Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng theo chức năng hoạt động và sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

- Doanh thu từ tiêu thụ khác, bao gồm:

+ Doanh thu do liên doanh liên kết mang lại.

+ Thu nhập từ các hoạt động thuộc các nghiệp vụ tài chính như:

thu về tiền lãi gửi ngân hàng, lãi về tiền vay các đơn vị và các tổ chức

khác, thu nhập từ đầu tư cổ phiếu, trái phiếu.

+ Thu nhập bất thường như: thu từ tiền phạt, tiền bồi thường, nợ

khó đòi đã chuyển vào thiệt hại.

+ Thu nhập từ các hoạt động khác như: thu về nhượng bán, thanh

lý tài sản cố định; giá trị các vật tư, tài sản thừa trong sản xuất; thu từ

bản quyền phát minh, sáng chế; tiêu thụ những sản phẩm chế biến từ phế

liệu, phế phẩm.

Để tìm hiểu rõ hơn về doanh thu, chúng ta tiếp cận một số khái

niệm có liên quan:

- Doanh thu thuần về bán hàng, cung cấp dịch vụ: là doanh thu về

bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ, các khoản thuế.

Các khoản giảm trừ gồm giảm giá hàng bán, hàng bán bị gửi trả lại, chiết

khấu thương mại.

- Doanh thu thuần: là doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp

dịch vụ cộng cho các khoản hồn nhập như dự phòng giảm giá hàng tồn

kho, phải thu nợ khó đòi khơng phát sinh trong kỳ báo cáo.

c) Vai trò của doanh thu:

Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng của doanh nghiệp, chỉ tiêu

này không những có ý nghĩa với bản thân doanh nghiệp mà còn có ý

nghĩa quan trọng đối với nền Kinh tế quốc dân.



SVTH: Nhóm 4



Trang 15



Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



Doanh thu bán hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tồn bộ doanh

thu của doanh nghiệp. Nó phản ánh quy mơ của q trình tái sản xuất,

phản ánh trình độ tổ chức chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Bởi lẽ có được doanh thu bán hàng chứng tỏ doanh nghiệp sản xuất sản

phẩm được người tiêu dùng chấp nhận: rằng sản phẩm đó về mặt khối

lượng, giá trị sử dụng, chất lượng và giá cả đã phù hợp với nhu cầu thị

hiếu của người tiêu dùng.

Doanh thu bán hàng còn là nguồn vốn quan trọng để doanh nghiệp

trang trải các khoản chi phí về tư liệu lao động, đối tượng lao động đã

hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh (SXKD), để trả lương,

thưởng cho người lao động, trích Bảo hiểm xã hội, nộp thuế theo Luật

định…

Thực hiện doanh thu bán hàng là kết thúc giai đoạn cuối cùng của

quá trình chu chuyển vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất

sau. Vì vậy việc thực hiện doanh thu bán hàng có ảnh hưởng rất lớn đến

tình hình tài chính và q trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Nếu vì lý

do nào đó mà doanh nghiệp sản xuất khơng thực hiện được chỉ tiêu

doanh thu bán hàng hoặc thực hiện chậm đều làm cho tình hình tài chính

của doanh nghiệp gặp khó khăn và ảnh hưởng đến q trình SXKD của

doanh nghiệp.

d) Những nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu:

Doanh thu bán hàng hằng năm nhiều hay ít do nhiều nhân tố quyết

định. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến doanh thu bán hàng là:

- Khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ: khối lượng sản phẩm

sản xuất hoặc lao vụ, dịch vụ cung ứng càng nhiều thì mức doanh thu

bán hàng càng lớn. Tuy nhiên, khối lượng sản phẩm tiêu thụ khơng chỉ



SVTH: Nhóm 4



Trang 16



Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm sản xuất mà còn phụ thuộc vào tình

hình tổ chức cơng tác tiêu thụ sản phẩm như: việc ký kết hợp đồng tiêu

thụ với các khách hàng, việc quảng cáo, tiếp thị, việc xuất giao hàng, vận

chuyển và thanh toán tiền hàng, giữ vững kỷ luật thanh tốn…Tất cả các

việc trên nếu làm tốt đều có tác động nâng cao doanh thu bán hàng. Việc

hoàn thành kế hoạch tiêu thụ là nhân tố quan trọng quyết định doanh thu

bán hàng.

