Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Việt Nam 1945 – 1975, lớp 12 THPT. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Việt Nam 1945 – 1975, lớp 12 THPT. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Phân tích được chủ trương và đường lối của Đảng Cộng sản và Chủ

tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

(1946 – 1954). Trình bày và phân tích được những thắng lợi bước ngoặt của

cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên chiến trường: cuộc

chiến đấu ở các đơ thị phía Bắc vĩ tuyến 16, chiến dịch Việt Bắc thu đông,

chiến dịch Biên giới thu đông, cuộc tiến công chiến lược 1953 – 1954 mà

đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Cùng với đó HS cần nhớ được những

kiến thức về việc xây dựng hậu phương cũng như phân tích được mối quan hệ

giữa thắng lợi quân sự, chính trị, ngoại giao, vai trò của Đảng và chủ tịch Hồ

Chí Minh trong lãnh đạo cuộc kháng chiến…

- Biết về tình hình đất nước sau khi Hiệp định Geneva về chấm dứt

chiến tranh lập lại hòa bình ở Đơng Dương ngày 21/7/1954, về q trình khơi

phục, cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như quá trình đấu

tranh chống Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam qua các giai đoạn khác

nhau. HS cần biết được các chiến lược chiến tranh leo thang của đế quốc Mĩ

trong cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam, cùng với đó là đường lối tài tình,

sáng suốt với những chỉ đạo đúng đắn của Đảng. Cùng với đó là những thắng

lợi từng bước của quân dân hai miền Nam - Bắc trong cuộc đấu tranh chống

Mĩ và tay sai.

- Hiểu được và phân tích được: nhiệm vụ chiến lược chung, nhiệm vụ

chiến lược, vị trí của cách mạng mỗi miền Bắc, Nam và quan hệ của cách

mạng hai miền trong thời kỳ 1954 – 1975, từ đó làm rõ đặc điểm lớn nhất,

độc đáo nhất của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ 1954 – 1075; So sánh

được các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mĩ ở Việt Nam; Trình bày và

phân tích được ý nghĩa các phong trào đấu tranh của nhân dân hai miền Nam

– Bắc trong việc chống đế quốc Mĩ và tay sai trong những năm 1954 – 1975;

Phân tích được đặc điểm, tính chất, ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi

của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước…



41



- Vận dụng: HS rút ra được những bài học kinh nghiệm về việc kiên

trì định hướng chủ nghĩa Mác –Lênin, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và

chủ nghĩa xã hội trong cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự

lãnh đạo của Đảng Cộng sản duy nhất. Rút ra được bài học về tinh thần đồn

kết một lòng, về lòng yêu nước quả cảm của nhân dân Việt Nam trong những

giờ phút cam go nhất của lịch sử- là những sức mạnh to lớn nhất nhấn chìm

bất cứ kẻ thù ghê gớm nào. Đồng thời, HS từ việc hiểu được quá khứ phải rút

ra được những bài học để vận dụng trong hoàn cảnh đất nước ngày nay.

 Về tư tưởng, thái độ: Bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào về

truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, ý thức trách nhiệm của công dân

và thái độ căm ghét chiến tranh, u hòa bình, biết trân trọng những hy sinh

mất mát của các thế hệ cha anh để có được ngày hơm nay. Đồng thời, biết trân

trọng giữ gìn, tham gia phần nhỏ của mình trong cơng cuộc xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 Về kĩ năng: Rèn luyện cho HS kĩ năng xác định kiến thức cơ bản, sự

kiện cơ bản, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch sử. Rèn luyện kĩ năng sử dụng

bản đồ lịch sử, tranh ảnh tư liệu điển hình phục vụ cho bài học.

 Định hướng phát triển năng lực:

- Năng lực chung: Năng lực tự học, giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn

ngữ, năng lực tư duy sáng tạo.

- Năng lực chuyên biệt: Tái hiện sự kiện, nhân vật lịch sử, xác định

mối liên hệ giữa các sự kiện hiện tượng lịch sử.

