ hội cho Việt Nam cạnh tranh

với các nước khác trong khu vực. Hàn Quốc cam kết tự do hóa 95,43% số dòng thuế, Việt Nam

cam kết với 89,75% số dòng thuế”.[ http://trungtamwto.vn. Mục FTA. Bài viết tóm lược Hiệp

định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc]

1.2.2



Những quy định về xuất khẩu SPNN trong hiệp định thương mại tự do Việt Nam –

Hàn Quốc

Trong hiệp định thương mại tự Việt Nam – Hàn Quốc, quy định về xuất khẩu nơng sản

nói riêng và hàng hóa nói chung phải tuân theo các cam kết về thuế quan, cam kết về xuất xứ

cụ thể như sau:

“Về cơ bản, các cam kết thuế quan trong VKFTA được xây dựng trên nền các cam kết

thuế quan trong FTA ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), nhưng với mức độ tự do hóa cao hơn.

Nói cách khác, VKFTA sẽ cắt giảm thêm một số dòng thuế mà trong AKFTA chưa được cắt

giảm hoặc mức độ cắt giảm còn hạn chế.

Bảng 1.2.2.1: Số dòng thuế được cắt giảm đối với hàng hóa.



STT



Ngành



1



Nhóm tơm



2

3

4



Nhóm dệt may

Nhóm sản phẩm gỗ

Nhóm hoa quả nhiệt đới



Số dòng thuế cắt giảm

7 dòng (áp dụng hạn

ngạch thuế quan)

24 dòng

64 dòng

18 dòng

10



Kim ngạch nhập khẩu từ Hàn

Quốc (năm 2012)/ Thuế NK

hiện tại

60 triệu USD

21 triệu USD

9 triệu USD

- 10

-



5

6

7

8

9

10



(tươi, đóng hộp)

Nhóm thủy sản (đơng lạnh,

đóng hộp) gồm các mặt

hàng cá, cua (trừ mực)

Nhóm tỏi gừng (khơ, đơng

lạnh)

Nhóm rau quả và nơng sản

Mật ong

Các hàng hóa khác (café,

hóa chất, thực phẩm chế

biến…)

Tổng cộng



68 dòng



31 triệu USD



7 dòng



Thuế NK hiện tại từ 27 đến

300 – 400%

800.000 USD

Thuế NK hiện tại 243%



50 dòng

1 dòng

Các dòng còn lại

502 dòng



342 triệu USD

Nguồn: http://trungtamwto.vn



Để được hưởng ưu đãi thuế quan trong VKFTA, hàng hóa phải đáp ứng được các quy tắc

xuất xứ của Hiệp định. Tiêu chí xuất xứ Theo quy định tại Hiệp định, hàng hóa sẽ được coi là

có xuất xứ tại một Bên (Việt Nam hoặc Hàn Quốc) nếu đáp ứng được một trong các điều kiện

sau:



-



Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất tồn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất khẩu;

Được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất khẩu và chỉ từ các ngun liệu có xuất xứ;



-



hoặc

Khơng có xuất xứ thuần túy hoặc khơng được sản xuất tồn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất

khẩu nhưng đáp ứng được các yêu cầu về quy tắc xuất xứ được quy định cụ thể trong Phụ

lục về Quy tắc xuất xứ cụ thể từng mặt hàng (Phụ lục 3-A) hoặc Phụ lục về các hàng hóa

đặc biệt (Phụ lục 3-B).

Thủ tục chứng nhận xuất xứ

Về thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ ưu đãi (C/O), VKFTA vẫn áp dụng quy trình cấp



chứng nhận xuất xứ thơng qua một cơ quan có thẩm quyền do nhà nước quy định/ủy quyền

như trong các FTA ký trước đây mà Việt Nam đang thực hiện.

Mẫu C/O được đính kèm theo văn bản Hiệp định.

Đặc biệt, Hiệp định cho phép miễn nộp giấy Chứng nhận Xuất xứ đối với các hàng hóa

nhập khẩu có trị giá hải quan không quá 600 USD (trị giá FOB), hoặc một mức cao hơn nếu

Nước nhập khẩu cho phép. Các FTA Việt Nam đã ký trước đây thường chỉ cho phép các hàng

hóa có trị giá khơng q 200 USD được miễn nộp giấy Chứng nhận xuất xứ.”

