Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG HÌNH THỨC XUẤT KHẨU GIÁN TIẾP

NHỮNG HÌNH THỨC XUẤT KHẨU GIÁN TIẾP

Tải bản đầy đủ - 0trang

5.



Nhà ủy thác xuất khẩu



1. Đại lý ủy thác xuất khẩu (nhà mua hàng xuất khẩu)

Một số công ty hoặc cá nhân không nhận ra là các sản phẩm hay dịch vụ

của họ có giá trị xuất khẩu tiềm năng cho đến khi nó được người mua là một tổ

chức nước ngồi tiếp cận, mua sản phẩm tại chính nhà máy sản xuất và nhận

trách nhiệm xuất khẩu, quảng bá và phân phối sản phẩm đó ở một hoặc nhiều

thị trường quốc tế.

Đại lý ủy thác xuất khẩu là tổ chức đại diện cho những khách hàng nước

ngoài (nước nhập khẩu) tại nước xuất khẩu. Do vậy, về cơ bản, đây là loại đại

lý mà khách mua nước ngoài thuê tại thị trường nước xuất khẩu, hoạt động dựa

trên các đơn đặt hàng hoặc đơn ủy thác mua hàng của các khách mua nước

ngoài này. Do đại lý ủy thác xuất khẩu hoạt động vì quyền lợi của khách mua,

nên khách mua phải trả phí hoa hồng cho họ. Nhà sản xuất xuất khẩu không

trực tiếp quyết định các điều khoản mua, mà điều này được diễn ra giữa đại lý

ủy thác xuất khẩu và khách mua nước ngoài.

Nhà ủy thác xuất khẩu bắt buộc phải là một khách mua nội địa. Đại lý

nghiên cứu thị trường đối với hàng hóa nào được yêu cầu mua, sau đó gửi tập

điều kiện đấu thầu đến các nhà sản xuất mời đấu thầu. Trường hợp các điều

kiện khác đều thỏa mãn thì người đấu giá thấp nhất sẽ nhận được đơn đặt hàng

và ở đây, khơng có chuyện tình cảm, bạn bè hay bất kỳ lời chiêu hàng nào.

Theo quan điểm của nhà xuất khẩu, việc bán hàng cho các đại lý ủy thác

xuất khẩu đại diện là cách dễ dàng nhất cho việc xuất khẩu. Việc thanh tốn

ngay ln được đảm bảo tại nước chủ nhà của người xuất khẩu, và các vấn đề

chuyển giao hàng hóa vật chất nói chung đều diễn ra nhanh chóng và thuận

tiện. Rủi ro tín dụng thấp, quy trình đơn giản, rõ ràng. Chỉ có một vấn đề lớn là

nhà xuất khẩu hầu như không làm chủ được thị trường quốc tế của sản phẩm.

Các doanh nghiệp nhỏ thấy rằng, đây là phương pháp dễ dàng nhất để có

được bn bán ra nước ngồi nhưng lại hồn tồn phụ thuộc vào người mua, họ

khơng có khả năng nhận thức được sự thay đổi trong hành vi của khách hàng

và hoạt động của đối thủ cạnh tranh, hoặc chủ đích của cơng ty mua hàng.

Nếu một cơng ty có ý định đầu tư dài hơi, bài bản để mở rộng thị trường

toàn cầu, họ buộc phải áp dụng một cách tiếp cận chủ động hơn, chắc chắn sẽ

liên quan đến việc hiểu rõ hơn về thị trường mà sản phẩm của họ được bán



6



2. Người môi giới

Một hình thức khác của đại lý là nhà mơi giới xuất nhập khẩu. Chức năng

chính của một nhà mơi giới là đưa người mua và người bán đến gần nhau hơn. Do đó,

nhà mơi giới là một chun gia trong việc thực hiện chức năng hợp đồng, và không

thực sự xử lý các sản phẩm được bán hoặc mua. Đối với dịch vụ của mình, người ủy

thác phải trả tiền hoa hồng (khoảng 5 phần trăm) cho người môi giới. Nhà môi giới

thường chỉ chuyên về một số loại sản phẩm nhất định. Thơng thường, một chun gia

hàng hóa có xu hướng chỉ tập trung vào một hoặc hai sản phẩm. Bởi vì các nhà mơi

giới giao dịch chủ yếu là các mặt hàng cơ bản, đối với nhiều nhà tiếp thị xuất khẩu

tiềm năng, loại đại lý này không đại diện cho một kênh phân phối thay thế thực tế.

