Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thương buôn quốc tế hiểu rõ và tận dụng nhược điểm của Việt Nam để ép giá, cà phê

cùng loại của Việt Nam so với Indonesia thấp hơn từ 50 tới 70 USD thậm chí 100 USD

một tấn tuỳ thời điểm. Với cách mua này, hạt cà phê Việt Nam được phân loại theo độ ẩm

và tỷ lệ phần trăm hạt đen vỡ, trong khi Việt Nam đã có tiêu chuẩn quốc gia về cà phê

theo thông lệ quốc tế mang tên TCVN 4193: 2005, phân loại cà phê theo khuyết tật, thí dụ

khơng lẫn hạt khơng có hạt mốc hư khơng vi phạm vệ sinh an tồn thực phẩm.



Hình 1.1 Công nhân phơi trái cà phê



Do thuận mua vừa bán hay đúng hơn người mua chỉ muốn mua theo cách do họ chọn

lựa với giá rẻ. Chính vì vậy cà phê Việt Nam xấu nhất thế giới, những số liệu mà Bộ NN

&PTNT đưa l n mạng làm nhiều người giật mình: niên vụ 2006-2007 sàn giao dịch cà

phê quốc tế ở Luân Đôn thải loại hơn 700 ngàn bao cà ph kém phẩm, gần 90% trong số

này tương đương 630 ngàn tấn là cà phê Việt Nam.

Ngoài ra Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, chỉ lên tới đỉnh cao

thế giới ở vai trò nước xuất khẩu nông sản dạng thô. Trước đ trong ni n vụ 2005-2006,

tổ chức cà phê thế giới ICO cho biết khoảng 1, 5 triệu bao cà phê mỗi bao 60kg đã bị thải

loại ngay tại cảng ở 10 cảng châu Âu. Lượng cà phê phải vứt bỏ vừa nói xuất xứ từ 17

nước và vùng lãnh thổ, tuy nhiên có tới 1 triệu bao tương đương 60 ngàn tấn là của Việt

Nam.

Chất lượng cà phê xuất khẩu lại không đồng đều, nghiêm trọng hơn số lượng cà phê

xuất khẩu bị thải loại chiếm tỷ lệ cao nhất thế giới. Tuy nhiên, trong thực tế, các doanh

4



nghiệp thu mua cà phê xuất khẩu mua cà ph chín hay chưa chín đều cùng một giá. Từ

trước đến nay, chúng ta vẫn luôn cho rằng, giá trị ngành cà phê Việt Nam đạt thấp là do

chủ yếu xuất khẩu sản phẩm thô, cà phê chế biến sâu chỉ đạt chưa đầy 10% giá trị xuất

khẩu. Tuy nhiên, nhìn nhận như vậy cũng chưa thật chính xác, bởi lẽ, dù xuất khẩu thơ

nhưng nếu chất lượng nhân cao thì mức giá chắc chắn không thấp và không lo thiếu thị

trường.

1.3 Nguyên nhân, giả



đị



ƣớng cho h t cà phê Việt Nam



1.3.1 Nguyên nhân

Mặc dù cà phê xuất khẩu của Việt Nam có khối lượng lớn trong đ chủ yếu là cà phê

Robusta nhưng chất lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam chưa đồng đều đặc biệt số

lượng cà phê xuất khẩu bị thải loại còn chiếm tỷ lệ cao (hơn 80%) trong tổng số cà phê

xuất khẩu bị thải loại của thế giới. Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất

lượng cà phê nhân xuất khẩu như kỹ thuật trồng trọt và thu hái chưa tốt, tình trạng thu hái

đồng loạt cả quả xanh, quả non còn khá phổ biến; cơ sở vật chất phục vụ sơ chế bảo quản

cà phê còn thiếu thốn; cơ chế giá thu mua cà ph tươi chưa khuyến khích người sản xuất

quan tâm đến chất lượng, nhất là khâu thu hoạch phơi sấy, phân loại. Mặt khác hầu hết cà

phê của Việt Nam hiện nay dựa trên sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán; việc phân

loại chất lượng theo tỷ lệ hạt đen hạt vỡ là cách phân loại đơn giản và lạc hậu mà hầu hết

các nước xuất khẩu cà phê trên thế giới khơng còn áp dụng. Đây là l do các nhà nhập

khẩu đánh tụt cấp chất lượng của các lơ hàng và làm giảm uy tín chất lượng chung của cà

phê Việt Nam.

