Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng

Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng

Tải bản đầy đủ - 0trang

PHẦN 2:NỘI DUNG

1. Quy luật đồng nhất

1.1. Đặc trưng phản ánh của quy luật đồng nhất

Đồng nhất là quy luật quan trọng của tư duy hình thức. Quy luật này

phản ánh tính ổn định, xác định của tư duy. Điều này có nghĩa là trong q

trình hình thành của mình, một tư duy (khái niệm, phán đoán, lý thuyết, giả

thuyết,…) có thế thay đổi. Nhưng khi đã hình thành xong, không thể thay đổi

nội hàm và ngoại diện của tư tưởng một cách tùy tiện. Một tư tưởng khi đã

thay đổi sẽ hình thành nên một tư tưởng khác.

Luật đồng nhất là nền tảng của tư duy logic, đảm bảo tính ổn định, xác

thực, đúng đắn của tư tưởng. Sử dụng quy luật đồng nhất sẽ loại bỏ được tính

mơ hồ, lẫn lộn, thiếu xác định, nước đôi trong tư duy.

1.2. Nội dung của quy luật đồng nhất

Nội dung của quy luật: Một ý nghĩ, một tư tưởng đã được hình thành

trong tư duy phản ánh đối tượng nằm ở phẩm chất xác định, thì phải đồng

nhất với chính bản thân nó ( tức chính sự vật đó ) hoặc với chính tư tưởng ấy

về mặt giá trị logic. Nói cách khác, mỗi tư tưởng ( khái niệm, phán đoán ) khi

đã định hình về đối tượng ở một phẩm chất xác định thì phải rõ ràng và giữ

nguyên trong suốt quá trình tư duy để rút ra kết luận.

Luật đồng nhất được diễn đạt dưới hình thức sau:

A= A, đọc là “A là A”, hoặc “A đồng nhất với A”.

Cũng có thể được diễn đạt:

3



A → A, đọc là “Nếu (đã) A thì (cứ) A”

Trong đó, A là một tư tưởng phản ánh về một đối tượng xác định nào

đó. Nói khác, mỗi ý nghĩ đều được rút ra từ chính nó và là điều kiện cần và

đủ cho tính chân thực của nó.

Luật đổng nhất trở thành quy tắc cho từng ý nghĩ: môt ý nghĩ không thể

vừa là nó vừa là khơng phải nó. Nó phải đồng nhất với nó về giá trị lơgíc.

Luật đổng nhất u cầu khi phản ánh về môt đối tượng ở môt phẩm chất xác

định (tồn tại trong khoảng thời gian, không gian và một quan hệ xác định), khi

đối tượng tồn tại với tư cách là nó thì tư duy khơng được tuỳ tiện thay đổi đối

tượng phản ánh, không được thay đổi nội dung của tư tưởng hay đánh tráo

ngôn từ diễn đạt tư tưởng. Chính điều này thể hiên tính xác định và nhất quán

của tư tưởng khi phản ánh về đối tượng xác định.

1.3. Cơ sở của quy luật đồng nhất

Trong quá trình hình thành, một tư tưởng (khái niệm, phán đốn, lý

thuyết, giả thuyết…) có thể thay đổi, nhưng khi đã hình thành xong thì khơng

được thay đổi nữa.

Nếu tiếp tục thay đổi thì logic hình thức coi nó là tư tưởng khác.

Tính ổn định là điều kiện cần cho mọi q trình tư duy.

Tuyệt đối hóa mặt biến đổi của tư tưởng thì khơng thể tư duy.

Một ý kiến phải có nội dung khơng đổi ít nhất là trong cùng một quá

trình tranh luận, trình bày ý kiến, chứng minh quan điểm… (một quá trình tư

duy), thì mới có thể căn cứ vào nó để xét đoán đúng sai, hợp lý hay bất hợp

lý…



4



1.4. Yêu cầu của quy luật đồng nhất

Yêu cầu 1:

- Một từ chỉ được dùng trong suy luận với một nghĩa duy nhất, một khái niệm,

một tư tưởng… không được thay đổi nội dung.

- Nếu một tư tưởng xuất hiện nhiều lần trong một quá trình tư duy thì tất cả

những lần xuất hiện đó nó phải có cùng một nội dung, một giá trị chân lý.

- Từ ngữ, tư tưởng được dùng với một nghĩa, một nội dung một giá trị chân lý

duy nhất.