Đặc điểm dễ phân biệt một nhà môi giới xuất khẩu là họ có thể đóng vai trò là đại lý

cho người bán hoặc người mua.

3. Công ty quản lý xuất khẩu / nhà xuất khẩu

Nhà xuất khẩu hoặc công ty quản lý xuất khẩu (EMCs) là các công ty chuyên

gia được thành lập để thực hiện nhiệm vụ của "bộ phận xuất khẩu" cho một loạt các

công ty. Do vậy, EMC hoạt động dưới danh nghĩa của từng nhà sản xuất mà nó đại

diện. Mọi sự trao đổi thư từ và ký kết hợp đồng đều được thực hiện dưới danh nghĩa

của nhà sản xuất, và tất cả các đơn đặt hàng và bảng báo giá đều do nhà sản xuất quyết

định.

Do chi phí đẩy mạnh xuất khẩu do nhiều nhà sản xuất khác cùng chi trả, nên

áp lực với các doanh nghiệp được giảm đáng kể.

EMC xử lý các tài liệu cần thiết, các kinh nghiệp chuyên mơn về thị trường địa

phương, các quy định của chính phủ là những yếu tố thuận lợi khi xâm nhập một thị

trường khó. Do đó, việc sử dụng EMC cho phép các công ty đưa các sản phẩm của họ

ra thị trường nước ngồi với chi phí thấp hơn nhiều so với chi phí họ tự làm, một số

lợi thế:

+ Mỗi EMC có chun mơn theo khu vực địa lý, sản phẩm hoặc loại khách

hàng (bán lẻ, công nghiệp hoặc tổ chức) nhất định, và nó có thể khơng trùng khớp

mục tiêu của nhà sản xuất. Vì vậy, EMC sẽ lựa chọn thị trường có lợi nhất cho mình,

thay vì nhà sản xuất.

+ EMC được trả tiền hoa hồng, do đó, họ có thể bị cám dỗ và tập trung vào các

sản phẩm có tiềm năng bán hàng ngay lập tức, thay vì những sản phẩm phải đòi hỏi

giáo dục khách hàng nhiều hơn và nỗ lực tiếp thị lâu hơn để đạt được thành cơng lâu

dài.

+ Các EMC có thể đại diện cho quá nhiều nhà sản xuất (sản phẩm) và kết quả

là một số sản phẩm khơng có được sự chú ý như mong đợi từ những người bán hàng.



7



+ Một sản phẩm cạnh tranh mà EMC đại điện có thể được quảng bá tốt hơn,

dẫn đến bất lợi cho một cơng ty sản xuất. Do đó, các nhà sản xuất nên cẩn trọng trong

việc lựa chọn một EMC phù hợp và phải sẵn sàng đầu tư nguồn lực để quản lý mối

quan hệ và giám sát hoạt động của EMC.

Khi doanh số tăng lên, nhà sản xuất có thể cảm thấy rằng mình có thể tham

gia vào thị trường quốc tế một cách thuận lợi. Tuy nhiên, q trình chuyển đổi có thể

khơng dễ dàng. Thứ nhất, cơng ty có thể đã rất phụ thuộc vào nhà xuất khẩu. Trừ khi

công ty đã xây dựng đuợc các mối liên hệ với khách hàng nước ngồi, có những kiến

thức thị trường của mình, nếu khơng rất dễ bị EMC gây khó khăn. Thứ hai, cơng ty có

thể gặp bất lợi trong việc rút khỏi hợp đồng với nhà xuất khẩu. Thứ ba, EMC có thể

thay thế các sản phẩm từ một nhà sản xuất khác và do đó sử dụng dữ liệu khách hàng

hiện tại của mình để cạnh tranh với nhà sản xuất ban đầu.