[http://trungtamwto.vn. Mục FTA. Bài viết tóm lược Hiệp định thương mại tự do Việt Nam –

Hàn Quốc]

11



- 11

-



1.3



Sự cần thiết của việc thúc đẩy xuất khẩu SPNN Việt Nam sang thị trường Hàn

Quốc

Trong vòng hơn 20 năm qua, thương mại song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã

tăng gần 87 lần, từ 0,5 tỷ USD năm 1992 lên 43,4 tỷ USD năm 2016. Đặc biệt, hàng nơng lâm

thủy sản có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu nông sản, thủy sản Việt

Nam vào thị trường Hàn Quốc đã tăng mạnh mẽ nhưng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong nhu

cầu nhập khẩu mặt hàng này của Hàn Quốc (mỗi năm, Hàn Quốc nhập khẩu khoảng 33 tỷ

USD các sản phẩm nông lâm thủy sản).[ http://kinhtedothi.vn. Mục kinh tế. Bài viết Nông sản

Việt vào thị trường Hàn Quốc: Cẩn trọng với rào cản kỹ thuật của nhà báo Thu Hương]

Thống kê từ Worlds Top Exports cũng cho thấy, năm 2016, xét về doanh số xuất khẩu,

trong 15 đối tác thương mại tồn cầu của Hàn Quốc thì Việt Nam đứng thứ 4 sau Trung Quốc,

Mỹ và Hồng Kông, với doanh thu 32,7 tỷ USD, chiếm 6,6% và là đối tác lớn nhất trong khu

vực Đông Nam Á. Những số liệu trên cho thấy, cán cân thương mại giữa Việt Nam - Hàn Quốc

khi VKFTA thực thi đang nghiêng về phía Hàn Quốc. Số liệu cập nhật từ phía Hàn Quốc còn

cho biết, mặt hàng trái cây nói riêng và mặt hàng nơng sản nói chung, người Hàn Quốc đang

sử dụng thường xuyên sản phẩm nhập từ Philippines, Mỹ và Thái Lan. Còn đối với mặt hàng

rau củ thì Trung Quốc, Mỹ, Nhật đang là những nhà cung cấp chính cho họ. Việt Nam chỉ có

thể cạnh tranh thị phần với Trung Quốc và Nhật Bản ở mặt hàng thủy sản .[

https://doanhnhansaigon.vn. Mục kinh doanh. Bài viết Xuất khẩu nông sản vào Hàn Quốc,

cửa lớn khó qua của nhà báo Duy Khê và Đỗ Phương]

Tuy rằng, các sản phẩm nông nghiệp của chúng ta chưa là thị trường nhập khẩu lớn của

Hàn Quốc, nhưng xét tổng thể thương mại giữa hai quốc gia thì Hàn Quốc vẫn là thị trường

xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam, và Việt Nam cũng là thị trường nhập khẩu lớn thứ 6 của

Hàn Quốc. Trên thực tế, theo số liệu của tổng cục thống kê thì nước ta vẫn là nước nhập siêu từ

xứ sở kim chi này. Vì vậy, thúc đẩy các sản phẩm nông nghiệp sang Hàn Quốc là điều cần thiết

và quan trọng.

Thứ nhất cân bằng cán cân thương mại giữa hai bên. Nhiều năm qua, nước ta đều thâm

hụt cán cân thương mại với Hàn Quốc. Nhập siêu từ thị trường này là rất lớn, chúng ta chủ yếu

nhập các linh kiện điện tử, máy móc phụ tùng… Việt Nam hiện nay vẫn là nước nông nghiệp,

12



- 12

-



thế mạnh của chúng ta là các mặt hàng nông, lâm, thủy sản vì vậy một trong các cách để giảm

thâm hụt cán cân thương mại là đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp sang Hàn Quốc.



Nguồn: Tổng cục hải quan

Biểu đồ 1.3.1: Cán cân thương mại Việt Nam – Hàn Quốc 2013- 2017



Thứ hai, tìm thị trường thay thế Trung Quốc cho các SPNN.

Trung Quốc là nước nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam. Nhưng lợi nhuận thu về

từ thị trường này không cao do các đặc điểm buôn bán với các thương nhân Trung Quốc, họ là

những người hay cháo trở. Nông dân thường bị trượt giá với kiểu thu mua của người Hoa.

