Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.11: Đồ thị hàm lượng kháng thể LMLM ở bò của các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa (khi tiêm vắc xin Aftopor lần 2, lần 3)

Hình 3.11: Đồ thị hàm lượng kháng thể LMLM ở bò của các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa (khi tiêm vắc xin Aftopor lần 2, lần 3)

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Tại thời điểm 120 ngày sau tiêm vắc xin Aftopor lần 2 và 3, tỷ lệ bò có

kháng thể vẫn là 100%. Số con có hiệu giá kháng thể bảo hộ là 6 con, chiếm tỷ lệ

50,00%. Số con có hiệu giá kháng thể đạt 1/128 là 6 con, chiếm tỷ lệ 60,00%.

Khơng có con nào đạt hiệu giá kháng thể cao > 1/256. Có 3 con đạt hiệu giá kháng

thể 1/64, chiếm tỷ lệ 25,00%% và 3 con có hiệu giá chỉ đạt 1/32, chiếm 25,00%.

Như vậy, trâu và bò có kháng thể trước khi tiêm vắc xin lần 2 và lần 3 có đáp

ứng miễn dịch tốt. Tuy nhiên sau 120 ngày thì tỷ lệ bảo hộ đã giảm mạnh, chỉ còn

55,00%. Vì vậy, theo khuyến cáo của nhà sản xuất thì định kỳ 6 tháng 1 lần tiêm

vắc xin LMLM nhắc lại là hợp lý.

Từ kết quả ở bảng 3.11, bảng 3.12, bảng 3.13 và bảng 3.14, chúng tơi có kết

luận: trâu, bò có và khơng có kháng thể trước khi tiêm vắc xin đều có đáp ứng miễn

dịch tương đối tốt, tỷ lệ bảo hộ trung bình đạt 93,46% sau khi tiêm 21 ngày và

38,61% sau khi tiêm vắc xin 120 ngày.

Theo kết quả nghiên cứu của Alex Eggen (2002) [39] trên trâu, bò sau khi

tiêm vắc xin 21 ngày, tỷ lệ bảo hộ đạt 97,5% và 92,5% . Kết quả ở Thái Bình cao

hơn kết quả của chúng tơi khơng nhiều và có thể được giải thích là do bảo quản vắc

xin ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa chưa được tốt. Tuy nhiên, sau khi tiêm

vắc xin lần 2 được 120 ngày thì tỷ lệ bảo hộ ở Phú Thọ đạt 90%, kết quả này cao

hơn rất nhiều so với tỷ lệ bảo hộ sau khi tiêm vắc xin được 120 ngày của chúng tơi

(38,61%). Từ đó chúng tơi có một số nhận xét:

+ Tiêm phòng nhắc lại (sau 30 ngày) là cực kỳ quan trọng nhằm kích hoạt hệ

thống miễn dịch và duy trì khả năng bảo hộ ở mức cao.

+ Chương trình phòng bệnh bằng vắc xin có hiệu quả, cần gây miễn dịch cho

động vật mẫn cảm với bệnh LMLM lần đầu bằng 2 liều tiêm với khoảng cách 28 –

30 ngày. Liều bổ sung sau đó nên theo một lịch trình thường là 6 tháng 1 lần.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN



http://www.lrc.tnu.edu.vn



KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1. Kết luận

Từ những kết quả nghiên cứu đã trình bày ở trên, chúng tôi rút ra một số kết

luận như sau:

- Trong 6 năm (2010 - 2015) dịch LMLM đã liên tục xảy ra ở các huyện miền

núi tỉnh Thanh Hóa. Bệnh LMLM đã có 82/202 xã, phường, thị trấn (chiếm 40,6%),

riêng năm 2012 khơng có dịch (bảng 3.1).

- Tỷ lệ mắc bệnh LMLM bình qn của trâu, bò là 0,058%/ năm; tính riêng

trâu là 0,038% năm, bò là 0,103% năm.

- Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm cao nhất là năm 2010

(0,16%), đến năm 2015 và 2014 (0,046 – 0,029%) và thấp nhất năm 2012 khơng có

dịch (0%) ở bảng 3.2a.

- Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa thì mùa đơng cao nhất (0,162%),

đến mùa xuân (0,53%), mùa thu (0,004%) và mùa hạ khơng có ca nào xảy ra (bảng

3.3d).

- Trâu, bò mắc bệnh nhiều ở lứa tuổi trên 5 tháng tuổi (67,98% ở trâu, 70,4%

ở bò) ở bảng 3.4c.

- Tỷ lệ trâu, bò chết cao nhất ≤ 2 tháng tuổi (15,38%), đến > 2 – 5 tháng tuổi

(2,55%) và cuối cùng là >5 tháng tuổi (2,01%) ở bảng 3.5, trong đó mùa đông và

mùa xuân chết nhiều (2,82 – 2,97%) tập trung vào 2010, 2013, 2014 (3,84 – 4,69)

- Tỷ lệ trâu, bò dương tính huyết thanh học với kháng ngun 3ABC-KIT

trung bình 3 huyện điều tra ( Thạch Thành, Lang Chánh, Quan Sơn) là 37,78%.

- Hiệu giá kháng thể sau tiêm phòng ở trâu, bò lần 1 đều thấp hơn trâu, bò

tiêm lần 2, lần 3 ở 90 ngày và 120 ngày sau tiêm phòng; ở trâu sau 90 ngày và 120

ngày tiêm phòng tỷ lệ này cao hơn bò, 60 – 80% so với bò 50 – 70%.

- Từ năm 2010 - 2015, tại các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, chủ yếu lưu

hành type vi rút LMLM là type O và type A .

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN



http://www.lrc.tnu.edu.vn



- Đã vẻ được bản đồ phân bố bệnh LMLM tại các huyện miền núi tỉnh Thanh

Hóa. (bản đồ phần phụ lục)



2. Đề Nghị

- Việc tiêm phòng vắc xin LMLM phải thực hiện nghiêm túc các chương

trình Thú y Quốc Gia.

- Cơng tác giám sát tiêm phòng cần phải làm tốt hơn nữa.

- Tăng cường báo cáo dịch bệnh đến tận thơn, xóm. Thu thập đầy đủ các

thơng tin dịch tễ, xây dựng kế hoạch giám sát lưu hành vi rút LMLM tại địa phương

nhằm phân tích, dự báo, đánh giá các yếu tố nguy cơ làm phát sinh dịch LMLM trên

địa bàn. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong triển khai phòng chống dịch LMLM

đạt hiệu quả cao.

- Tăng cường công tác kiểm dịch động vật, kiểm sốt giết mổ trên địa bàn,

đặc biệt là cơng tác kiểm tra giám sát khi nhập trâu, bò giống về nuôi tại địa

phương.

- Đảm bảo chọn con giống rõ nguồn gốc, đạt chất lượng và đã được tiêm

phòng vắc xin LMLM, có giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển động vật.

- Đề nghị các năm tiếp theo nên cho tiêm phòng vắc xin nhị giá AFTOVAC

type 0 – A cho tồn bộ các huyện.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN



http://www.lrc.tnu.edu.vn



TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tài liệu tiếng Việt

1. Bùi Quang Anh, Hồng Văn Năm (2001), “Tình hình bệnh lở mồm long móng

tại Đơng Nam Á và thế giới năm 2000”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y,

tập VIII, (2), tr. 90 - 93.

2. Báo cáo tổng kết năm – Chi cục Thú y Thanh Hóa, năm 1999, 2000, 2001, 2002,

2003, 2004, 2005 , 2006 ,2007 ,2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014,

Thanh Hóa.

3. Báo cáo tổng kết năm – Cục Thú y, năm 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008,

2009, 2010, 2011, 2012, 2013, Hà Nội.

4. Báo cáo cơng tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, Thủy sản năm 2014

và Kế hoạch năm 2015. Cục Thú y.

5. Trần Hữu Cổn (1996), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh LMLM trâu bò ở

Việt Nam và xác định biện pháp phòng chống thích hợp, Luận án Phó tiến

sĩ khoa học Nông nghiệp, tr. 14 - 17.