Những năm trước đây do sợ mất cắp n n các vườn cà phê có tỷ lệ quả chín mới đạt

khoảng 60%, các nơng hộ đã thu hoạch bằng hình thức tuốt cành đại trà (quả cà phê chín

lẫn quả xanh non). Mặt khác phương thức thu mua của các đại l cũng chưa khuyến

khích được các nông hộ sản xuất cà phê phân loại thu hái quả chín vì giá bán sản phẩm cà

phê quả chín và quả xanh khơng có sự khác biệt nhiều. Với hình thức thu hoạch này, các

nơng hộ khơng những tự mình gây thiệt hại lớn về kinh tế, thất thốt sau thu hoạch (từ

10% trở lên) mà còn làm giảm chất lượng sản phẩm cà phê nhân xuất khẩu.



5



Quả cà phê phải chín mới lấy được cái nhân tốt nhưng họ hái quả chín quả xanh ln

một lần. Khi phơi thì phơi ngay tr n sân tr n đường, con vịt con gà đi qua…những thứ đ

làm cho mất cái phẩm chất rất thơm ngon của cà phê Việt Nam cạnh tranh tr n trường

quốc tế. Đi hái cà ph khổ một nỗi không c công lao động, khi quyết định hái là người ta

hái cùng một loạt rõ ràng như thế không đạt phẩm chất. Nhưng cũng c những kh khăn

phức tạp, khi một lơ quả chín được hái họ cũng phải hái ln lơ còn xanh vì nếu khơng sẽ

khơng c người canh gác. Còn về khâu sau thu hoạch thuộc về các đại gia doanh nghiệp

sơ chế và xuất khẩu.



Hình 1.2 Phơi trái cà phê sau thu hoạch



Hiện nay, hầu hết nông dân Tây Nguy n phơi cà ph tr n nền sân, dựa hoàn toàn vào

thời tiết, cho nên nếu khơng đủ nắng thì hạt dễ bị đen mà gặp mưa thì dễ mốc. Chính vì

vậy khi bán chất lượng không bảo đảm. Công ty cũng khơng dám mua giá cao vì biết rõ

mình xuất đi cũng không được giá. Đ là chưa kể đến hiện tượng người dân thường

không thu hoạch theo phương pháp lựa quả chín mà đánh đồng, thu hoạch lẫn cả quả xanh

để đỡ tốn chi phí th nhân cơng. Chính vì vậy, hạt không đồng đều, dễ vỡ sau khi phơi

sấy, khiến cà phê nhân mất giá. Tất nhi n để hồn thiện khâu sau thu hoạch thì cần đầu tư

máy móc, cơng nghệ. Đối với người nơng dân, việc đầu tư không đơn giản bởi cần số tiền

tương đối lớn. Với doanh nghiệp, nhờ c máy tách đá máy bắn hạt đen máy đánh b ng

hạt cho nên có thể phân loại được cà phê nhân bán theo từng mức giá. Nhưng ngay từ

khâu sau thu hoạch của người nông dân, chất lượng cà ph đã khơng cao thì doanh nghiệp

cũng không thể làm chủ được giá khi bán cho các nhà nhập khẩu.



6



Rất may xuất khẩu cà phê của Việt Nam là thuận mua vừa bán, khơng có chuyện trả

về như một số thông tin lầm tưởng. Điểm đáng n i ở đây dù phải “vứt bỏ” nhiều đến thế

mà các nhà buôn vẫn muốn mua theo thể thức không áp dụng tiêu chuẩn quốc gia của

Việt Nam. Và cách mua này dẫn tới việc nông dân tiếp tục hái quả non cho lợi thời gian

và tránh nạn hái trộm cà phê.