4. Công ty thương mại

Các công ty thương mại là một phần của di sản lịch sử từ những ngày thuộc

địa, mặc dù hiện nay có nhiều điểm thay đổi thì họ vẫn là những lực lượng thương mại

quan trọng ở Châu Phi và Viễn Đông. Mặc dù các công ty thương mại quốc tế đã hoạt

động trên toàn thế giới, nhưng ở Nhật Bản, khái niệm kinh doanh của công ty đã được

ứng dụng hiệu quả nhất. Có hàng ngàn cơng ty thương mại tại Nhật Bản tham gia vào

xuất khẩu và nhập khẩu, và các công ty lớn nhất (thay đổi về số lượng từ 9 đến 17 tùy

theo nguồn dự tốn) được gọi là tổng cơng ty thương mại hoặc Soge Shosha. Nhóm

các cơng ty này, bao gồm C. Itoh, Mitsui & Company và Mitsubishi Shoji Kaisha,

chiếm 50% xuất khẩu của Nhật Bản và 67% nhập khẩu. Trong khi các công ty thương

mại nhỏ hơn thường hạn chế hoạt động thương mại ở nước ngồi, thì các tổng cơng ty

thương mại lớn hơn cũng quan tâm nhiều đến việc phân phối trong nước và các hoạt

động khác.

Các công ty thương mại đóng vai trò trung tâm trong các lĩnh vực như vận tải,

kho bãi, tài chính, chuyển giao cơng nghệ, hoạch định, phát triển nguồn lực, xây dựng

và phát triển vùng (ví dụ như các dự án chìa khóa trao tay), bảo hiểm, tư vấn, bất động

sản và thiết lập quan hệ kinh doanh nói chung (gồm hỗ trợ đầu tư và liên doanh của

các công ty khác). Trong thực tế, một loạt các hoạt động tài chính đã được nêu ra là

một nhân tố cính để phân biệt tổng cơng ty thương mại với những hình thức khác. Các

dịch vụ này bao gồm bảo lãnh các khoản vay, tài trợ của cả hai khoản phải thu và phải

trả, việc phát hành các giao dịch ngoại hối lớn, đầu tư cổ phần và các khoản vay trực

tiếp.

Một khía cạnh khác của hoạt động của họ là quản lý các hoạt động giao dịch

(đổi hàng), trong đó bán hàng vào một thị trường được trả tiền bằng cách lấy các sản

phẩm khác từ thị trường đó để đổi lấy. Vai trò thiết yếu của cơng ty thương mại là tìm



8



người mua nhanh chóng cho các sản phẩm đã được trao đổi. Đơi khi điều này có thể là

một q trình tiêu tốn nhiều nguồn lực.

Giao dịch tiền tệ vẫn là một hình thức giao dịch rất phổ biến ở Đơng Âu và các

nước phát triển vì họ thiếu tiền tệ "cứng". Một trong những động lực để các doanh

nghiệp phương Tây thâm nhập thương mại ngược lại là các nguồn nguyên liệu sản

xuất giá rẻ để sử dụng trong sản xuất của công ty (Okoroafo, 1994).

5. Hợp tác xuất khẩu (Piggyback)

Nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, “rider” – nhà sản

xuất sẽ đàm phán với một công ty lớn hơn (“carrier” - Đối tác xuất khẩu) đã hoạt động

ở một số thị trường nước ngoài và sẵn sàng hành động nếu “rider” muốn xuất khẩu

sang các thị trường đó. Điều này cho phép hãng bn Đối tác xuất khẩu sử dụng các

cơ sở xuất khẩu là các công ty con bán hàng và phân phối ở nước ngoài. Họ được trả

tiền hoa hồng và hoạt động như một đại lý, mặt khác, mua sản phẩm và bán như một

nhà phân phối độc lập. Các sản phẩm sử dụng hình thức xuất khẩu này thường đến từ

các công ty không cùng ngành, không cạnh tranh mà liên minh.

Đôi khi Đối tác xuất khẩu sẽ nhấn mạnh rằng các sản phẩm của nhà sản xuất có

phần tương tự như của họ, do đó cần đàm phán về các truy vấn kỹ thuật và dịch vụ

hậu mãi trong lĩnh vực này. Chính sách thương hiệu và quảng cáo là biến số trong hợp

tác xuât khẩu. Trong một số trường hợp Đối tác xuất khẩu có thể mua các sản phẩm,

đặt thương hiệu riêng của họ lên chúng, và cho họ làm sản phẩm riêng của mình (nhãn

riêng). Thơng thường, hãng buôn giữ lại tên thương hiệu của nhà sản xuất và đưa ra

các thỏa thuận quảng cáo. Việc lựa chọn thương hiệu và chiến lược quảng cáo có ảnh

hưởng quan trọng đối với thương hiệu sản phẩm và việc thiết lập thương hiệu đó.