2.1.3. Nội dung cơ bản

Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 – 1975 có những nội dung cơ bản sau đây:

-



Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đã đưa đến sự ra

đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945). Nhưng nước Việt Nam

mới vừa ra đời đã phải đối mặt với những khó khăn rất lớn đặc biệt là vấn đề

nội phản và ngoại xâm. Trong hơn một năm đầu chính quyền cách mạng phải



42



giải quyết sao cho khéo léo các vấn đề liên quan đến giặc đói, giặc dốt và giặc

-



ngoại xâm để bảo vệ những thành quả của cách mạng.

Hòa bình là nguyện vọng lâu đời của nhân dân ta, nhưng thực dân Pháp sau

Chiến tranh thế giới thứ hai rắp tâm thôn tính nước ta một lần nữa. Với những

nhượng bộ ban đầu không mang lại kết quả mong muốn, hơn nữa thực dân

Pháp ngày càng gây hấn. Cuối cùng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết

định phát động tồn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp từ ngày

19/12/1946, với nội dung cơ bản của đường lối là: toàn dân, toàn diện, trường



-



kỳ, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam trải qua 9

năm trường kỳ và gian khổ trong đó cơng tác “kháng chiến và kiến quốc”

luôn được đặt song hành với nhau. Trong công tác “kiến quốc” vấn đề hậu

phương được Đảng đặc biệt quan tâm và giành được nhiều thành tựu trong

các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, y tế… Với cơng tác “kháng chiến” bằng những

chiến thuật tùy từng thời điểm, nhân dân ta đã giành được thắng lợi từng bước

qua cuộc chiến đấu ở các đơ thị phía Bắc vĩ tuyến 16 năm 1946 – 1947 bước

đầu làm phá sản âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, chiến

dịch Việt Bắc thu đông năm 1947 làm phá sản hoàn toàn kế hoạch đánh nhanh

thắng nhanh, chiến dịch Biên giới thu đơng năm 1950 làm phá sản hồn tồn

kế hoạch Rơve, cuộc tiến công chiến lược đông - xuân 1953 – 1954 đỉnh cao

là chiến dịch Điện Biên Phủ trấn động địa cầu làm phá sản hoàn toàn kế

hoạch Nava- sự nỗ lực cuối cùng của Pháp nhằm “kết thúc chiến tranh trong

danh dự”. Cuộc kháng chiến 9 năm kết thúc bằng việc ký kết Hiệp định



-



Geneva về kết thúc chiến tranh lập lại hòa bình ở Đơng Dương (21/7/1954).

Với việc kí kết và thực hiện Hiệp định Geneva, nước Việt Nam tạm thời bị

chia cắt thành hai miền, với hai chế độ chính trị khác nhau. Do đó, cách mạng

dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam phải tiến hành đồng thời hai

chiến lược cách mạng ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống

nhất Tổ quốc. Đây là đặc điểm lớn nhất, độc đáo nhất của cách mạng Việt

43



Nam thời kỳ 1954 – 1975. Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó chặt chẽ

với nhau, phối hợp với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Đó là quan hệ

-



giữa hậu phương với tuyền tuyến.

Ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mĩ, thực hiện những nhiệm vụ của cách

mạng trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, và khi Mĩ tiến hành chiến

tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc, thì kết hợp giữa

chiến đấu và sản xuất. Miền Bắc còn làm nghĩa vụ của hậu phương lớn với

tiền tuyến lớn miền Nam. Nhân dân miền Bắc đã giành thắng lợi trong cuộc

chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ qua hai lần từ năm 1965

– 1973. Có thể nói, cách mạng miền Bắc với những thắng lợi vĩ đại đã hồn

thành vai trò là hậu phương lớn, giữ vai trò quyết định nhất tới sự thành công

chung của cách mạng nước nhà.