- Kết cấu mặt hàng: khi sản xuất, có thể có những mặt hàng sản

xuất tương đối giản đơn, chi phí tương đối thấp nhưng giá bán lại tương

đối cao nhưng cũng có những mặt hàng tuy sản xuất phức tạp, chi phí

sản xuất cao, giá bán lại thấp. Do đó, việc thay đổi kết cấu mặt hàng sản

xuất cũng ảnh hưởng đến doanh thu bán hàng. Mỗi loại sản phẩm, dịch

vụ cung ứng đều có tác dụng nhất định nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất

và tiêu dùng xã hội. Vì vậy khi phấn đấu tăng doanh thu, các doanh

nghiệp phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các hợp đồng đã ký với khách

hàng nếu không sẽ mất khách hàng, khó đứng vững trong cạnh tranh.

- Chất lượng sản phẩm: chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch

vụ được nâng cao khơng những có ảnh hưởng tới giá bán mà còn ảnh

hưởng tới khối lượng tiêu thụ. Sản phẩm có chất lượng cao, giá bán sẽ

cao. Nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng cung ứng dịch vụ sẽ

tăng thêm giá trị sản phẩm và giá trị dịch vụ, tạo điều kiện tiêu thụ dễ

dàng, nhanh chóng thu được tiền bán hàng và tăng doanh thu bán hàng.

- Giá bán sản phẩm: trong trường hợp các nhân tố khác khơng đổi,

việc thay đổi giá bán có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hay giảm

doanh thu bán hàng. Thơng thường chỉ những sản phẩm, những cơng

trình có tính chất chiến lược đối với nền Kinh tế quốc dân thì Nhà nước



SVTH: Nhóm 4



Trang 17



Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



mới định giá, còn lại do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định.

Doanh nghiệp khi định giá bán sản phẩm hoặc giá dịch vụ phải cân nhắc

sao cho giá bán phải bù được phần tư liệu vật chất tiêu hao, đủ trả lương

cho người lao động và có lợi nhuận để thực hiện tái đầu tư.

2.1.1.2 Phương pháp lập kế hoạch doanh thu bán hàng

Để lập doanh thu bán hàng có hai phương pháp:

a) Phương pháp lập doanh thu bán hàng theo đơn đặt hàng của

khách hàng:

Phương pháp này căn cứ vào các hợp đồng đặt hàng của khách

hàng để lập kế hoạch doanh thu bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ của

doanh nghiệp.

Lợi thế của phương pháp này là đảm bảo sản phẩm của doanh

nghiệp sản xuất ra sẽ tiêu thụ được hết. Phương pháp này sẽ khó thực

hiện nếu như khơng có đơn đặt hàng trước của khách hàng.[2]

b) Lập kế hoạch doanh thu bán hàng căn cứ vào kế hoạch sản

xuất của doanh nghiệp:

Theo phương pháp này, doanh thu bán hàng phụ thuộc vào số

lượng sản phẩm tiêu thụ hoặc dịch vụ cung ứng và giá bán của đơn vị

sản phẩm hoặc cước phí của đơn vị.