Hợp tác xuất khẩu có những ưu điểm / nhược điểm sau đối với nhà sản xuất và Đối tác

xuất khẩu:

Đối tác xuất khẩu (Carrier)

Thuận lợi:

Một cơng ty có sự thiếu hụt trong dòng sản phẩm hay năng suất dư thừa trong

hoạt động xuất khẩu có hai lựa chọn. Một là phát triển dòng sản phẩm và hai bổ

sung cho hoạt động xuất khẩu của nó. Tùy chọn khác có thể cần thiết với các

sản phẩm bên ngoài bởi hợp tác xuất khẩu. Hợp tác xuất khẩu phải tiếp nhận

được sản phẩm một cách nhanh chóng (đã có rồi). Nó cũng là một cách giảm

chi phí sản phẩm bởi vì Đối tác xuất khẩu khơng phải đầu tư vào R & D, cơ sở

vật chất hoặc thử nghiệm thị trường cho sản phẩm mới. Nó có thể chọn sản

phẩm từ một nhà sản xuất khác, đó cũng là một cách cơng ty có thể mở rộng

phạm vi sản phẩm của mình mà khơng cần phải phát triển và sản xuất thêm sản

phẩm.

9



Bất lợi:

Hợp tác xuất khẩu có thể cực kỳ hấp dẫn cho Đối tác xuất khẩu, nhưng lại tồn

tại một số lo ngại về việc kiểm soát chất lượng và bảo hành. Liệu nhà sản xuất

có duy trì chất lượng khi thương hiệu sản phẩm được bán bởi một công ty

khác? Điều này phụ thuộc một phần vào tên thương hiệu của họ có được thể

hiện trên sản phẩm hay khơng. Nếu có thì chất lượng sản phẩm có thể được lưu

ý hơn. Mối lo lắng thứ hai là năng suất nguồn cung. Nếu Đối tác xuất khẩu phát

triển một thị trường rộng lớn ở nước ngoài, liệu nhà sản xuất sẽ phát triển năng

lực sản xuất của mình bằng cách nào (nếu cần thiết)? Mỗi mục phải tuân theo

thỏa thuận giữa hai bên. Nếu thỏa thuận tốt thì nó sẽ là một cơ hội tiềm năng

cho Đối tác xuất khẩu và nhà sản xuất cũng tìm được một đối tác mua lại tốt,

điều kiện cho một mối quan hệ liên minh chặt chẽ

Nhà sản xuất (rider):

Ưu điểm:

Nhà sản xuất có thể xuất khẩu thuận tiện mà không cần phải thiết lập hệ thống

phân phối của riêng mình. Họ có thể quan sát cẩn thận cách Đối tác xuất khẩu xử lý

hàng hóa và từ đó học hỏi từ kinh nghiệm của nhà cung cấp dịch vụ cho đến khi có thể

tiếp quản các giao dịch xuất khẩu của riêng mình.

Nhược điểm:

Đối với cơng ty nhỏ hơn, loại thỏa thuận này có nghĩa là từ bỏ quyền kiểm sốt

việc tiếp thị sản phẩm của mình. Công ty sẽ mất cơ hội bán hàng béo bở ở các khu vực

không thuộc phạm vi của Đối tác xuất khẩu. Tóm lại, xuất khẩu gián tiếp cung cấp

một cách dễ dàng, ít rủi ro cho một cơng ty bắt đầu hoạt động tiếp xuất khẩu. Nó đặc

biệt thích hợp cho các nhà sản xuất hoặc là quá nhỏ để đi theo hướng xuất khẩu hoặc

không muốn đầu tư mạnh vào marketing toàn cầu.