-



Ở miền Nam trong kháng chiến chống Mĩ, tiến hành cuộc đấu tranh chính trị

phát triển lên khởi nghĩa bắt đầu từ “Đồng khởi” 1959 – 1960, rồi chiến tranh

giải phóng từ giữa năm 1961, trải qua năm giai đoạn, “thành đồng miền

Nam” đã lần lượt đánh bại các chiến lược thống trị và xâm lược thực dân mới

của Mĩ: chiến lược “Chiến tranh đơn phương”; “Chiến tranh đặc biệt”;

“Chiến tranh cục bộ”; “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đặc biệt, việc ký kết

Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày

21/7/1973 đã hồn thành cơ bản nhiệm vụ “đánh cho Mĩ cút”, đế quốc Mĩ

phải rút quân ra khỏi miền Nam, tạo bước ngoặt quan trọng trên chiến trường

miền Nam. Trong điều kiện thuận lợi, nhân dân ta đẩy mạnh đấu tranh chống

địch phá hoại Hiệp định. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, mùa xuân năm 1975,

nhân dân ta đứng lên tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng hồn

tồn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.



2.2.



Những nội dung lịch sử Việt Nam 1945 – 1975 có thể khai thác nhằm tạo

xúc cảm cho HS



44



Trong phạm vi phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 - 1975 của chương

trình lớp 12, chúng tơi xin đề xuất một số nội dung có thể khai thác và vận

dụng các phương pháp để tạo xúc cảm cho học sinh. Tương ứng với các nội

dung này là xúc cảm lịch sử chủ yếu mà GV có thể vận dụng trong DHLS:

STT

1



2



3



45



Bài học

nội khóa

Bài 17:

Nước Việt

Nam Dân

chủ Cộng

hòa sau

ngày

2/9/1945 đến

trước ngày

19/12/1946

Bài 18:

Những năm

đầu của

cuộc kháng

chiến toàn

quốc chống

thực dân

Pháp (1946

- 1950)

Bài 19:

Bước phát

triển mới

của cuộc

kháng chiến

toàn quốc

chống thực

dân Pháp

(1951-1953)



Nội dung

kiến thức

II. Bước đầu

xây dựng

chính quyền

cách mạng,

giải quyết

nạn đói, nạn

dốt và khó

khăn về tài

chính

Các mục II.,

III., IV.



I.Thực dân

Pháp đẩy

mạnh chiến

tranh xâm

lược Đơng

Dương

II. Đại hội

đại biểu lần

thứ hai của

Đảng (21951) và III.

Hậu phương

kháng chiến

phát triển

mọi mặt



Xúc cảm lịch sử

Từ việc làm rõ những khó khăn của

nước nhà sau Cách mạng (trong

mục I.) và sau khi học xong mục II.

giúp các em cảm phục trước sự

lãnh đạo tài tình của Đảng chèo lái

đất nước vượt qua khó khăn



Bằng việc khắc sâu những kiến

thức về các thắng lợi của quân dân

ta trong những năm đầu của cuộc

kháng chiến, tạo xúc cảm một cách

tự nhiên trong các em về sự tự hào

dân tộc



Qua phân tích những âm mưu và

thủ đoạn mới của Mĩ giúp HS nhận

thức sâu sắc về dã tâm của kẻ thù

và thêm căm hờn trước tội ác kẻ đi

xâm lược

Qua hai nội dung này giúp HS

nhận thức được và trân trọng biết

ơn sự lãnh đạo tài tình của Đảng

trong cuộc chiến



4



Bài 20:

Cuộc kháng

chiến toàn

quốc chống

thực dân

Pháp kết

thúc (19531954)



5



Bài 21: Xây

dựng chủ

nghĩa xã hội

ở miền Bắc.