- Vi phạm yêu cầu này, tư duy sẽ khơng nhất qn, lẫn lộn và người khác sẽ

khơng hiểu.

Ví dụ: “Khi thấy sứ thần cho chúa Trịnh một mâm đào trường thọ Trạng

Quỳnh bèn chạy tới lấy một quả đào ăn ngay. Chúa cho Quỳnh đã phạm tội

khi quân bèn sai người lơi ra chém. Trạng nói “chém thần cũng được nhưng

phải chém đầu thằng dâng đào lên trước đã . Nó bảo là đào trường thọ sao

thần vừa ăn đã phải chết? Đây phải gọi là đào đoản thọ mới đúng”. Chúa nghe

vậy liền bật cười tha tội.” Ở đây Trạng Quỳnh đã cố tình quy phạm luật đồng

nhất để thoát tội bằng cách đánh tráo nội dung của khái niệm là “chết do

phạm tội” và “chết inh học”.

Yêu cầu 2: Không được đánh tráo ngôn ngữ diễn đạt tư tưởng: trong diễn

đạt không được ý nọ ý kia, nếu khi chọn từ, chọn câu diễn đạt mà khơng đúng

ý tưởng, đúng đối tượng đã trình bày, tức là đã vi phạm luật đồng nhất.

Ví dụ: “Trong buổi dạ hội, Puskin mời một tiểu thư khiêu vũ. Nàng tiểu

thư thấy Puskin vừa đen vừa gầy kênh kiệu nói: “Xin lỗi tôi không nhảy cùng

với một đứa bé”. Puskin muốn sửa tính kiêu ngạo của nàng bèn nói lớn: “Xin

5



lỗi tôi không biết là tiểu thư đang mang thai”. Mọi người nghe vậy liền cười ồ

lên khiến nàng tiểu thư xấu hổ đỏ mặt.

Ta thấy, ở đây Puskin đã đánh trao ngôn ngữ diễn đạt của cô gái “đứa bé”

bằng “mang thai”.

Yêu cầu 3: Ý nghĩa, tư duy tái tạo phải đồng nhất với ý nghĩa, tư duy

nguyên mẫu: khi nhắc lại, tái tạo một tư tưởng nào đó thì phải nhắc lại, tái tạo

chính xác tư tưởng đó, không làm sai lệch nội dung của ý nghĩa, tư tưởng

ngun mẫu.

Ví dụ: Cơ giáo: “Hai lần chín là bao nhiêu?”. Học sinh: “Hai lần chín là

nhừ ạ”.

Những biểu hiện của việc vi phạm luật đồng nhất ở khía cạnh này là :

Sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa (đánh tráo khái niệm).

Ví dụ 1:

Vật chất tồn tại vĩnh viễn (1)

Cái bánh là vật chất (2)

Vật cái bánh tồn tại vĩnh viễn.

Từ vật chất ở mệnh đề (1) phản ánh đối tượng trừu tượng của triết học. Từ

vật chất ở mệnh đề (2) phản ánh đối tượng cụ thể (vật liệu làm bánh). Khái

niệm “vật chất” ở 2 tiền đề có nội hàm khác nhau cho nên đây là 2 khái niệm

khác nhau. Ở đây người ta đã cố ý đồng nhất hóa hai tư tưởng khác nhau.

Ví dụ 2:

Cái anh khơng mất tức là cái anh có(1)



6



Anh khơng mất sừng (2)

Vậy là anh có sừng.

Ở phán đốn (1), “cái khơng mất” được hiểu là cái ta có và ta khơng đánh

mất. Nhưng ở phán đốn (2), “cái khơng mất” là cái mà ta khơng hề có và do

đó khơng thể mất được, người ta đã cố tình đồng nhất hóa hai tư tưởng khác

nhau (đánh trái nghĩa của tư tưởng).

Những từ ngữ khác nhau có nội dung như nhau, những tư tưởng tương

đương với nhau về mặt logic, nghĩa là bao giờ cũng có giá trị chân lý như

nhau, phải được đồng nhất với nhau trong quá trình suy luận . Vi phạm yêu

cầu này, ta không rút ra được thơng tin cần thiết.

Ví dụ: Người ta cho biết rằng , tác giả Truyện ngắn Chí Phèo là người lang

Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam và

hỏi quê quán của nhà văn Nam Cao . Nếu ta không đông nhất nhà văn Nam

Cao với tác giả truyện ngắn Chí Phèo thì ta không trả lời được cho câu hỏi

này. Ta cũng không thể suy luận được.

