Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bài viết tập làm văn số 1 - ngữ văn lớp 10 đề: Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơ hoặc tác phẩm văn học mà anh (chị) yêu thích. Sau đây, tech12h gửi đến cho bạn đọc những bài văn mẫu hay nhất, mời các bạn cùng tham khảo.

Bài viết tập làm văn số 1 - ngữ văn lớp 10 đề: Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơ hoặc tác phẩm văn học mà anh (chị) yêu thích. Sau đây, tech12h gửi đến cho bạn đọc những bài văn mẫu hay nhất, mời các bạn cùng tham khảo.

Tải bản đầy đủ - 0trang





Kết bài: Trong loại thơ nhìn trăng mà thổ lộ tâm tình nhớ q, bài có khn khổ nhỏ nhất, ngơn

từ đơn giản tinh khiết nhất và cũng có ma lực truyện tụng rộng nhất chính là Tĩnh dạ tứ.

Bài làm



Lí Bạch là nhà thơ nổi tiếng của thơ ca lãng mạn cổ điển Trung Hoa. Nhắc tới ông, người đời thường

nhớ đến những vần thơ trữ tình bay bổng có vẻ đẹp lạ kì. Có thể nói, thơ Lí Bạch tràn ngập ánh trăng.

Thuở nhỏ, Lí Bạch thường lên núi Nga Mi để ngắm trăng cho rõ. Vì thế hình ảnh Trăng nửa vành thu trên

đỉnh Nga Mi đã in sâu vào tâm khảm nhà thơ, trở thành một trong những biểu tượng của quê hương Tứ

Xuyên mà nhà thơ thương nhớ suốt cuộc đời.

Ở tuổi 25, Lí Bạch đã xa q và xa mĩa, nhưng hình bóng q hương ln in đạm trong tâm khảm ơng.

Vì thế mà trên bước đường lữ thứ tha phương, mỗi lần ngắm trăng sáng là ơng lại chạnh lòng nhớ q

và chỉ biết gửi gắm tâm sự vào những vần thơ. Bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh được Lí Bạch sáng

tác trong một hoàn cảnh như vậy.

Đầu giường ánh trăng rọi

Ngỡ mặt đất phủ sương

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

Cúi đầu nhớ cố hương

Chủ đề của bài thơ là trông trăng nhớ quê (vọng nguyệt hoài hương). Đây là chủ đề quen thuộc trong thơ

cổ, không chỉ ở Trung Quốc mà cả ở Việt Nam, song cách thể hiện của Lí Bạch thật độc đáo. Với những

từ ngữ đơn giản mà chắt lọc, bài thơ đã thể hiện tình cảm tha thiết với quê hương của nhà thơ.

Bức tranh được phác họa trong bài thơ là cảnh đêm trăng thanh tĩnh. Nỗi cơ đơn trên đất khách q

người khiến cho Lí Bạch trằn trọc, thao thức, khơng sao ngủ được. Ơng muốn chia sẻ tâm sự với vầng

trăng - người bạn không lời nhưng gắn bó với ơng suốt đời và được ông coi là tri âm, tri kỉ.

Kể từ độ cất bước ra đi, suốt mấy cục năm trường, Lí Bạch làm sao nhớ nổi bao nhiêu lần mình ngắm

trăng?! Trăng lung linh rải ánh vàng, ánh bạc trên sông hồ. Trăng buồn tê tái nơi quan ải. Trăng nhạt

nhòa, huyền ảo trên mặt đất mênh mơng... Đã có lần, thi sĩ uống rượu dưới trăng: Cất chén mời trăng

sáng, Ta với bóng là ba. Đêm nay, trên đất khách, ánh trăng rọi sáng vào tận đầu giường như tìm đến với

bạn tri âm, như muốn chia sẻ cho vơi bớt nỗi cô đơn đang vây phủ tâm hồn thi sĩ:

"Đầu giường ánh trăng rọi

Ngỡ mặt đất phủ sương"

(Sàng tiền minh nguyệt quang

Nghi thị địa thượng sương)

Đây là bài thơ tứ tuyệt tường đối dễ hiểu. Song đơn giản, dễ hiểu khơng có nghĩa là hời hợt, nơng cạn.

Ngơn ngữ thơ ca bao giờ cũng chọn lọc và tinh luyện.

Trong hai câu thơ đầu, ta đã thấy thấp thống bóng dáng nhân vật trữ tình. Ánh trăng dù đẹp đẽ và tràn

ngập nơi nơi nhưng vẫn chỉ là đối tượng để thi sĩ cảm nhận.



Đêm khuya trăng sáng, nhà thơ trằn trọc khơng ngủ hoặc cũng có thể là đã ngủ rồi chợt tỉnh dậy và

không ngủ lại được. Để tả trạng thái mơ màng ấy thì dùng chữ nghi (ngỡ là) và chữ sương là hợp lí. Ánh

trăng trắng đục giống như sương là điều có thật mà trước Lí Bạch mấy trăm năm, nhà thơ Tiêu Cương

đã viết: Dạ nguyệt tự thu sương (Trăng đêm giống như sương thu).