* Doanh thu được thể hiện qua công thức sau:

Doanh thu bán hàng

Tổng GT sản lượng



=



X



Giá trị HH sản xuất

Tổng GT sản luợng



X



Doanh thu bán hàng

Giá trị HH sản xuất



Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Hệ số tiêu thụ hàng hoá =



SVTH: Nhóm 4



Giá trị sản phẩm sản xuất



Trang 18



Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



Doanh thu bán hàng

Tổng GT sản lượng X Hệ số sản xuất hàng hố

X Hệ số tiêu thụ hàng hố

=



- Giải thích ý nghĩa các thành phần trong công thức:

+ Doanh thu bán hàng: bao gồm toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất

và dịch vụ mà lao động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm ra

trong kỳ phân tích;

+ Tổng giá trị sản lượng: là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền, phản ánh

tồn bộ kết quả trực tiếp, hữu ích của HĐSXKD của doanh nghiệp trong

một thời kỳ nhất định;

+ Giá trị hàng hóa sản xuất : là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền, bao

gồm toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất, sản phẩm dịch vụ mà doanh

nghiệp đã sản xuất và hồn thành trong kỳ phân tích, chuẩn bị đưa ra

trao đổi trên thị trường hàng hóa;

- Hệ số sản xuất hàng hoá = Giá trị HH sản xuất /Tổng GT sản lượng

- Hệ số tiêu thụ hàng hoá = Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch

vụ/ Giá trị sản phẩm sản xuất.

2.1.1.3 Ý nghĩa của việc phân tích doanh thu

Doanh thu phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, do đó để có thể

khai thác các tiềm năng nhằm tăng doanh thu, cần tiến hành phân tích

thường xuyên đều đặn. Việc đánh giá đúng đắn tình hình doanh thu tiêu

thụ về mặt số lượng, chất lượng và mặt hàng, đánh giá tính kịp thời của

tiêu thụ giúp cho các nhà quản lý thấy được những ưu, khuyết điểm

trong q trình thực hiện doanh thu để có thể đề ra những nhân tố làm



SVTH: Nhóm 4



Trang 19



Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



tăng và những nhân tố làm giảm doanh thu. Từ đó, hạn chế, loại bỏ

những nhân tố tiêu cực, đẩy nhanh hơn nữa những nhân tố tích cực, phát

huy thế mạnh của doanh nghiệp nhằm tăng doanh thu, nâng cao lợi

nhuận, vì doanh thu là nhân tố quyết định tạo ra lợi nhuận.

Doanh thu đóng vai trò quan trọng trong suốt q trình sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh thu càng lớn lợi nhuận càng cao,

bởi vậy chỉ tiêu này là cơ sở để xác định lãi, lỗ sau một quá trình sản

xuất kinh doanh. Do đó, đơn vị muốn tăng lợi nhuận thì vấn đề trước tiên

cần phải quan tâm đến là doanh thu.[4]

2.1.2 Chi phí

2.1.2.1 Khái niệm chi phí

Chi phí là biểu hiện bằng tiền của tồn bộ hao phí về lao động

sống, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp chi ra để

tiến hành hoạt động sản xuất trong một kỳ kế toán nhất định (tháng, quý,

năm)

2.1.2.2 Phân loại chi phí

a. Phân loại theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí

Theo cách phân loại này, phân loại căn cứ vào nội dung, tính chất

kinh tế của chi phí khơng phân biệt chúng phát sinh ở đâu, dùng vào mục

đích gì để chia thành các yếu tố chi phí, bao gồm 5 loại:

- Chi phí ngun vật liệu: là tồn bộ giá trị ngun vật liệu, công

cụ dụng cụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế,… sử dụng cho kinh doanh

trong kỳ.

- Chi phí nhân cơng: là tiền lương chính, tiền lương phụ các khoản

trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) và các khoản phải trả

khác cho cơng nhân viên chức trong kỳ.



SVTH: Nhóm 4



Trang 20



Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là phần giá trị hao mòn của tài

sản cố định chuyển dịch vào chi phí SXKD trong kỳ.

- Chi phí mua ngồi: là các khoản tiền điện, nước, thuê mặt bằng…

- Chi phí khác bằng tiền: là những chi phí sản xuất kinh doanh

khác chưa được phản ánh trong các chi phí nói trên nhưng đã chi bằng

tiền như: chi phí tiếp khách, hội nghị,…[3, 11-12]

b. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Có 2 loại chi phí là chi phí sản xuất và chi phí ngồi sản xuất.