Đây là những yêu cầu dành cho quá trình tư duy, những yêu cầu này bắt

buộc phải tuân theo để tư tưởng được sáng tỏ, dễ hiểu. Nhưng trong cuộc

sống hằng ngày, chúng ta gặp rất nhiều trường hợp chúng bị vi phạm một

cách vơ tình hay cố ý.

Ví dụ: các trò chơi chữ là những vi phạm cố ý:

“Bà già đi chợ Cầu Đơng

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

Thầy bói gieo quẻ nói rằng



7



Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn.”

Ở đây, cùng một chữ “lợi” nhưng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau :

nghĩa thứ nhất là lợi ích, trong khi nghĩa thứ hai là ám chỉ phần mô mềm bên

trong miệng người ( nướu). Với cách sử dụng như vậy, bài ca dao đã phê phán

nhân vật “Bà già” đã lớn tuổi nhưng vẫn muốn lấy chồng.

Quy luật đồng nhất là quy luật của tư duy hình thức, khơng nên nhầm lẫn

rằng đây là quy luật của hiện thực khách quan bên ngồi tư duy,vì vậy, khơng

dẫn đến việc phủ định nguyên lý biện chứng là sự vật và hiện tượng luôn luôn

vận động và biến đổi, trong cùng một thời điểm một sự vật vừa chính là nó

vừa khơng phải là nó . Tư duy hình thức phản ánh hiện thực khách qua một

cách lý tưởng, phản ánh hiện thực khách quan trong sự đứng im tương đối của

nó , bỏ qua sự vận động và biến đổi của nó, phản ánh các sự vật và hiện tượng

trong sự tách rời ra khỏi các sự vật và hiện tượng khác. Một sự vật của hiện

thực khách quan có thể được tư duy phản ánh từ nhiều góc độ khác nhau , tạo

nên những đối tượng khác nhau trong tư duy. Nếu hai sự vật trong hiện thực

khách quan A và B có chung một tính chất nào đó thì tư duy có thể phản ánh

tính chất chung ở hai sự vật được nêu và tạo thành hai đối tượng khác nhau

trong tư duy. Hai đối tượng này của tư duy đồng nhất với nhau. Chính vì vậy

mà mặc dù trong hiện thực khách quan khơng hề có hai sự vật hồn tồn

giống nhau, nhưng ta vẫn có thể đồng nhất chúng với nhau. Có thể làm như

vậy là bởi ta chỉ đồng nhất chúng trong một mối quan hệ nhất định mà thơi.

Ví dụ: Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai người khác nhau , tuy nhiên ,

khi tư duy phản ánh các ơng từ góc độ nhà thơ thì tạo thành hai đối tượng

đồng nhất với nhau trong tư duy.



8



Vì tư duy phản ánh hiện thực khách quan nên thơng qua quy luật đồng

nhất của tư duy ta có thể nói về ba loại đồng nhất khác nhau: đồng nhất tư

tưởng với tư tưởng, đồng nhất tư tưởng với đối tượng trong hiện thực và đồng

nhất đối tượng trong hiên thực với đối tượng trong hiện thực.

Ta xét vài ví dụ:

Ví dụ 1:

Trước Tòa bà Minh nói: “Tơi đồng ý bán nhà giúp con trả nợ” nhưng thư

ký phiên tòa ghi “Tơi đồng ý bán nhà trả nợ giúp con” . Sai lầm này của thư

ký phiên toà đã làm cho việc thi hành án sau này gặp nhiều khó khăn.

Ví dụ 2:

Có diễn giả nói: “Hình như trên đời có luật bù trừ. Người ta bị mù một

mắt thì mắt kia sẽ tinh hơn. Bị điếc một tai thì tai kia sẽ nghe rõ hơn,…” .

Nghe vậy, có thính giả kêu lên : “Rất đúng, tơi cũng thấy rằng nếu một người

cụt chân thì y như rằng chân kia sẽ dài hơn”. Câu nói này của anh ta làm cho

cả thính phòng cười ồ lên . Anh ta đã khơng nhận thấy rằng khi diễn giả nói:

“…mắt kia sẽ tinh hơn”, “…tai kia sẽ nghe rõ hơn” là tác giả so sánh với mắt

và tai bình thường , còn anh ta so sanh cái “chân kia” với chân cụt.