Chi tiết trăng rọi sáng đầu giường là thực; còn ngỡ mặt đất phủ sương là ảo. Nhà thơ nhìn ánh trăng mà

ngỡ là sương bởi ánh trăng được nhìn qua làn nước mắt nhớ thương, sầu muộn đang rướm quanh mi.

Nỗi cô đơn tột đỉnh đang thấm lạnh cả tâm tình khiến sương dâng trong hồn, sương giăng trước mắt.

Đọc hai câu thơ này, ta hiểu đằng sau từng chữ là cảm xúc bâng khuâng, da diết đang trỗi dậy trong lòng

thi sĩ.

Trong thơ cổ có một biểu tượng truyền thống là trăng. Vầng trăng tròn tượng trưng cho sự viên mãn

đồn tụ. Cho nên trăng càng sáng, càng tròn thì kẻ xa quê lại càng nhớ quê. Hình ảnh vầng trăng cô đơn

trên vầng trời thăm thẳm trong đêm khuya thanh tĩnh thường gợi nên nỗi sầu xa xứ. Ánh trăng thu bàng

bạc trong đêm lạnh lại càng khêu gợi tâm trạng buồn thương.

Đêm khuya, thi sĩ trằn trọc không sao ngủ được. Mở mắt thấy ánh trăng rọi sáng đầu giường, mừng như

gặp lại cố nhân sau bao ngày xa cách. Nhưng mới nhìn thấy ánh tẳng bàng bạc như phủ sương trên mặt

đất chứ chưa thấy trăng, nhà thơ cố tìm bằng được vầng trăng quen thuộc:

"Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

Cúi đầu nhớ cố hương"

(Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương)

Chỉ có ba chữ tả tình trực tiếp: tư cố hương, còn lại đều tả cảnh, tả người: cử đầu, vọng minh nguyệt, đê

đầu. Ngay trong tả cảnh, tình người vẫn thể hiện rất rõ. Nỗi nhớ quê hương đã được thể hiện qua hành

động.

Khi thấy vầng trăng cũng đơn cơi, lạnh lẽo như mình, một nỗi ngậm ngùi, chua xót bất chợt dâng lên

trong lòng, thi sĩ cúi đầu tưởng nhớ quê hương. Cái dáng ngồi bất động, chìm đắm trong suy tư ấy cho

thấy tình cảm quê hương của nhà thơ sâu nặng biết chừng nào!

Với bài thơ Tĩnh dạ tư, nếu chỉ nói tác giả "xúc cảnh sinh tình" thì khơng đủ. "Tình" ở đây vừa là nhân,

vừa là quả: Lí Bạch nhớ quê, thao thức nhìn trăng sáng. Nhìn trăng sáng lại càng nhớ quê! Vọng minh

nguyệt, tư cố hương thật ra chỉ là sự diễn đạt cụ thể hơn thành ngữ vọng nguyệt hồi hương dùng đã

sáo mòn trong văn thơ cổ. Sáng tạo của Lí Bạch là đã đưa thêm vào hai cụm từ đối nhau: cử đầu và đê

đầu, để thể hiện cách vọng minh nguyệt và tư cố hương của mình. Những hành động ấy đều chất chứa

tâm tư.

Hai câu thơ sau đối ý, đối thanh thật chỉnh. Nhà thơ đã sáng tạo trên cơ sở một câu dân ca quen thuộc:

Ngưỡng đầu khán minh nguyệt (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng), chỉ thay từ ngưỡng bằng từ cử, từ khán

bằng từ vọng. Câu thơ của Lí Bạch là: Cử đầu vọng minh nguyệt. Cũng vẫn giống nhau ở tư thế ngẩng

đầu nhìn trăng sáng nhưng cái nhìn trong câu dân ca mang tính khách quan, còn cái nhìn trong thơ Lí

Bạch lại đậm tính chủ quan. (Khán: nhìn, ý nghĩa trung hòa. Vọng: nhìn xa, ý nghĩa biểu cảm). Vọng minh

nguyệt là cố nhìn ra xa để thấy cho rõ vầng trăng sáng. Tình cảm thiết tha của nhà thơ gửi gắm cả trong

từ vọng ấy và chỉ trong khoảnh khắc, cái tư thế Ngẩng đầu nhìn trăng sáng đã chuyển thành Cúi đầu nhớ

cố hương. Hai tư thế đối lập nhua nhưng cùng thể hiện một tâm trạng. Niềm vui trước đêm trăng sáng có

thể là dạt dào vô tận nhưng nỗi nhớ cố hương cũng day dứt khôn nguôi! Ánh trăng sáng đêm nay là tác



nhân gợi nhớ đến vầng tẳng xưa trên quê cũ thuở nào. Quả là nỗi nhớ quê huwong thiết tha, khắc

khoải... ln ám ảnh trong lòng Lí Bạch.