Hình 1.3 Nơng dân thu hoạch cà phê



Máy móc, thiết bị sơ chế của người dân còn lạc hậu, cộng với nguyên liệu thu hoạch

không đáp ứng đủ tiêu chuẩn về độ chín, tạp chất dẫn đến chất lượng cà phê còn thấp.

Nhìn chung, cơng nghiệp chế biến cà phê nhân trong cả nước đang còn rất phân tán và

khá tùy tiện. Trừ một số đơn vị quốc doanh và cơng ty xuất khẩu có trang bị xưởng chế

biến quy mô vừa tr n 80% lượng cà ph làm ra được chế biến trong các hộ gia đình bằng

những công nghệ giản đơn phơi khô tự nhiên, xay xát bằng những máy không đảm bảo

tiêu chuẩn kỹ thuật nên chất lượng còn thấp.

1.3.2 Giả



đị



1.3.2.1 P ƣơ



ƣớng cho h t cà phê Việt Nam

bi n ả



ƣởng nhiề đ n chấ ƣợng cà phê



Năng lực công nghệ của ngành được quyết định bởi khả năng của các doanh nghiệp.

Cuộc điều tra năng lực công nghệ của ngành cà ph thuộc dự án điều tra năng lực một số

ngành kỹ thuật đã cho thấy: nhìn tổng qt trình độ cơng nghệ của các doanh nghiệp sản

xuất kinh doanh chế biến ngành cà ph đã lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ chưa đạt được trình

độ khu vực sản phẩm c chất lượng thấp chưa đủ sức cạnh tranh với sản phẩm của các

doanh nghiệp nước ngoài.



7



Trong các thành phần tạo ra năng lực công nghệ của các doanh nghiệp yếu nhất là

năng lực đổi mới. Tồn tại này c nhiều nguy n nhân, song cơ bản là chưa c những cơ

quan nghi n cứu tư vấn hỗ trợ cho doanh nghiệp về công nghệ chưa thực hiện được

những nội dung nghi n cứu mà họ mong đợi và chưa c được những năng lực thực sự để

triển khai những nội dung đổi mới cần phải làm.

Để tách được nhân quả khơ quy trình chế biến được áp dụng phổ biến là dùng các

máy xát b c vỏ quả khô để c cà ph nhân dạng này ngoài các cơ sở mang tính sản xuất

gia đình còn c một số cơ sở nhỏ xát thu



đảm nhận số lớn sản phẩm cà ph tư nhân



những cơ sở này thường c quy mô từ một đến vài ba trăm tấn mỗi năm.

Ngoài hệ thống sơ chế chế biến quả tươi và khô tại nhiều địa phương đã xây dựng

những cơ sở tái chế cà ph nhân sống với các hệ thống sấy bổ sung làm sạch phân loại

đánh b ng loại bỏ hạt lép hạt đen… nhằm cải thiện chất lượng cà ph nhân xuất khẩu

song số này không nhiều mới c ở các thành phố lớn một số vùng nguy n liệu tập trung

và cơ sở li n doanh với nước ngoài (hệ thống máy chọn màu loại hạt đen mới chỉ c ở 3

cơ sở tái chế cà ph nhân ở Đăklăk; hệ thống máy sấy và sàng phân loại hạt mới được

trang bị trong các cơ sở sản xuất quy mô lớn và các công ty xuất khẩu trực tiếp cà ph …)

Đại bộ phận công việc tuyển chọn hạt cà ph còn dùng lao động thủ cơng với năng suất

thấp và chất lượng còn nhiều hạn chế.

Nhìn chung do đầu tư thiếu đồng bộ thiết bị lạc hậu cũ nát. Mặt khác công nghiệp

trong nước lại thiếu quan tâm n n chế biến đang còn là một khâu yếu kém nhất trong sản

xuất cà ph ở Việt Nam.