CASE STUDIES

A. Sản phẩm Parle: Bánh quy Ấn Độ đang tìm kiếm đại lý và đối tác hợp



tác trong các thị trường xuất khẩu mới

Thời gian trước, khi mà người Anh cai trị Ấn Độ, một nhà máy nhỏ đã được

thành lập tại vùng ngoại ô Mumbai để sản xuất đồ ngọt và cà phê. Năm 1929, thị

trường bị thống trị bởi một thương hiệu quốc tế nổi tiếng được tự do nhập khẩu. Mặc

dù có tỉ lệ và sự cạnh tranh bất bình đẳng, cơng ty Parle products

(www.parleproducts.com) vẫn tồn tại và thành công bằng việc tôn trọng chất lượng và

ứng biến theo thời gian.

Ngày nay, Parle chiếm 40% thị phần bánh quy Ấn Độ và 15% thị phần của

tổng thị trường bánh kẹo Ấn Độ. Các nhãn hiệu Parle Biscuit, chẳng hạn như Parle-G,

10



Monaco và Krackjack Melody. Poppins, Mangobite và Kismi đều tham gia vào một

hình ảnh mạnh mẽ, và hấp dẫn người tiêu dùng. Nếu bạn nghĩ rằng các cơng ty gia

đình điển hình Ấn Độ khơng thể đứng top trên biểu đồ thương hiệu thế giới, hãy suy

nghĩ lại. Thương hiệu bánh bích quy, Parle G, đã chứng tỏ niềm tin sai lầm khi trở

thành thương hiệu bánh quy bán chạy nhất trên thế giới. Tuy nhiên tại hầu hết thị

trường Châu Âu, Parle Products phải chiến đấu chống lại đối thủ cạnh tranh cụ thể,

United Biscuits (nhà sản xuất của MCVitie’s). Trên tất cả thị trường Châu Âu, thị phần

của Parle products là vô cùng nhỏ.

United Biscuits(UB)

United Biscuits được sáng lập năm 1948 và sau khi sáp nhập hai doanh nghiệp

gia đình Scottland- McVitie &Price và McFarlae Lang. Năm 1960 UB bổ sung vào

danh mục đầu tư của mình với việc mua lại thương hiệu bánh quy của Crawford và

bánh quy của MacDonald. Năm 2000 UB đã được mua lại bởi Finalrcalm, Một tập

đoàn đầu tư, và trở lại trạng thái là một công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân.

Sức mạnh thương hiệu (Brand muscle)

Các thương hiệu của UB xấp hạng một hoặc hai trong 7 nước. Họ có 5 trong 10

thương hiệu bánh quy hàng đầu tại Vương quốc Anh, Pháp và Tây ban Nha, và bốn

trong số 10 thương hiệu đồ ăn nhẹ hàng đầu nước Anh. Hơn 89% hộ gia đình ở Anh

đã mua sản phẩm của McVite vào năm 2001. Bất kì ai cũng đồng ý rằng nó có “Brand

muscle”

Customer insight

Vị trí độc đáo của UB là công ty bán đồ ăn nhẹ lớn nhất của Vương quốc Anh,

với danh mục đầu tư cân bằng về cả thương hiệu ngọt và mặn, mang đến cho người

dùng sự hiểu biết độc đáo về cách phản ứng hiệu quả để đáp ứng hiệu quả với mong

muốn và nhu cầu của người tiêu dùng.

Parle Products

Parle Products là công ty hàng đầu trong danh mục bánh quy ngọt và mặn

nhưng lại khơng có sự hiện diện mạnh mẽ trong phân khúc cao cấp, Hide-n-Seek chỉ

là thương hiệu duy nhất có mặt trong phân khúc này.

Mạng lưới phân phối rộng khắp, được xây dựng qua nhiều năm, là một thế

mạnh lớn cho các sản phẩm Parle. Các sản phẩm và đồ ngọt có sẵn cho người tiêu

dùng ngay cả ở hầu hết các nơi và ở các làng nhỏ nhất ở Ấn Độ, một số nơi chỉ có 500

người.

Parle có gần 1.500 người bán buôn, phục vụ tới 425.000 cửa hàng bán lẻ trực

tiếp hoặc gián tiếp. Một lực lượng lĩnh vực chuyên dụng mạnh mẽ 200 người bán

buôn và bán lẻ. Ngồi ra, có 31 kho và đại lý hải quan và vận chuyển hàng hóa cung

cấp hàng hóa cho mạng lưới phân phối rộng khắp.