Câu thơ cuối mở ra một thế giời mênh mang và phức tạp của tâm trạng. Có bao điều mà nhà thơ muốn

gửi gắm vào hai chữ cố hương. Cố hương là quê cũ, là dĩ vãng đầy áp kỉ niệm của tuổi hoa niên. Cố

hương là mảnh đất chôn nhua cắt rốn, là nơi có những người thân yêu nhất của ta đang sống hoặc dã

gửi nắm xương tàn. Đối với kẻ tha phương, cố hương là một cái gì đó rất đỗi thiêng liêng mà mỗi khi

nhắc tới lại cảm thấy trĩu nặng trong lòng, trĩu nặng cả mái đầu đã pha sương sau nửa đời lênh đênh, lưu

lạc.

Bố cục bài thơ hết sức chặt chẽ, thể hiện tài năng của nhà thơ. Hai câu đầu diễn đạt ý: Ngỡ anh trăng

đầu giường là sương phủ trên mặt đất. Nghi là động từ liên kết ý của hai dòng thơ. Ngồi ra các động từ

khác (cử, vọng, đê, tư) đều đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc liên kết các câu trong bài. Giữa

các động từ có quan hệ chặt chẽ: Nghi (thị địa thượng sương) - Cử (đầu) - vọng (minh nguyệt) - Đê (đầu)

- tư (cố hương).

Trong bốn câu thơ, tuy các chủ ngữ đều bị lược bỏ nhưng nguười đọc vẫn có thể nhận ra chủ thể trữ tình

là tác giả. Điều đó tạo nên tính thống nhất, liền mạch trong cảm xúc thơ.

Về mặt ngữ pháp, có thể xem đây là một hình thức câu thu gọn. Trong thơ, việc lược bỏ chủ ngữ - đặc

biệt là đại từ xưng hô ngôi thứ nhất làm cho sức cộng hưởng của thơ tăng lên rất nhiều. Ở Tĩnh dạ tư, ta

có thể hiểu chủ thể trữ tình là Lí Bạch, nhưng cũng có thể là bất cứ ai khác. Trong điều kiện xã hội tương

tự, ở những tình huống tương tự, với quan niệm sống và vốn văn hóa tương tự thì đều có thể xuất hiện

cảm nghĩ tương tự. Đó chính là tính chất điển hình của cảm xúc trong thơ trữ tình.

Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Tĩnh dạ tư giản dị, tự nhiên, âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Tài thơ Lí Bạch là

"tuyệt diệu ở chỗ đạm bạc". Hay như nhận xét của Hồ Ứng Lân, một nhà phê bình đời Minh: Thuận

miệng nói ra mà thành tho, tuyệt khơng có dụng ý dụng cơng, song khơng có chỗ nào là khơng tinh xảo.

Qua bài thơ này, Lí Bạch đã bộc lộ nỗi nhớ quê hương da diêt. Tình cảm chân thực và sâu đậm ấy thực

sự đã gây xúc động cho người đọc, truyền đến chúng ta nỗi thổn thức, bâng khng khó tả. Tình cảm

q hương ngày nay mặc dù đã mang những nét mới của thời đại song những bài thơ trữ tình xuất sắc

về quê hương của các nhà thơ trong quá khứ vẫn tạo được sự cộng hưởng sâu xa, vẫn có tác dụng thiết

thực trong việc bồi dưỡng, xây dựng nhân cách con người.

Trương Minh Phi, một nhà phê bình thơ Đường đã nhận xét bài thơ này như sau: "Trong loại thơ nhìn

trăng mà thổ lộ tâm tình nhớ q, bài có khn khổ nhỏ nhất, ngôn từ đơn giản tinh khiết nhất là Tĩnh dạ

tứcủa Lí Bạch, song bài có ma lực lớn nhất, được truyền tụng rộng rãi nhất cũng là bài Tĩnh dạ tứ ấy".

Back to top



Bài mẫu 2: Cảm nghĩ về bài thơ - Sang thu (Hữu Thỉnh)

Dàn bài





Mở bài: Giới thiệu bài thơ "sang thu" của Hữu Thỉnh. Bài thơ đã diễn tả một cách tinh tế, sâu sắc

những cảm nhận tế vi của mình trong thời khắc giao mùa khi thu sang.







Thân bài:

o



Mùa thu của Hữu Thỉnh khoác lên mình một chiếc áo mới, trong khơng gian quen thuộc

của làng quê Bắc Bộ,







o



Khổ đầu, Hữu Thỉnh đã đưa con tàu khơng gian của mình ngao du trong khơng gian tinh

tế của làng quê lúc sang thu



o



Khổ thứ hai là sự cảm nhận tinh tế của thiên nhiên mùa thu trong khơng gian đất trời....



o



Bài thơ có thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp linh hoạt, giọng điệu tự nhiên, nhẹ nhàng,

ngơn ngữ hình ảnh trong sáng, tinh tế giàu sức gợi, sức biểu cảm...



o



Hữu Thỉnh đã gửi đến người đọc một bức tranh thiên nhiên lúc sang thu thật sự đẹp, thật

duyên, thật tinh tế của một tâm hồn yêu thiên nhiên, quê hương tha thiết.