Đấu tranh

chống đế

quốc Mĩ và

chính quyền

Sài Gòn ở

miền Nam

(1954 –

1965)



I.Âm mưu

mới của Pháp

– Mĩ ở Đông

Dương: kế

hoạch Nava

II. Cuộc tiến

công chiến

lược Đông –

Xuân 1953 –

1954 và chiến

dịch Điện

Biên Phủ

1954

III.1. Miền

Nam đấu

tranh chống

chế độ Mĩ

Diệm…



Qua phân tích và khắc sâu ở các em

về bước đi mới hòng thơn tính Việt

Nam của Pháp – Mĩ qua kế hoạch

Nava HS sẽ thấu hiểu được và căm

thù dã tâm xâm lược của địch

Với những chiến công hào hùng

của cuộc Tiến công chiến lược

Đông – Xuân 1953 – 1954 giúp HS

trân trọng, cảm phục sự hy sinh của

bộ đội Việt Minh và nhân dân cả

nước, bồi đắp niềm tin tưởng vào

sự lãnh đạo của Đảng, niềm tự hào

dân tộc

Từ việc cho HS nhận thấy được sự

tàn bạo từ những hành động của

chính quyền Ngơ Đình Diệm khắc

sâu trong lòng các em sự thù ghét

cường quyền, chiến tranh, có lòng

đồng cảm với các chiến sỹ Cộng

sản kiên trung



III.2.Phong

trào Đồng

khởi (1959 –

1960)



Từ tấm gương quật khởi của những

người con miền Nam trong phong

trào “Đồng khởi” giúp tăng thêm

niềm tự hào và ý chí dũng cảm

trong các em với tư cách là công

dân của nước Việt Nam anh hùng



IV. Miền Bắc

bước đầu xây

dựng cơ sở

vật chất – kĩ

thuật của chủ

nghĩa xã hội

(1961 –

1965)



Từ khơng khí cả nước phấn khởi

xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền

Bắc giúp học sinh tăng thêm niềm

tin vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa,

thêm yêu đất nước và con người

trong những năm tháng chiến

tranh, thấy được tinh thần đồng

lòng đồng tâm của cả dân tộc trong

những ngày gian khó

Từ các phong trào đấu tranh “phá

ấp chiến lược”, cuộc đấu tranh của



V. Miền Nam

chiến đấu

46



6



7



47



Bài 22:

Nhân dân

hai miền

trực tiếp

chiến đấu

chống đế

quốc Mĩ

xâm lược.

Nhân dân

miền Bắc

vừa chiến

đấu vừa sản

xuất (1965 –

1973)



Bài 23: Khôi

phục và

phát triển

kinh tế – xã

hội ở miền

Bắc, giải

phóng hồn

tồn miền

Nam (1973 –

1975)



đấu chống

chiến lược

“Chiến tranh

Đặc biệt”

của Đế quốc

Mĩ (1961 –

1965)

I.Chiến đấu

chống chiến

lược “Chiến

tranh Cục

bộ”…



“đội quân tóc dài” học sinh, sinh

viên, phật tử Sài Gòn,… giúp học

sinh thấy được lòng yêu nước vô

bờ và ý nguyện thống nhất của

nhân dân miền Nam anh hùng, qua

đó thêm trân trọng lịch sử.



III. Chiến

đấu chống

chiến lược

“Việt Nam

hóa chiến

tranh” và

“Đơng

Dương hóa

chiến

tranh”…

III. Gải

phóng hồn

tồn miền

Nam, giành

tồn vẹn lãnh

thổ Tổ quốc



Từ những thắng lợi trong giai đoạn

này, đặc biệt là sự hy sinh quả cảm

và ý chí sắt đá của các chiến sỹ

trong mùa hè đỏ lửa năm 1972 giáo

viên giáo dục tinh thần và lý tưởng

cuộc đời của một thế hệ cha anh đã

qua cho các chủ nhân của đất nước

sau này, đó là niềm tin vào lý

tưởng: xã hội chủ nghĩa, đất nước

thống nhất, độc lập và tự do

Từ khí thế và thắng lợi của cuộc

Tổng tiến công và nổi dậy mùa

xuân năm 1975 giúp HS thêm tự

hào và cảm mến sâu sắc về chiến

công oai hùng

Từ nguyên nhân thắng lợi và ý

nghĩa lịch sử giáo dục cho học sinh

thấy được thắng lợi của cuộc kháng

chiến chống Mĩ cứu nước là thắng

lợi của cả tiền tuyến lẫn hậu

phương, của nhân dân hai miền

Nam – Bắc, của tính chính nghĩa

trước phi nghĩa,… Từ đó tạo ở các

em niềm trân trọng quá khứ và biết

phấn đấu cho tương lai.