Cũng vì là nước nhập khẩu số một cho các mặt hàng nông sản nên nông dân bị phụ thuộc quá

nhiều vào các nhà bn Trung Quốc. Đây cũng chính là lý do mà giá của các mặt hàng rau củ

quả thường rẻ khi xuất. Hàn Quốc cũng là một quốc gia có nhu cầu về các sản phẩm nông

nghiệp cao. Theo KITA, tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người của nước này là

58,1kg/người/năm, mức tiêu thụ cao, cộng thêm việc người dân Hàn Quốc rất thích ăn các loại

quả như ổi, chuối, thanh long của Việt Nam. Từ đó, có thể thấy rằng người Hàn có nhu cầu về

thực phẩm nơng nghiệp cao đây là cơ hội để chúng ta tìm thị trường xuất khẩu các mặt hàng

13



- 13

-



nông nghiệp không những thay thế cho Trung Quốc mà còn thu về nguồn ngoại tệ góp phần

làm tăng dự trữ ngoại hối của quốc gia.

Thứ ba, với thị trường khó tính này các sản phẩm phải đạt chất lượng mới có thể xuất

khẩu từ đó nâng cao năng lực cạnh trang giữa các doanh nghiệp.



14



- 14

-



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU SPNN VIỆT NAM SANG

THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC.

2.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu ở Việt



Nam

2.1.1 Các mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

a) Gạo.

Ngành sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp nước ta có những tiến bộ vượt bậc, từ một

nước có nền nông nghiệp lạc hậu sản xuất chủ yếu tự cung tự cấp. Từ một đất nước với nạn đói

cướp đi sinh mạng của hơn hàng triệu người. Thì cho đến hôm nay, Việt Nam đã vươn lên trở

thành nước xuất khẩu lớn thứ 2 trên thế giới chỉ sau Thái Lan. Những năm qua, chúng ta

không ngừng áp dụng những tiến bộ khoa học cũng như cải tiến các giống lúa để nâng cao sản

lượng lúa và chất lượng. Gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đem lại nguồn thu

lớn cho ngân sách và thu nhập cho nông dân. Dưới đây là sản lượng và trị giá xuất khẩu gạo

giai đoạn 2013 – 2017.

Bảng 2.1.1.1: Sản lượng và trị giá xuất khẩu gạo giai đoạn 2013 – 2017



Đơn vị: Sản lượng: nghìn tấn, trị giá: triệuUSD.

Năm



Sản lượng



Trị giá



2013



6580



2920



2014



6380



2960



2015



6580



2790



2016



4800



2150



2017



5078



2610

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2017



Qua bảng trên ta thấy, trị giá và sản lượng gạo năm năm gần đây đều tăng. Tuy nhiên tốc

độ tăng của trị giá không nhanh bằng tốc độ tăng của sản lượng. Như vậy, có thể thấy về mặt

giá trị thì giá cả gạo của chúng ta trên thị trường chưa được cao.



b) Hạt tiêu

15



- 15

-



Theo thống kê, Việt Nam là nước xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới. Có mặt ở trên 150

quốc gia, hồ tiêu luôn nằm trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta. Nhưng hồ

tiêu của nước ta chưa có trị giá xuất khẩu cao, nhiều lần các nông dân phải điêu đứng vì hồ tiêu

mất giá. Những năm trở lại đây, nước ta đã có những biện pháp để nâng cao kim ngạch xuất

khẩu hồ tiêu, đưa hồ tiêu Việt Nam có thương hiệu trên thế giới.

Bảng 2.1.1.2.: Sản lượng và trị giá xuất khẩu hồ tiêu giai đoạn 2013 – 2017



Đơn vị: sản lượng: nghìn tấn, trị giá: triệu USD

Năm



Sản lượng



Trị giá



2013



133



890



2014



154



1201



2015



132



1259



2016



178



1429



2017



214



1117

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2017



c) Rau củ quả

Khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện vơ cùng thuận lợi cho phát triển nơng nghiệp của

nước ta. Vì vậy, các loại cây ăn quả, rau, củ nhiệt đới được người dân trồng theo mùa vụ và

quanh năm không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng mà còn có giá trị xuất khẩu đem lại nguồn

thu cho người dân. Đây cũng là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta.

Bảng 2.1.1.3: Trị giá xuất khẩu rau củ quả giai đoạn 2010 – 2017



Đơn vị: triệu USD

Năm



Trị giá



2013



1073



2014



1488



2015



2397



2016



2461



2017



3051

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2017



Trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu thì đây là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao

nhất. Do đặc điểm về tự nhiên và khí hậu mà nước ta trồng được nhiều loại rau quả nhiệt đới

16



- 16

-



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG SẢN SANG THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×