Kết bài: Sang Thu của Hữu Thỉnh đã góp một tiếng nói riêng, đằm thắm vào một góc sang thu.

Bài làm



Mỗi tác phẩm đều để lại những dòng chảy qua tâm hồn ta, bồi đắp cho ta những tình cảm cao quý,

thiêng liêng của tâm hồn con người, để từ đó hướng ta đến thế giới của chân thiện mĩ. Và trong cái tháp

ngà văn chương ấy, trong cái mùa thu là thơ của đất trời, thơ là thu của hồn người tôi vẫn bị ám ảnh bởi

những vần thơ của Hữu Thỉnh trong bài Sang Thu. Bài thơ đã diễn tả một cách tinh tế, sâu sắc những

cảm nhận tế vi của mình trong thời khắc giao mùa khi thu sang.

Mở đầu bài thơ, Hữu Thỉnh đã đưa con tàu không gian của mình ngao du trong khơng gian tinh tế của

làng q lúc sang thu. Một hồn thơ tinh tế được bộc bạch, góp phần làm tăng thêm tình u thiên nhiên,

q hương:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về.”

Vẫn là mùa thu ấy, mùa thu đã làm say đắm suối rượu nguồn tình của bao thi nhân, từ Tam thu bất biến

của cụ Tam Nguyên Yên Đổ, hay Thu Hứng của Đỗ Phủ đến Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, là một lần

người đọc được khám phá những đắc sắc và hương vị riêng của mùa thu. Đến Hữu Thỉnh, mùa thu lại

khốc lên mình một chiếc áo mới, trong khơng gian quen thuộc của làng quê Bắc Bộ, nhà thơ bỗng tinh

tế nhận ra mùi hương ổi chín. Đó là mùi vị ngọt ngào, nồng nàn thanh mát của quê hương, của những

tâm hồn đã chắt chiu vun trồng nên hương ổi. Dó là hương vị que thuộc, bình dị gợi nhắc đến màu thu

quê hương. Không phải là lá ngơ đồng như trong thơ cảu Bích Kh, cũng khơng phải là hương cốm

trong bài Đất Nước của Nguyễn Đình Thi, bằng cảm nhận và tình yêu quê tha thiết, hương ổi đã phả vào

tâm hồn nhà thơ, đánh thức những ảm nhận riêng để ngỡ ngàng nhận ra mùa thu đã đặt chân xuống trần

gian tuyệt diệu. Nhưng hương ổi mạnh mẽ, ngọt ngào phả vào trong gió se, càng làm quyện đọng vị ngọt

và sánh mịn của hương ổi. Nhưng Hữu Thỉnh cũng cho ta những cảm nhận về đám mây khi thu chớm

sang: “sương chùng chình qua ngõ.”

Hữu Thỉnh lại tiếp tục gây ấn tượng với người đọc bởi những chất liệu để làm nên trang hoa, tờ hoa của

Sang Thu. Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất, là sắc đẹp của nữ hoàn nghệ thuật để làm quen với độc giả, và

nhà thơ thu của chúng ta đã sáng tạo tài tình được ngơn ngữ giàu sức gợi qua từ “chùng chình”, diễn tả

vẻ đẹp mộng mơ, duyên dáng và yêu kiều như nàng thiếu nữ đang e ấp duyên dáng bao quanh xóm

làng. Cảnh vật khơng gian làng q ngập chìm trong màn sương khói mờ ảo, giăng mắc như làm thiên

nhiên thêm huyền ảo, lung linh hơn. Một bức tranh thủy mặc như được tạc dựng. Và trước hương ổi

trong gió se, trước đám mây chùng chình kia, thi nhân của chúng ta ngỡ ngàng “Hình như thu đã về”. Từ

“hình như” diễn tả tâm trạng bâng khuâng, man mác của nhà thơ, cũng như vẻ ngờ ngợ không dám tin

rằng thu đã về đấy rồi. Đó là sự luyến tiếc của âm hồn thi nhân, vừa ngỡ ngàng với thu sang, vừa luyến

tiếc khi hạ đã rời đi. Quả là một tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết.



Sang đến khổ thơ tiếp theo, là sự cảm nhận tinh tế của thiên nhiên mùa thu trong không gian đất trời. Sự

tinh tế và tấm lòng khát khao giao cảm, muốn nắm bắt sự thay đổi của vạn vật đã được bộc lộ rõ:

“ Sơng được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu.”