- Chi phí sản xuất: là tồn bộ chi phí liên quan đến việc chế tạo

sản phẩm hoặc dịch vụ trong một thời kỳ nhất định.

Đối với doanh nghiệp sản xuất:

+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: khoản mục chi phí này bao

gồm các loại nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản

phẩm. Trong đó, nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể

chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với

ngun vật liệu chính để hồn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình

dáng.

+ Chi phí nhân cơng trực tiếp: tất cả các chi phí có liên quan đến

bộ phận lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền lương, tiền công,

các khoản phụ cấp, các khoản trích về BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ

vào chi phí theo quy định. Chi phí nhân cơng trực tiếp được hạch tốn

trực tiếp vào các đối tượng chịu chi phí.

+ Chi phí sản xuất chung: gồm tồn bộ chi phí tổ chức và phục vụ

xây lắp phát sinh trong phạm vi phân xưởng như chi phí nhân viên phân

xưởng, tất cả các khoản BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của các nhân

viên, chi phí vật liệu (vật liệu, cơng cụ dụng cụ dùng để sữa chữa, bảo



SVTH: Nhóm 4



Trang 21



Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



dưỡng tài sản cố định (TSCĐ), dùng cho đội quản lý, chi phí lán trại tạm

thời,...), chi phí dịch vụ mua ngồi.

- Chi phí ngồi sản xuất: là những chi phí phát sinh trong q

trình tiêu thụ sản phẩm và quản lý chung tồn doanh nghiệp.

+ Chi phí bán hàng: gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu

tiêu thụ sản phẩm như chi phí quản lý, vận chuyển, bốc dỡ thành phẩm

giao cho khách hàng, chi phí bao bì, tiền lương bán hàng, hoa hồng bán

hàng, chi phí khấu hao TSCĐ và những chi phí có liên quan đến dự trữ,

bảo quản sản phẩm,...

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: là gồm tất cả các chi phí phục vụ

cho cơng tác tổ chức và quản lý q trình SXKD nói chung của tồn

doanh nghiệp. Có thể kể đến các chi phí như: chi phí hành chính, kế

tốn, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý

doanh nghiệp, khấu hao, các chi phí dịch vụ mua ngồi khác.[7, 12-14]

c. Phân loại theo mối quan hệ với thời kỳ xác định lợi nhuận

- Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với sản phẩm được

sản xuất ra hoặc được mua vào.

Đối với sản phẩm sản xuất: chi phí sản xuất gổm chi phí nguyên

vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp, chi phí sản xuất chung.

Đối với hàng mua: chi phí sản phẩm gồm có giá mua, chi phí mua.

- Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh và ảnh hưởng trực tiếp

đến lợi nhuận trong một kỳ kế tốn. Chi phí thời kỳ trong hoạt động

SXKD của doanh nghiệp tồn tại khá phổ biến như chi phí hoa hồng bán

hàng, chi phí quảng cáo, chi phí th nhà, chi phí văn phòng,… Những

chi phí này được tính hết thành phí tổn trong kỳ để xác định kết quả kinh

doanh.[4]



SVTH: Nhóm 4



Trang 22



Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



d. Phân loại theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí

- Chi phí trực tiếp: là chi phí có liên quan đến một đối tượng.

- Chi phí gián tiếp: là chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng.

e. Phân loại theo cách quản trị chi phí

- Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí có sự thay đổi về

lượng tương đương tỉ lệ thuận với sự thay đổi khối lượng sản phẩm sản

xuất trong kỳ như: chi phí ngun vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng

trực tiếp.

- Chi phí bất biến (định phí): là những chi phí khơng thay đổi về

tổng số khi có sự thay đổi khối lượng SP sản xuất trong mức độ nhất

định như chi phí khấu hao TSCĐ theo phương pháp bình qn, chi phí

điện thắp sáng…

- Chi phí bán khả biến [7, 16-20]

Theo mối quan hệ với quy trình cơng nghệ sản xuất, chế tạo sản

phẩm, chi phí sản xuất (CPSX) được chia thành 2 loại:

+ Chi phí cơ bản: là những chi phí thuộc các yếu tố cơ bản của q

trình kinh doanh như chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực

tiếp, chi phí khấu hao TSCĐ dùng vào sản xuất và những chi phí trực

tiếp khác;

+ Chi phí chung: là tồn bộ chi phí phát sinh trong phân xưởng

bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý

phân xưởng, chi phí khấu hao, chi phí cho điện thoại, điện nước, và các

chi phí bằng tiền khác.