6. Lê Minh Chí (1993), “Bệnh lở mồm long móng”, Cục thú y.

7. Lê Minh Chí (1996), “Báo cáo tổng kết cơng tác phòng chống dịch lở mồm long

móng năm 1995”, Cục thú y.

8. Lê Minh Chí (2000), “Báo cáo tổng kết cơng tác phòng chống dịch lở mồm long

móng năm 1999 – 2000”, Cục thú y.

9. Chi cục Thú y tỉnh Thanh Hóa ( 2014)" Tổng kết cơng tác Thú y năm 2013 Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2014".

10. Hồ Đình Chúc, Ngơ Thành Long (2003), “Phát hiện trâu bò nhiễm vi rút lở

mồm long móng bằng kít ELISA CHEKIT-FMD-3ABC”, Tạp chí Khoa

học Kỹ thuật Thú y, tập X, (3), tr. 14 - 16.



11. Cục Thú y (2003). Sổ tay phòng chống bệnh lở mồm long móng gia súc,

Nxb Nơng nghiệp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN



http://www.lrc.tnu.edu.vn



12. Cục Thú y (2005), “Chương trình Quốc Gia khống chế và thanh tốn bệnh lở

mồm long móng giai đoạn 2006 - 2010”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y,

tập XIII, (1), tr. 1 - 51.

13. Cục Thú y (2009), “Báo cáo dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản năm 2008 và

các biện pháp phòng chống dịch năm 2009 – 2010”.



14. Cục Thú y (2011). Chương trình Quốc Gia khống chế và thanh tốn

bệnhlở mồm long móng giai đoạn 2011-2015.

15. Cục Thú y. Trang Web của Cục Thú y - Bộ Nông nghiệp & Phát triển

nông thôn. http://www.cucthuy.gov.vn

16. Đào Trọng Đạt (2000). "Góp phần vào việc đấu tranh phòng chống bệnh

lở mồm long móng". Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y 7, 6-7.

17. Phan Đình Đỗ, Trịnh Văn Thịnh (1957), Bệnh truyền nhiễm gia súc (những bệnh

thường có ở Việt Nam), tập I, Nxb Nông thôn, tr. 117 - 170.

18. Phan Đình Đỗ, Trịnh Văn Thịnh (1958), Bệnh truyền nhiễm gia súc (những bệnh

thường có ở Việt Nam), tập II, Nxb Nông thôn, tr. 79 - 115.

29. Nguyễn Tiến Dũng (2000), “Bệnh lở mồm long móng (bài tổng hợp)”, Tạp chí

Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập VII, (3), tr. 8 - 16.

20. Nguyễn Tiến Dũng (2010), “Yếu tố nguy cơ và các chỉ số OR, RR, PR trong

dịch tễ học”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XVII, (1), tr. 82 - 88.

21. Alex Eggen, International Marketing Manager- Intervet International b.v.

(2002). Kết quả thử nghiệm vắc xin Decivac FMD DOE trên trâu, bò và

phương pháp mới chẩn đoán bệnh LMLM. Hội thảo ngày 25/04/2002, Huế

- Việt Nam.

22. Nguyễn Văn Hưng (2011). Nghiên cứu sự phân bố và lưu hành của vi rút lở

mồm long móng ở vùng Duyên hải miền Trung, Luận án Tiến sỹ khoa học

Nông nghiệp, Viện thú y, Hà Nội.

23. Nguyễn Viết Không, Nguyễn Văn Hưng, Lê Thắng, Trương Văn Dung, Trần

Thị Thanh Hà, Trương Quang Lâm và Trịnh Quang Đại (2006), “Phát hiện

type Asia 1 vi rút LMLM lần đầu tiên tại Khánh Hòa bằng kỹ thuật RTPCR”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XIII, (4), tr. 97 - 98.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN



http://www.lrc.tnu.edu.vn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.11: Đồ thị hàm lượng kháng thể LMLM ở bò của các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa (khi tiêm vắc xin Aftopor lần 2, lần 3)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×