Sự tinh tế của tác giả tiếp tục được khơi nguồn bằng những cảm hứng rất riêng về thiên nhiên đất trời khi

thu sang. Dòng sơng mùa thu khơng còn vẻ vội vàng, gấp gáp và chảy xiết như trong những ngày hạ,

sông êm đềm, tĩnh lặng, n ả uốn mình hiền hòa sau lũy tre xanh xanh của làn quê. Những cánh chim

bắt đầu, cho thấy sự quan sát rát tinh của Hữu Thỉnh khi nhận ra sự chuyển dời của đàn chim tìm nơi trú

ẩn cũng là dấu hiệu nhắc thu sang. Và đám mây kia chính là điểm nhấn cho nền trời, cho bức tranh thiên

nhiên quyến rũ, xinh tươi ấy. Đám mây vắt nửa mình, dường như cũng đang chứa đựng sụ lưu luyến, bịn

rịn. Đám mây giống như cây cầu nối liền giữa mùa hạ và mùa thu để ngân rung mãi lên một nhịp riêng

của đất trời, nhịp giao thời, nhịp chuyển mùa. Thu sang trong bao nhiêu của thi ca muôn thuở, nay trở về

trong những câu thơ ủa Hữu Thỉnh sao vẫn đắm đuối, si mê lòng người như thế. Vậy là mùa thu trong

khơng gian làng quê được cảm nhận mới tinh tế và nên thơ làm sao. Chỉ có thể yêu thiên nhiên lắm, Hữu

Thỉnh mới vẽ nên một bức tranh thật đẹp, thật duyên đến vậy.

Nhưng những cảm nhận tinh tế, những ngôn ngữ giàu sức gọi chưa phải là yếu tố đủ để Hữu Thỉnh làm

nên giá trị cho bài thơ của mình, bởi giá trị của một tác phẩm trước hết ở giá trị tư tưởng của nó, và một

lần nữa những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà thơ về cuộc đời mỗi con người lại khẳng định tài năng và

tấm lòng của nhà thơ:

“Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”.

Không chỉ bằng tài năng và kĩ thuật, Hữu Thỉnh còn có một trái tim trìu máu đất và những tháng năm kinh

nghiệm cuộc đời đã gửi đến cho người đọc những chiêm nghiệm sâu sắc về nhân sinh Hữu thỉnh đã gửi

đến chúng ta những thông điệp thật ý nghĩa. Hình ảnh “nắng, mưa, sấm” là biểu tượng cho những sóng

gió, thăng trầm của cuộc đời mà con người đã trải qua, khi đã đi qua bao nhiêu nắng mưa, bao nhiêu

giông tố, con người dường như cũng trở nên điềm đạm, bình tĩnh hơn trước những thử thách, trông gai

của cuộc đời. Con người khi trưởng thành “hàng cây đứng tuổi” sẽ khơng còn những bồng bột, sơi nổi và

sự liều lĩnh của tuổi tre mà sẽ lắng mình xuống để suy ngẫm và chiêm nghiệm, cũng sẽ khơng để những

sóng gió cuộc đười quật ngã mỗi bước đi. Phải chăng đó cũng chính là thơng điệp sâu sắc mà Hữu thỉnh

gửi gắm.

Thế là một lần nữa, quê hương và thiên nhiên thu sang tươi đẹp lại được khốc lên mình tấm áo mới

qua cách sáng tạo của Hữu Thỉnh. Với thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp linh hoạt, giọng điệu tự nhiên,

nhẹ nhàng, ngơn ngữ hình ảnh trong sáng, tinh tế giàu sức gợi, sức biểu cảm, Hữu Thỉnh đã gửi đến

người đọc một bức tranh thiên nhiên lúc sang thu thật sự đẹp, thật duyên, thật tinh tế của một tâm hồn

yêu thiên nhiên, quê hương tha thiết. “Sang Thu” của Hữu Thỉnh đã góp vào bản hoà ca mùa thu của quê

hương, đất nước một tiếng nói riêng, đầy thi vị, ám ảnh, xúc động.

Mỗi mùa lại có những hương sắc riêng và mỗi bài thơ, mỗi tài năng văn học đã góp phần làm nên điều

ấy. Sang Thu của Hữu Thỉnh đã góp một tiếng nói riêng, đằm thắm vào một góc sang thu.

Back to top



Bài mẫu 3: Cảm nghĩ về bài thơ - Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)



Dàn bài





Mở bài: Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một bài thơ trong trẻo, thiết tha. Nó là tiếng lòng

của nhà thơ và cũng là của tất cả những ai ham mê cái cuộc sống trần gian rất đẹp đẽ này.







Thân bài:







o



Mùa xuân nho nhỏ ra đời khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh.



o



Với thể thơ 5 chữ, với cách ngắt nhịp nhanh, gọn mà vẫn có độ dư ba, bài thơ đã dâng

lên trong lòng tơi cảm giác rộn ràng, náo nức



o



Sức sống của đất nước không chung chung, trừu tượng mà nó biểu hiện ra ở “sức xuân”

của mỗi con người.



o



Những câu thơ của Thanh Hải đầy ắp hình ảnh, màu sắc và âm thanh, tạo nên khơng khí

sơi nổi, háo hức, vui tươi



o



Bài thơ khép lại trọn vẹn trong tâm hồn và sự say sưa của người đọc bằng một ước

nguyện thật chân thành và mãnh liệt...