1.3.2.2 Cầ đầ



ƣ



ệ ch bi



để ă



ấ ƣợng và giá trị



Nhìn lại tồn bộ công nghệ sản xuất cà ph nhân sống hiện nay ở nước ta thì cơng

nghệ chế biến đang là khâu yếu kém nhất nhưng lại thiếu sự chú



từ tầm doanh nghiệp



đến các tổ chức nghi n cứu hỗ trợ KH&CN đặc biệt là sự quan tâm của các tổ chức quản

l Nhà nước. Cho đến nay ngành cà ph vẫn chưa định hình được cơng nghệ chế biến cần

thiết đến từng vùng và cơ sở sản xuất cơ sở vật chất chế biến không tương xứng với sản

lượng quả tươi sản xuất hàng năm. Các doanh nghiệp và các hộ gia đình vẫn chỉ đầu tư

mạnh vào việc mở rộng diện tích sản xuất cà ph nhưng lại chưa chú

8



đúng mức đến



công nghệ chế biến để rồi phải bán quả xô (sau khi xay cà ph quả khô ta thu được cà

ph nhân và vỏ th c cà ph các nhân cà ph này được gọi là cà ph xơ vì chưa được phân

loại).

Dễ dàng nhận thấy là cơng nghệ chế biến cà ph đã không theo kịp sự phát triển nhanh

quá mức của việc mở rộng diện tích gieo trồng hạn chế này đã gây thiệt hại không nhỏ và

lâu dài cho người sản xuất đặc biệt là đối với nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm

cà ph . Từ đây phát triển công nghiệp chế biến cần được coi là nhiệm vụ quan trọng

trong tiến trình cải thiện nâng cao chất lượng sản phẩm và g p phần để ngành cà ph Việt

Nam đủ điều kiện tham gia thực hiện đầy đủ những quy định của AFTA trong thời gian

tới. Để làm việc này ngoài những nội dung cần thiết để nâng cao năng lực chế biến thiết

nghĩ việc không kém phần cấp bách là sớm hình thành một số xí nghiệp chế tạo thiết bị

ti n tiến chế biến cà ph để cung ứng đủ máy m c và thiết bị chuy n dùng cần thiết cho

ngành cà ph nước ta.

Cũng như nhiều loại nông sản khác việc phát triển ngành cà ph đang dang dở ở tất cả

các khâu từ sản xuất chế biến đến ti u thụ. Từ trước nay chúng ta vẫn luôn cho rằng giá

trị ngành hàng cà ph Việt Nam đạt thấp là do chủ yếu xuất khẩu sản phẩm thô cà phê

chế biến sâu chỉ đạt chưa đầy 10% giá trị xuất khẩu. Tuy nhi n nhìn nhận như vậy cũng

chưa thật chính xác bởi lẽ dù xuất khẩu thơ nhưng nếu chất lượng nhân cao thì mức giá

chắc chắn không thấp và không lo thiếu thị trường. Theo ơng Nguyễn Tiến Dũng Trưởng

phòng Dự án cà ph bền vững (Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2-9 DakLak) thì:

Các đối tác nhập khẩu cà ph nhân của nước ta cũng tính mức giá dựa tr n chất lượng cà

ph hạt thô như độ b ng sự đồng đều không đen mốc… Nhưng ngay cả những yếu tố

cơ bản đ



chúng ta cũng làm chưa tốt cụ thể là khâu chế biến sơ ngay sau thu hoạch là



hái, phân loại phơi sấy.

Như vậy có thể thấy rằng, tiếng là nước xuất khẩu cà phê thứ hai thế giới, công nghệ

sản xuất cà phê của Việt Nam lại lạc hậu và cần phải được nâng cao hơn nữa để làm tăng

chất lượng cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm.