Từ khí thế của các cao trào “Tìm

Mĩ mà đánh lùng ngụy mà diệt”,

phong trào thi đua trở thành “Dũng

sĩ diệt Mĩ”, “Đơn vị anh hùng diệt

Mĩ”,… tạo trong các em niềm tự

hào sâu sắc về sự quả cảm hy sinh

cho dân tộc của thế hệ cha ông.



Trên đây chỉ là một số đề xuất về nội dung có thể khai thác vào hoạt

động giáo dục nhằm tạo xúc cảm lịch sử cho HS. Trên thực tế, việc xây dựng

và sử dụng các biện pháp như thế nào để tạo xúc cảm cho HS tùy thuộc vào

mục tiêu bài học, mục đích của GV và đối tượng HS.

Những nguyên tắc chung trong việc sử dụng tranh cổ động để tạo xúc



2.3.



cảm cho học sinh trong dạy học lịch sử

Việc sử dụng các bức tranh cổ động nhằm tạo xúc cảm lịch sử cho HS

cần phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:

-



Đảm bảo mục tiêu giáo dục: Cũng như các phương pháp dạy học khác, việc

tạo xúc cảm cho HS thơng qua việc sử dụng tranh cổ động chính trị trước hết

cũng cần đảm bảo các mục tiêu về cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng và

giáo dục tư tưởng đạo đức. Khơng vì q chú trọng vào nnhiệm vụ tạo xúc

cảm hay sử dụng tranh cổ động mà đẫn đến tình trạng tốn thời gian, “cháy



-



giáo án”, khơng cung cấp đủ những kiến thức cơ bản cho học sinh.

Chú ý tới nội dung của các tác phẩm sử dụng. Việc tạo xúc cảm lịch sử cho

HS là một nhiệm vụ quan trọng và cần phải thực hiện một cách có bài bản.

Trước hết trong hoạt động này, giáo viên cần tìm hiểu và xác định được

những nguồn tài liệu chính thống có nội dung chính thống ca ngợi Đảng, Nhà

nước, nhân dân. Nên tìm hiểu các tác phẩm từ các nhà xuất bản có uy tín của

quốc gia, tránh việc sử dụng hay dẫn lại những tác phẩm từ những nguồn



-



chưa được kiểm duyệt.

Đảm bảo chú trọng nội dung giáo dục lịch sử: Đây là biện pháp trong dạy học

lịch sử có sự kết hợp thành tựu của những lĩnh vực khác vì vậy người GV cần

phải chú ý tới việc giáo dục tri thức lịch sử. Việc sử dụng thành tựu của các

lĩnh vực khác phải ở mức độ vừa phải, đủ để hoàn thành mục tiêu và nhiệm

vụ của quá trình dạy – học. GV phải biết chọn lọc, phân loại chúng, đưa tác

phẩm có nội dung liên quan đến nội dung cơ bản của bài học. Tránh việc dẫn

quá nhiều bức tranh làm “loãng” nội dung kiến thức cơ bản, phân tán sự chú ý



-



của HS làm bài học thêm nặng nề hơn.

Đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực hiện:

48



+ Khả thi về mặt thời gian: Như đã nói ở trên, trong mọi hoạt động đạy

– học việc cung cấp đủ lượng kiến thức cơ bản (cần đạt) cho HS luôn luôn

phải được đặt lên hàng đầu. Cũng như vậy, trong việc ứng dụng phương pháp

này, GV cần chuẩn bị kỹ lưỡng, có những giả thuyết về mặt thời gian để cân

đối, điều chỉnh phù hợp trong quá trình dạy học nhằm đạt hiệu quả giáo dục

cao nhất.

+ Khả thi về điều kiện vật chất, phương tiện hỗ trợ dạy học: Để chuẩn

bị cho một bài học có sử dụng tranh cổ động, GV cần có sự hỗ trợ của phương

tiện dạy học hiện đại gồm: máy vi tính kết nối máy chiếu. Bên cạnh đó, GV

cần chuẩn bị chu đáo về các tranh ảnh, file âm thanh chứa các bài hát sẽ sử

dụng, đoạn thơ, truyện… liên quan. Việc chuẩn bị sẽ giúp giáo viên thực hiện

các bước trong quá trình dạy học một cách thuận lợi.

+ Khả thi và vừa sức đối với HS: Đối tượng HS là đối tượng chính

trong mọi hoạt động, đặc biệt trong bối cảnh “lấy học sinh làm trung tâm”

như mục tiêu trong hoạt động dạy – học mà ngành giáo dục xác định trong

những năm gần đây. Vì vậy, để HS tham gia tích cực và có kết quả cao trong

hoạt động này, GV cần dựa trên tinh thần tự nguyện và vừa với khả năng của

các em. Đối với từng đối tượng HS, lớp học mức độ của việc sử dụng tranh cổ

động chính trị trong tạo xúc cảm học tập có thể khác nhau. Việc thực hiện tốt

nguyên tắc phù hợp với trình độ HS khi tiến hành mọi phương pháp dạy học

là vô cùng quan trọng , nếu thực hiện tốt sẽ tạo hứng thú cho HS và mang lại

hiệu quả cao. Ngược lại, nếu không tuân thủ nguyên tắc này, nhiệm vụ của

việc tạo xúc cảm sẽ trở nên quá dễ hoặc quá khó đối với HS điều này dẫn đến

-



sự nhàm chán, không phát huy được năng lực của HS.

Trong dạy học nói chung, DHLS nói riêng khơng có bất kì một phương pháp

nào là vạn năng. Bởi vậy, khi DHLS cần phải biết kết hợp nhiều phương

pháp, nhiều biện pháp khác nhau để đạt hiệu quả cao nhất. Nội dung lịch sử

rất phong phú, nhiều loại kiến thức, mỗi loại kiến thức cần có một phương

pháp dạy học phù hợp để đạt kết quả tốt nhất. Các tác phẩm tranh cổ động

chính trị là một nguồn cung cấp và nguồn hỗ trợ để cung cấp kiến thức quan

49



trọng bên cạnh nguồn kiến thức từ SGK. Vì vậy, khai thác và sử dụng các tác

phẩm tranh cổ động chính trị cũng là một biện pháp dạy học của GV. Do đó,

cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn việc sử dụng tranh cổ động với các phương

pháp dạy học khác.

Khi hướng dẫn HS khai thác các bức tranh, GV cần phải kết hợp nhuần

nhuyễn với lời nói, cử chỉ phi ngơn ngữ các đồ dùng trực quan khác, tổ chức

cho HS trao đổi thảo luận nhóm, tranh biện hay sử dụng kết hợp với các

nguồn tài liệu lịch sử khác… để từ đó góp phần phát huy tối đa vai trò và ý

-



nghĩa của việc sử dụng tranh cổ động trong DHLS ở trường THPT.

Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực độc lập nhận thức của HS

và vai trò chủ đạo của GV trong q trình DHLS: Tính tự giác là nền tảng để

hình thành tính tích cực. Tính tích cực trong q trình được lặp đi lặp lại

nhiều lần sẽ hình thành tính độc lập. Các phẩm chất này của HS được hình

thành và phát triển dưới vai trò chủ đạo của GV. Đồng thời GV cần hướng dẫn

các em một cách cụ thể, rõ ràng để kích thích sự hứng thú của HS, từ đó mà

những năng lực của HS được hình thành và phát triển trong quá trình theo dõi



-



và tiếp nhận kiến thức.