Kết bài: Những người trẻ tuổi đọc Mùa xuân nho nhỏ có thể tìm ra lý tưởng sống cho mình, còn

với những người đã dâng cả tuổi thanh xuân cho đất nước thì vẫn thấy mình còn có thể làm

được nhiều hơn.

Bài làm



Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một bài thơ trong trẻo, thiết tha. Nó là phần tinh tuý nhất của một

con người luôn khát khao cống hiến, khát khao sống có ý nghĩa. Nó là tiếng lòng của nhà thơ và cũng là

của tất cả những ai ham mê cái cuộc sống trần gian rất đẹp đẽ này.

Mùa xuân nho nhỏ ra đời khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh. Chắc hẳn, vào những ngày cuối cùng

ấy, sau những chiêm nghiệm về cuộc sống với tất cả tình yêu, Thanh Hải muốn tiếp tục cất lên tiếng hót

của “con chim chiền chiện” để góp nên một “mùa xuân nho nhỏ” cho cuộc đời, cho con người và cho đất

nước yêu thương.

Với thể thơ 5 chữ, với cách ngắt nhịp nhanh, gọn mà vẫn có độ dư ba, bài thơ đã dâng lên trong lòng tơi

cảm giác rộn ràng, náo nức. Những gam màu trong trẻo, những hình ảnh đẹp, tươi sáng và đầy sức

sống trong mỗi câu thơ cứ thấm dần vào trái tim tuổi trẻ của tôi.

Mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước được nhà thơ cảm nhận trong sự căng đầy của nhựa sống,

trong nhịp sống đang hối hả và trong sự tươi non mơn mởn của những hi vọng vào tương lai. Giữa màu

xanh n bình của dòng sơng xn, sắc tím biếc cuả bơng hoa khơng hề lạc lõng, chơng chênh. Nó bám

chắc vào lòng sơng như một sợi dây vơ hình làm nên sức sống. Trên cái nền màu dịu êm của “sơng

xanh” và “hoa tím biếc”, tiếng hót trong vắt của con chim chiền chiện vút cao, ngân vang đến bất tận đến

trời xanh. Từng tiếng, từng tiếng chim trong veo hay tiếng nhịp thở của khí xn hồ vào trời đất, vang

vọng vào trong lòng người như những “giọt tâm hồn” sáng long lanh. Tiếng hót ấy khiến ta không thể

dửng dưng mà khiến ta phải thốt lên tiếng gọi rủ về cái khát khao muốn nắm bắt, muốn “đưa tay hứng”.

Khơng tách mình khỏi khí xn của thiên nhiên, đất nước trong cơng cuộc chuyển mình đi lên cũng rộn

ràng, hối hả. Sức sống của đất nước không chung chung, trừu tượng mà nó biểu hiện ra ở “sức xuân”

của mỗi con người. Mùa xuân trên lưng lính, lộc xuân trong tay người nông dân. Mỗi bước đi của người



gieo thêm một chồi biếc, một mầm non. Và cứ thế, sức xuân của đất nước lại dâng lên như những lớp

sóng xơn xao. Đất nước phấn chấn, hứng khởi trong một nhịp thở mới, hối hả khẩn trương. Niềm tin mới

của dân tộc được chắp cánh từ truyền thống bốn nghìn năm dựng nước. Thế nên, dẫu biết có những vất

vả và gian lao nhưng cả nước “vẫn đi lên phía trước” với một quyết tâm khơng mệt mỏi.

Những câu thơ của Thanh Hải đầy ắp hình ảnh, màu sắc và âm thanh. Nó tạo nên một khơng khí sơi nổi,

háo hức, phơi phới vui tươi. Nó là một bức tranh tươi sáng sắc màu, là một bản nhạc rộn ràng tiết tấu

trong trẻo, ngân nga và gợi cảm. Điều đặc biệt là: bức tranh thiên nhiên, bức tranh đất nước đầy sức

sống ấy đã được nhà thơ cảm nhận khi ông đang ở vào cái giây khắc sắp lìa đời. Trên giường bệnh, nhà

thơ vẫn mở rộng hồn mình, lắng nghe và đón nhận tất cả những thanh âm xao động của cuộc sống ngồi

kia. Ơng vẫn lắng nghe từng bước đi rất khẽ của đời. Bốn bức tường của phòng bệnh khơng thể ngăn

cách cuộc đời với nhà thơ, những cơn đau của bệnh tật không làm giảm ý chí, bầu nhiệt huyết và niềm

tha thiết yêu đời trong trái tim của người nghệ sĩ. Cái nghị lực phi thường ấy đáng để ta phải nâng niu và

trân trọng xiết bao.