1.5. Ý nghĩa của quy luật đồng nhất

Đảm bảo tính tư duy rõ ràng, chính xác, mạch lạc.

Quy luật đồng nhất biểu thị tính cơ bản của tư duy logic: tính xác định.

Nếu khơng có tính xác định thì người ta không hiểu đúng sự thật và không thể

hiểu nhau được.

Quy luật đồng nhất loại bỏ tính chất mơ hồ, lẫn lộn , thiếu xác định, nước

đôi trong tư duy. Trong cuộc sống , những người vi phạm quy luật đồng nhất

9



thường là những kẻ ngụy biện, họ cố tình đánh tráo khái niệm, đánh tráo đối

tượng để phục vụ ý đồ sai trái của mình, hoặc là những người thiếu hiểu biết ,

nắm không đầy đủ nội hàm và ngoại diên của khái niệm, các thuật ngữ, kí

hiệu chuyên mơn,… Chính vì vậy trong khoa học , để tránh vi phạm luật đồng

nhất, ngành khoa học cũng cần phải định nghĩa, chú thích rõ các khái niệm,

các thuật ngữ, các kí hiệu của ngành mình.

Quy luật đồng nhất là quy luật vơ cùng quan trọng trong logic hình

thức. Nếu như các quy luật khác có thể đúng trong một số hệ logic hình thức

và khơng đúng trong một số hệ logic hình thức khác thì chó đến nay chưa ai

xây dựng được hệ logic hình thức nào có giá trị mà trong đó quy luật đồng

nhất khơng đúng.

2. Quy luật cấm mâu thuẫn

2.1. Đặc trưng phản ánh của quy luật cấm mâu thuẫn

Quy luật cấm mâu thuẫn phản ánh tính chất khơng mâu thuẫn của q

trình tư duy. Mâu thuẫn phá vỡ quá trình tư duy nên trong tư duy nhất định

phải tránh nó. Trong hiện thực khách quan thì mỗi sự vật, hiện tượng hay

thuộc tính nào đó của sự vật, hiện tượng trong cùng một thời gian, khơng

gian, cùng một quan hệ xác định thì khơng thể đồng thời vừa tồn tại vừa

khơng tồn tại, vừa có lại vừa khơng có.

Ví dụ:

- Tại một thời điểm, một bơng hồng khơng thể vừa có màu đỏ vừa khơng có

màu đỏ.

- Vào lúc 7h sáng thứ hai, Mai khơng thể vừa đi học vừa ở nhà.



10



Cần lưu ý rằng, mâu thuẫn mà chúng ta nói đến ở đây là mâu thuẫn hình

thức, chứ khơng phải mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn hình thức khơng thể

có được vì như đã biết, logic hình thức nghiên cứu tư duy với tư cách là sự

phản ánh các sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan trong sự đứng im

của nó, nghĩa là phản ánh hiện thực khách quan theo kiểu lý tưởng hóa.

Thực chất, quy luật mâu thuẫn khơng hề phủ nhận những mâu thuẫn tồn

tại trong thế giới khách quan. Mâu thuẫn trong thực tế là những mâu thuẫn

vốn có của sự vật, hiện tượng, nó nằm ngồi phạm vi nghiên cứu của logic

hình thức. Logic hình thức chỉ bàn đến mâu thuẫn logic, là mâu thuẫn xảy ra

nhất quán. Mâu thuẫn trong tư duy cản trở quá trình nhận thức đúng đắn bản

chất sự vật. Chính vì vậy, quy luật cấm mâu thuẫn chủ trương gạt bỏ mâu

thuẫn trong tư duy, đảm bảo cho tư duy lành mạnh, chính xác.

2.2. Cơ sở của quy luật cấm mâu thuẫn

Quy luật cấm mâu thuẫn được rút ra trên cơ sở khách quan.

- Bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng có những thuộc tính khách quan vốn có.

- Những thuộc tính đó thuộc về bản thân sự vật hiện tượng trong một không

gian, thời gian và mối quan hệ xác định.

Ví dụ: Con người khi còn bé, trưởng thành, tuổi già có đặc điểm tâm lý

khác nhau.

2.3. Nội dung của quy luật cấm mâu thuẫn

Nội dung của quy luật: “Một ý nghĩ, một tư tưởng khi đã được định

hình trong tư duy, phản ánh đối tượng ở một phẩm chất xác định thì khơng thể

mang hai giá trị logic trái ngược nhau”.

Công thức của quy luật: ˥ (a^˥a)

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×