11



Triết lý tiếp thị Parle nhấn mạnh việc phục vụ cho công chúng. Công ty không

ngừng nỗ lực để thiết kế các sản phẩm cung cấp chất dinh dưỡng và niềm vui cho mọi

người. Hầu hết các dịch vụ Parle ở phân khúc giá thấp và tầm trung. Điều này được

dựa trên sự hiểu biết về tâm lý người tiêu dùng Ấn Độ. Định vị dựa trên giá trị giúp

tạo ra khối lượng bán hàng lớn cho các sản phẩm.

Các thương hiệu bánh quy toàn cầu khác bao gồm Oreso từ Nabisco và Mc

Vitie từ United Biscuits có trụ sở tại Anh. Theo báo cáo thị trường do Parle Products

tiến hành (với Parle G đứng đầu thị trường), 40% thị phần trong thị trường bánh quy

cốt lõi ở Ấn Độ. Trong phân khúc bánh kẹo, công ty tham gia 15% thị trường. Thương

hiệu Parle G phải đối mặt với sự cạnh tranh từ thương hiệu bánh quy Tiger của

Britannia, trong số những sản phẩm khác.

Thương hiệu hàng đầu của công ty, Parle G, chiếm hơn 50% tổng doanh thu

của công ty. Các loại bánh quy khác trong giỏ hàng của Parle bao gồm Marie,

Cheeslings, Jefís, Sixer và Fun Center.

1. Bạn muốn khuyến nghị khu vực nào trên thế giới cho lựa chọn thâm nhập

của Parle Product?

2. Phương thức xuất khẩu nào phù hợp nhất với các Parle Products?

3. Parle Products có thể tiến hành kiểm tra có hệ thống các nhà phân phối hoặc

đại lý tiềm năng ở các thị trường nước ngoài như thế nào?

4. Điều gì sẽ là vấn đề quan trọng nhất đối với Parle Products khi thảo luận với

nhà phân phối / đại lý tiềm năng về việc chuẩn bị hợp đồng cuối cùng?



B. Sản phẩm Honest Tea

Honest Tea là một cơng ty trà có trụ sở tại Maryland, Mỹ. Honest Tea được

thành lập vào năm 1998 để bán 'trà đá đóng chai có vị của trà”. Họ được biết đến với

dòng sản phẩm trà hữu cơ đóng chai, nhưng họ cũng sản xuất túi trà và đồ uống đóng

chai khác. Honest Tea tập trung mạnh vào trách nhiệm xã hội. Honest Tea đã trở thành

một mơ hình quan trọng của các hoạt động kinh doanh từ thiện. CEO tin rằng một

nhiệm vụ xã hội không chỉ là trách nhiệm xã hội mà còn về mặt tài chính bền vững vì

nó tăng cường lòng trung thành của khách hàng. Hy vọng là Honest Tea sẽ trở thành

một thương hiệu quốc gia nổi tiếng và sẽ có tác động trên tồn thế giới.

1. Vui lòng thảo luận về các chính sách liên quan đến trách nhiệm xã hội giúp

Honest Tea trong nỗ lực xuất khẩu của mình?

2. Bạn sẽ khuyên nghị phương pháp nghiên cứu nào để chọn đại lý phù hợp

nhất ở Đức?

12



Câu hỏi thảo luận

1. Tại sao xuất khẩu thường được coi là cách đơn giản nhất để thâm nhập vào

thị trường nước ngồi và do đó được các doanh nghiệp nhỏ và vừa ưa thích?

2. Cơng ty nên làm gì trong quá trình lựa chọn nhà phân phối?

3. Tại sao khó khăn về mặt tài chính và luật pháp – gây nên sự chấm dứt mối

quan hệ với các nhà trung gian ở nước ngồi? Cần phải làm gì để ngăn ngừa hoặc

giảm thiểu những khó khăn như vậy?

4. Xác định các cách tiếp cận thị trường nước ngoài bằng cách bán hàng trong

nước.

5. sự khác nhau giữa xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp là gì?