Bài thơ khép lại trọn vẹn trong tâm hồn và sự say sưa của người đọc bằng một ước nguyện thật chân

thành và mãnh liệt biết bao. Nó thực là một khát khao đang bùng cháy: muốn được làm một nhành hoa

như bơng hoa tím biếc kia, muốn làm con chim hót vang trời những giọt long lanh như con chim chiền

chiện. Cái khát khao không hề gợi một chút gì về hình ảnh khổ đau của một con người đang chết. Nó

giống cái mãnh liệt và rạo rực của một sức thanh xuân đang tràn trề nhựa sống và khát khao cống hiến

cho đời.

Nhiều người đã từng đồng ý với tôi rằng: những người trẻ tuổi đọc Mùa xn nho nhỏ có thể tìm ra lý

tưởng sống cho mình, còn với những người đã dâng cả tuổi thanh xuân cho đất nước thì vẫn thấy mình

còn có thể làm được nhiều hơn. Mùa xn nho nhỏ quả đã không chỉ là niềm say mê của riêng tơi. Nó

xứng đáng là một bài thơ hay trong tủ sách quý của muôn người.

Back to top



Bài mẫu 4: Cảm nghĩ về bài thơ - Cảnh khuya (Hồ Chí Minh)

Dàn bài





Mở bài: Trong những năm đầu ở chiến khu Việt Bắc, vào một đêm trăng đẹp, Bác đã sáng tác ra

bài thơ Cảnh khuya để lại trong em nhiều cảm xúc.







Thân bài:



o



Bài thơ “Cảnh khuya” thể hiện tình yêu thiên nhiên song hành cũng là tình yêu nước sâu

đậm của Bác



o



Phân tích chi tiết hơn những cái hay của bốn câu thơ trong bài...



o



Bác là một con người yêu thiên nhiên tha thiết nhưng cũng chính vì u thiên nhiên mà

ln lo cho sự nghiệp của đất nước.



o



Hình ảnh của Bác làm em dâng trào cảm xúc mến yêu, kính trọng Bác.



o



Tác phẩm là một bức tranh đẹp về quê hương, về con người và sự sự hài hòa giữa cảnh

và tình.







Kết bài: Qua bài thơ này ta càng hiểu rằng trong hoàn cảnh nào, Bác vẩn giữ được thái độ bình

tĩnh chủ động như vậy, mặc dù ẩn trong phong thái ung dung tự tại ấy là nỗi lo cho nước, nỗi

thương dân....

Bài làm



Trăng là chủ đề sáng tác, là cảm hứng của các thi nhân và Bác Hồ khơng chỉ là chiến sĩ mà còn là một

nhà thơ lớn có tình u thiên nhiên với tâm hồn nhạy cảm. Trong những năm đầu ở chiến khu Việt Bắc,

trong một đêm trăng đẹp, Bác đã sáng tác ra bài thơ Cảnh khuya để lại trong em nhiều cảm xúc

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”

Bài thơ “Cảnh khuya” thể hiện tình yêu thiên nhiên song hành cũng là tình yêu nước sâu đậm của Bác

trong một đêm trăng ở núi rừng Việt Bắc

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”

Khi mọi người đã chìm sâu vào giấc ngủ, một màn đêm thanh tĩnh bng xuống khắp khu rừng, nó làm

cho tiếng suối dủ ở rất xa vẫn theo gió mang tiếng ca êm đềm, trong vắt của mình cho những người yêu

vẻ đẹp sáng ngời của đêm trăng cùng thưởng thức. Tiếng suối và ánh trăng, chao ôi hai thứ ấy hòa

quyện thì thật là tuyệt vời! Nó khiến cho người đang tham gia chính sự như Bác đã có một cảm nhận tinh

tế về tiếng ca này. Tiếng suối dịu êm khoan nhặt như một khúc hát trữ tình sâu lắng. Bác đã khéo léo

dùng nghệ thuật lấy động tả một khung cánh yên tĩnh có thể nghe rõ âm vang từ xa vọng lại. Và Người

đã so sánh tiếng suối với tiếng hát để nhấn mạnh nét gợi tả mang sức sống và hơi ấm của con người.

Sự ví von trên đã làm cho em nhớ lại câu thơ trong tác phẩm “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi từng viết

“Cơn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.”

Mỗi vần thơ, mỗi khung cảnh, âm thanh đều là tiếng suối nhưng được cảm nhận khác nhau ở nhiều khía

cạnh. Song tất cả vẫn là một tình yêu thiên nhiên. Câu thơ đã cho ta thấy rằng: dù là một vĩ lãnh tụ cách

mạng nhưng Bác vẫn mang tâm hồn tràn đầy tình cảm lãng mạn, đẹp đẽ. Cám ơn Bác, ngòi bút tài hoa

và tâm hồn yêu thiên nhiên say đắm của Người đã giúp em cảm nhận sự ngọt ngào, du dương của âm

thanh suối chảy

“Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”