9



CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ MÁY PHÂN LOẠI MÀU SẮC

2.1 Nguyên lý làm việc của máy tách màu g o

Nguyên tắc làm việc cơ bản của máy tách màu gạo là sự khác biệt màu sắc giữa gạo

tốt và gạo xấu (không mong muốn). Trước hết, máy tách màu sẽ chuyển đổi các tín hiệu

hình ảnh thành tín hiệu điện tử bằng thông tin từ cảm biến và yếu tố phức tạp khác sau đ

do có sự khác biệt giữa các hạt gạo tốt và các hạt gạo xấu nên kết quả tương ứng là cũng

có một sự khác biệt về tín hiệu điện tử giữa các hạt gạo tốt và các hạt gạo xấu. Người sử

dụng có thể điều chỉnh mức độ tín hiệu điện tử là "an tồn" đối với các hạt gạo tốt và các

hạt gạo xấu khác là "nguy hiểm". Khi một hạt gạo đi qua máy tách màu, nếu tín hiệu điện

tử nhận được là "an tồn", khơng có gì xảy ra và gạo tốt sẽ chảy xuống khay chứa gạo tốt,

nhưng nếu tín hiệu điện tử nhận được là "nguy hiểm", bộ súng bắn khí sẽ được khởi động

để thổi bay các hạt gạo xấu hoặc khơng mong muốn.



Hình 2.1 Ngun lý máy tách hạt màu



Gạo được chứa trong phễu chứa (Material Hopper), các bộ rung định lượng (Vibratory

Feeder) sẽ đưa các dòng gạo vào các máng trượt (Chute) một cách đều đặn. Khi hạt gạo

được đưa đến khu vực của cảm biến (Sensors) thường là các CCD camera hoặc cảm biến

10



màu, hạt gạo được chiếu sáng bởi các đèn (Lamps) thường là đèn công nghệ LED tuổi

thọ cao, dựa trên sự khác nhau về màu sác của hạt gạo tốt (ví dụ có màu vàng) với hạt gạo

xấu (ví dụ có màu nâu), tín hiệu điện tử từ các cảm biến (Sensors) sẽ truyền về bộ xử lý

tín hiệu (Signal Processor), nếu tín hiệu điện tử nhận được là "nguy hiểm", bộ xử lý tín

hiệu (Signal Processor) sẽ gửi lệnh tới bộ súng bắn khí (Ejector) và bộ súng bắn khí

(Ejector) sẽ được khởi động để thổi bay các hạt gạo xấu bằng dòng khí nén được cung cấp

bởi máy nén khí (Compressed Air). Kết quả cuối cùng là hạt gạo tốt sẽ rơi xuống khay

chứa Accepts và các hạt gạo xấu sẽ bị thổi sang khay chứa Rejects.

2.2 M y



ủ DC E AB



Máy tách màu gạo của DCSELAB (phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia điều khiển

số và kĩ thuật hệ thống - trường Đại học Bách Khoa Đại học quốc gia TP HCM) là thiết bị

nằm trong công đoạn cuối của dây chuyền chế biến gạo chất lượng cao. Sản phẩm ứng

dụng kỹ thuật ti n tiến nhất hiện nay sử dụng cảm biến nhận dạng hình ảnh với chức

năng xử l tín hiệu kỹ thuật số tốc độ cao.

Đây là một trong những kết quả nghi n cứu nổi bật trong năm 2013 mà DCSELAB đã

chế tạo thành công theo đơn đặt hàng từ Cơng ty CP Cơ khí chế tạo máy Long An

(LAMICO).

2.2.1



ố ĩ







-



Thiết bị đầu phun đáp ứng cao với tần số phun 1000Hz;



-



Cơng suất khí nén 30Hp;



-



Cơng suất từ 5~10 tấn/h;



-



Năng lượng điện cung cấp 8kW/h;



-



Độ chính xác tr n 80%;



-



Kết cấu máng nghi ng và bộ phận rung tiết kiệm năng lượng;



-



Sử dụng camera nhận dạng nhanh;



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×