6. Thảo luận về các kỹ thuật tài chính và giá cả để thúc đẩy các nhà phân phối

nước ngoài 7, Các nhà xuất khẩu phải xử lý các công việc tiếp thị nào và các công ty

trung gian nào ở các thị trường nước ngoài?

8. Làm thế nào để hãng vận chuyển và người lái đều được hưởng lợi từ việc thu

xếp vận chuyển cõng thêm?

9. Khi một công ty bắt đầu xuất khẩu trực tiếp, họ phải thực hiện nhiệm vụ

nào?

10.Thảo luận về nhiều cách giao tiếp với các nhà phân phối nước ngoài.

11. Khi xuất khẩu sang một thị trường, Bạn chỉ cần tốt với những người trung

gian của bạn ở đó. Hãy thảo luận về vấn đề này

12. Các nhà marketing quốc tế và nhà trung gian có những kì vọng khác nhau

về mối quan hệ. Tại sao những kì vọng này nên được nêu rõ trong hợp đồng?

PHẦN 2: LIÊN HỆ THỰC TIỀN: XUẤT KHẨU GIÁN TIẾP



LỜI MỞ ĐẦU

Xuất khẩu gián tiếp là phương thức được các quốc gia đang phát triển trên thế

giới thường vận dụng, để đưa sản phẩm của mình thâm nhập vào thị trường thế giới

thơng qua xuất khẩu. Xuất khẩu nói chung và xuất khẩu gián tiếp nói riêng là hoạt

động ý nghĩa rất quan trọng sau đối với quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân.

Vậy xuất khẩu gián tiếp là gì? Có những đặc điểm như thế nào? Trong bài viết này

nhóm sẽ tìm hiểu về xuất khẩu gián tiếp cũng như tìm hiểu mơ hình xuất khẩu của

Cơng ty TNHH The Fruit Republic - một trong những đại diện điển hình cho hình

thức xuất khẩu gián tiếp.

13



I. Xuất khẩu gián tiếp

Xuất khẩu gián tiếp là một trong ba hình thức thâm nhập thị trường thế giới từ

sản xuất trong nước. (Bao gồm xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu gián tiếp, buôn bán đối

lưu).

1. Khái niệm

XK gián tiếp là hình thức doanh nghiệp sử dụng trung gian tại nước chủ nhà để

thực hiện việc xuất khẩu.

2. Đặc điểm xuất khẩu gián tiếp

Khơng đòi hỏi có sự tiếp xúc giữa người mua nước ngoài và người bán hàng

trong nước.

3. Đối tượng áp dụng

Xuất khẩu gián tiếp (Indirect Exporting) thường được áp dụng trong những

trường hợp phổ biến sau:

-



Công ty chưa có đủ thơng tin cần thiết về thị trường nước ngoài, như nhu cầu

và cầu cụ thể, tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh.



-



Lần đầu tiếp cận, thâm nhập thị trường



-



Quy mô kinh doanh còn nhỏ



-



Các nguồn lực có hạn, chưa thể dàn trải các hoạt động ở nước ngoài.



-



Cạnh tranh gay gắt, thị trường quá phức tạp, rủi ro cao.



-



Rào cản thương mại từ phía Nhà nước.



4. Các hình thức xuất khẩu gián tiếp

Công ty quản trị xuất khẩu (Export Management Corp – EMC)

Công ty quản lý xuất khẩu là Công ty quản trị xuất khẩu cho Công ty khác.

Các nhà xuất khẩu nhỏ thường thiếu kinh nghiệm bán hàng ra nước ngoài hoặc

không đủ khả năng về vốn để tự tổ chức bộ máy xuất khẩu riêng. Do đó, họ thường

phải thơng qua EMC để xuất khẩu sản phẩm của mình.

Các EMC khơng mua bán trên danh nghĩa của mình. Tất cả các đơn chào hàng,

hợp đồng chuyên chở hàng hóa, lập hóa đơn và thu tiền hàng đều thực hiện với danh

nghĩa chủ hàng.

Thơng thường, chính sách giá cả, các điều kiện bán hàng, quảng cáo … là do

chủ hàng quyết định. Các EMC chỉ giữ vai trò cố vấn, thực hiện các dịch vụ liên quan

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG HÌNH THỨC XUẤT KHẨU GIÁN TIẾP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×