Ánh sáng dịu dàng, thanh khiết từ ánh trăng len lõi chiếu vào lá và hoa tạo nên vẻ đẹp lấp lánh. Hoa lá

nghiêng bong trên mặt đất tạo nên những bức tranh lấp loá, lúc ẩn lúc hiện. Hoa lá cỏ cây và ánh trăng

lồng quyện vào nhau, trăng đan vào cậy cổ thụ, trăng tràn vào hoa. Đó như một bức tranh tuyệt vời của

đất nước. Bác đã làm mọi sự vật sống động qua nghệ thuật nhân hóa “lồng” để miêu tả đan xen cay lá và

ánh trăng. Bác quả là một người đa cảm và có tâm hồn vơ cùng phong phú! Trăng trở nên thú vị và lãng

mạn trong cảnh khuya sáng ngời, lung linh, huyền ảo. Đọc thơ mà em cứ hình dung cảnh thơ như đang

hiện lên mờ ảo trước mắt. Khung cảnh thật thơ mộng kết hợp với nhạc tạo nên một bức tranh đầy sinh

động. Vì vẻ đẹp bất tận của mình, trăng là người bạn của các nhà thơ, ta khó có thể hững hờ với vẻ đẹp

của trăng



“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ”

Đọc đến đây ai cũng nghĩ Bác vẫn còn thức vì trăng, vì sự cuốn hút của thiên nhiên nhưng người không

chỉ xúc động trước vẻ đẹp của đất trời mà còn vì

“Chưa ngủ vì nỗi lo nước nhà”

Nước nhà đang bị giặc xâm lăng, giày xéo, bao người còn sống trong cơ cực, lầm than. Và để nhấn

mạnh nỗi lo của mình, Bác đã điệp vòng “chưa ngủ” như láy lại tâm tư của Bác, một người ln nặng

lòng với quê hương. Hai câu thơ cuối giúp ta thấy rõ hơn con người của Bác. Một con người yêu thiên

nhiên tha thiết nhưng cũng chính vì u thiên nhiên mà luôn lo cho sự nghiệp của đất nước. Đây chính là

nỗi lòng, là tâm tình của vị lãnh tụ. Đồng thời ta cũng đã thấy Bác Hồ của chúng ta dẫu bận trăm cơng

nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian để chiêm nghưỡng thiên nhiên, có lẽ thiên nhiên chính là người

bạn giúp Bác khuây khoả, bớt đi sự vất vả mà Bác phải chăng chở suy tư. Từ đây, ta nhận thấy Bác là

một người luôn biết hài hồ giữa cơng việc với tình u thiên nhiên và càng u thiên nhiên thì trách

nhiệm đối với cơng việc càng cao bởi ta có thể nhận thấy đằng sau hình ảnh người ung dung ngắm trăng

đó là một nõi khao khát về một đất nước thanh bình, để ngày ngày con người được sống tự do, hạnh

phúc. Dường như trong Bác ln xốy sâu câu hỏi: Biết đến bao giờ đất nước mới đc tự do để con

người thoả sức ngắm trăng? Đọc đến đây ta càng hiểu rõ hơn con người của Bác đó là một người ln

canh cánh trong lòng nỗi lo vì dân vì nước, vì đất nước Bác có thể hi sinh tất cả. Hình ảnh của Bác làm

em dâng trào cảm xúc mến u, kính trọng Bác. Và ta đã ln tự hỏi rằng: Có bao giờ Người được thảnh

thơi để tận hưởng niềm vui của riêng mình? Bác thật vĩ đại trong tâm hồn em và của cả dân tộc Việt

Nam. Qua bài thơ, ta cảm nhận được lòng yêu quê hương trong Bác thật sâu đậm, lớn lao và đã bắt gặp

một tâm hồn thanh cao lồng trong cốt cách người chiến sĩ cộng sản. Tác phẩm là một bức tranh đẹp về

quê hương, về con người và sự sự hài hòa giữa cảnh và tình.

Bài thơ đã khép lại trong niềm xúc động dạt dào. Bác đã để lại cho đời những vần thơ hay đầy ý nghĩa,

những vần thơ đó đã khơi dậy trong em tình u thiên nhiên và niềm kính u vơ hạn vị Cha già của dân

tộc. Qua bài thơ này ta càng hiểu rằng trong hồn cảnh nào, Bác vẩn giữ được thái độ bình tĩnh chủ

động như vậy, mặc dù ẩn trong phong thái ung dung tự tại ấy là nỗi lo cho nước, nỗi thương dân. Trong

cuộc đời 79 năm, Bác Hồ có biết bao đêm khơng ngủ vì nhiều lẽ nhưng điều khiến chúng ta cảm phục vơ

hạn đó là ý thức, trách nhiệm của Bác trước vận mệnh nước nhà. Ý thức ấy ở Bác không chút nào xao

lãng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bài viết tập làm văn số 1 - ngữ văn lớp 10 đề: Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơ hoặc tác phẩm văn học mà anh (chị) yêu thích. Sau đây, tech12h gửi đến cho bạn đọc những bài văn mẫu hay nhất, mời các bạn cùng tham khảo.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×