Bên cạnh đó, khi sử dụng tranh cổ động nhằm tạo xúc cảm học tập cho HS

trong giờ lên lớp cần chú ý giải quyết các vấn đề sau:

+ GV lập kế hoạch tìm hiểu các tác phẩm

+ Trả lời được câu hỏi cần phải đưa tác phẩm vào lúc nào?

+ Thời gian sử dụng chúng chiếm bao nhiêu thời gian?

+ Hình thức sử dụng bằng cách nào?



2.4. Phương pháp sử dụng tranh cổ động tạo xúc cảm cho học sinh

trong dạy học lịch sử Việt Nam 1945 – 1975, lớp 12 THPT. Thực nghiệm

sư phạm

2.4.1. Sử dụng tranh cổ động để tạo tình huống có vấn đề, đưa ra

bài tập nhận thức nhằm chuẩn bị cho học sinh nghiên cứu kiến thức mới

Trong thời gian gần đây, giáo dục môn Lịch sử trong trường trung học

cơ sở và THPT sa sút nhiều, gây nỗi lo âu trong xã hội. Xuất hiện tình trạng

50



thầy khơng muốn dạy, trò chẳng muốn học, phụ huynh chẳng mấy ai thích cho

con mình học mơn Lịch sử, khơng cho con em mình thi vào khối C vì ra

trường ít có việc làm.

Trong sự nghiệp giáo dục, môn Lịch sử ở trường phổ thông đã góp

phần khơng nhỏ trong việc giáo dục lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước

và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của nước nhà. Ðã có nhiều

thầy giáo, cơ giáo tâm huyết với nghề, thường xuyên đổi mới phương pháp

dạy học, góp phần nâng cao tính hấp dẫn của mơn học. Trong các kỳ thi HS

giỏi quốc gia mơn Lịch sử, có nhiều HS đạt kết quả cao và được tuyển thẳng

vào trường đại học và cao đẳng, đi học nước ngoài theo chuyên ngành. Nhưng

tại sao phần lớn HS khơng thích mơn học Lịch sử, coi đó là mơn học phụ với

các sự kiện, năm tháng khô khan và nhàm chán?

GV mặc dù được đào tạo cơ bản, có ý thức học tập nâng cao nghiệp vụ

song vẫn thường sử dụng các kỹ thuật, phương pháp dạy học truyền thống

(thầy đọc - trò chép), sự đầu tư giảng dạy bằng máy chiếu, sử dụng phương

tiện, đồ dùng trực quan còn hạn chế.

Trong khi đó, trong nhà trường với phương pháp dạy học truyền thống

thụ động, GV nắm vai trò chủ đạo truyền đạt kiến thức còn HS chỉ thụ động

lắng nghe và ghi chép lại. Cách dạy và học như vậy không những khơng phát

huy được tính tích cực học tập của HS mà còn làm các em mất dần đi tư duy

sáng tạo, độc lập của mình. Điều này đã khơng còn phù hợp với yêu cầu của

thời đại ngày nay.

Hiện nay, yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục là phải đào tạo những con

người năng động, sáng tạo, biết phản biện xã hội, biết khai thác thơng tin khi

có thế giới phẳng. Con người mới phải thích ứng với mơi trường xã hội mở

cửa, hội nhập quốc tế. Môi trường đó khơng dung nạp và phù hợp với những

ai khơng chủ động tìm tòi, sáng tạo và vươn lên.

Như vậy, rõ ràng cách dạy truyền thống đã khơng còn phù hợp. Đổi mới

phương pháp dạy học hiện nay là phải gắn liền với việc phát huy tính tích cực

51



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Việt Nam 1945 – 1975, lớp 12 THPT. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×