Ý nghĩa: Cách phân loại này có tác dụng giúp cho các nhà quản lý

doanh nghiệp xác định đúng phương hướng và biện pháp sử dụng tiết



SVTH: Nhóm 4



Trang 23



Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



kiệm chi phí đối với từng loại, nhằm hạ giá thành sản phẩm, lao vụ dịch

vụ

- Theo phương pháp tập hợp chi phí vào các đối tượng chịu chi

phí, tồn bộ CPSX được chia thành:

+ Chi phí trực tiếp: là những khoản chi phí sản xuất quan hệ trực

tiếp đến việc sản xuất ra một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định. Kế tốn

có thể căn cứ vào số liệu của chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho những

đối tượng chịu chi phí;

+ Chi phí gián tiếp: là những khoản chi phí có liên quan đến nhiều

loại sản phẩm, dịch vụ. Kế toán phải tập hợp chung sau đó tiến hành

phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp.

Ý nghĩa: Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định

phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ CPSX cho các đối tượng một

cách đúng đắn và hợp lý.

2.1.3 Lợi nhuận

2.1.3.1 Khái niệm

Sau một thời gian hoạt động nhất định doanh nghiệp sẽ có thu

nhập bằng tiền. Lợi nhuận của doanh nghiệp là số chênh lệch giữa doanh

thu thuần với trị giá vốn của hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý

doanh nghiệp. Do đó, lợi nhuận phụ thuộc vào hoạt động SXKD và trình

độ quản lý của doanh nghiệp.

Lãi gộp là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ chi phí khả biến,

là phần đóng góp dùng đảm bảo trang trải cho chi phí bất biến.[4]



SVTH: Nhóm 4



Trang 24



Phân tích hoạt động kinh doanhGVHD: PGS., TS. Bùi

Văn Trịnh



2.1.3.2 Nội dung của lợi nhuận

Trong quá trình SXKD, tuỳ theo các lĩnh vực đầu tư khác nhau, lợi

nhuận cũng được tạo ra từ nhiều hoạt động khác nhau:

- Lợi nhuận về nghiệp vụ sản xuất kinh doanh: Là lợi nhuận có

được từ hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng chức năng của doanh

nghiệp.

- Lợi nhuận từ hoạt động liên doanh liên kết.

- Lợi nhuận về hoạt động tài chính: Là các khoản thu về lãi tiền

gửi, thu lãi bán ngoại tệ, thu từ cho thuê tài sản cố định, thu nhập từ đầu

tư trái phiếu, cổ phiếu.

- Lợi nhuận khác: Là lợi nhuận thu được từ những hoạt động bất

thường hay còn gọi là các khoản thu từ các hoạt động riêng biệt với hoạt

động SXKD thông thường của đơn vị. Những khoản này thường phát

sinh không đều đặn như: Thu tiền phạt, tiền bồi thường do khách hàng vi

phạm hợp đồng, thu được các khoản nợ khó đòi mà trước đây đã chuyển

vào thiệt hại, thu các khoản nợ không xác định được chủ, các khoản lợi

nhuận bị sót những năm trước nay mới phát hiện.[4,3]

2.1.3.3 Vai trò của lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của q trình

SXKD. Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng, chất lượng hoạt động của

doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản sản xuất

như lao động, vật tư, tài sản cố định…

Lợi nhuận là một nguồn thu điều tiết quan trọng của Ngân sách

Nhà nước, giúp Nhà nước thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, phát

triển đất nước.



SVTH: Nhóm 4



Trang 25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×