Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÒA NHẬP XÃ HỘI CHO SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÒA NHẬP XÃ HỘI CHO SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

cho người nghèo, người bệnh tật ốm đau... qua hoạt động từ thiện vào những

ngày thứ 7 hàng tuần. Sau này việc xây dựng thành hệ thống luật cho người

nghèo của nước Anh đã đánh dấu một thay đổi lớn trong sự trợ giúp từ hình

thức cứu trợ có tính nhất thời sang hình thức trợ giúp liên tục, thường xuyên.

Vào những năm giữa thế kỷ 19 dưới ảnh hưởng của những thay đổi xã

hội một số những nhân vật tiên phong tại Anh như Octavia Hill và Edward

Dennison đã đề nghị thay đổi một số điều liên quan tới chính sách an sinh và

trợ giúp những đối tượng khó khăn trong xã hội. Những tổ chức có hình thái

cơng tác xã hội ra đời như Tổ chức trợ giúp từ thiện tại London. Hoạt động của

tổ chức này dần mang tính chun mơn hố hơn thơng qua các hoạt động điều

phối, tạo lập mạng lưới, đăng ký... Hình thức trợ giúp không đơn thuần là trợ

giúp vật chất tức thời mà đã có phương thức phòng ngừa sự bần cùng một cách

khoa học hơn.(A. Skidmore; G. Thackeray &O. William Farley 1997).

Giai đoạn 1850 - 1865, những hoạt động khởi nguồn của giáo dục và

phát triển cộng đồng đã được thực hiện thông qua các tổ chức như Uỷ ban từ

thiện quốc gia, Uỷ ban từ thiện cộng đồng. Thời kỳ này hoạt động của các uỷ

ban đều hướng tới mục đích xây dựng những thiết chế nhằm duy trì trật tự, ổn

định xã hội.

Vào cuối thể kỷ XIX các dịch vụ xã hội dưới dạng các nhà định cư

(Settlement house) cũng được phát triển ở Mỹ đặc biệt tại các thành phố lớn

nhằm cung cấp những hỗ trợ về giải trí, sức khoẻ an sinh cho trẻ em thanh

thiếu niên, phụ nữ, giúp họ học hỏi những kinh nghiệm xã hội và kỹ năng

sống như kỹ năng giải quyết vấn đề. Trung tâm đầu tiên được thành lập tại

New York vào 1886 sau này là Trung tâm Hull tại Chicago vào 1869. Người

sáng lập ra trung tâm này là Jane Addams (1861-1935). Những trung tâm này

cung cấp sự trợ giúp cho người nghèo khổ, người lao động thu nhập thấp...

Sự ra đời của tổ chức từ thiện tại Buffalo, New York của Mỹ vào 1877.



6



Mặc dù là từ thiện nhưng những nhân viên của tổ chức này đã tìm hiểu nhu

cầu của người cần sự trợ giúp, và thu hút sự tham gia của họ vào xây dựng kế

hoạch giải quyết vấn đề nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của đối tượng. Tổ chức

này đã đặt nền móng đầu tiên cho tính nghề nghiệp của giáo dục và phát triển

cộng đồng. Vào những năm 80 của thế kỷ 19 từ thực tiễn của hoạt động trợ

giúp, tổ chức phong trào trung tâm cộng đồng và hiệp hội tổ chức từ thiện

COS (Charity Organisation Society) đã tiến hành nghiên cứu và chỉ ra rằng

giúp đỡ con người là quá trình phức tạp, để q trình trợ giúp có hiệu quả đòi

hỏi những kiến thức hiểu biết về con người, về xã hội và cần có những

phương pháp, kỹ năng làm việc với họ. Sang đến thế kỷ XX những dịch vụ an

sinh và sự trợ giúp xã hội đã trở nên chuyên nghiệp hơn. Năm 1947 tại Hội

thảo thế giới về sự phát triển xã hội, Hội đồng kinh tế - xã hội đã đư a ra yêu

cầu về đào tạo chun mơn Cơng tác xã hội nói chung và với cán bộ làm việc

trong lĩnh vực An sinh xã hội nói riêng.

1.1.2. Việt Nam

Nghiên cứu về hồ nhập xã hội: Một số định hướng ở Việt Nam của

TS. Trần Văn Kham Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội: Việc tiếp cận nghiên cứu dựa trên bình đẳng, phúc lợi xã

hội, quyền con người, dịch vụ xã hội là những định hướng chính của các

nghiên cứu về hòa nhập xã hội hiện nay. Các nghiên cứu về hòa nhập xã hội

đang có nhiều sự điều chỉnh và thay đổi định hướng từ chỗ quá tập trung

nhiều vào khía cạnh kinh tế chuyển dần sang đề cập đến các khía cạnh quan

hệ xã hội, cơ hội, công bằng xã hội và quyền con người, cũng như chuyển dần

từ mơ hình trợ cấp sang mơ hình cung cấp dịch vụ xã hội, tăng cường năng

lực của các đối tượng yếu thế trong xã hội - đó là những định hướng phù hợp

với mục tiêu hướng đích của cơng tác xã hội. Nhiều nghiên cứu đã đề xuất

đưa ra các chỉ báo về hòa nhập xã hội áp dụng vào trong từng điều kiện và đối

tượng cụ thể.



7



Vấn đề hòa nhập ở Việt Nam hiện nay chủ yếu được nghiên cứu dưới

góc độ Hòa nhập cho người khuyết tật.

Còn về hỗ trợ hòa nhập xã hội cho sinh viên dân tộc thiểu số ở trường

cao đẳng thì chưa có đề tài nghiên cứu nào. Vì vậy chúng tôi lựa chọn nghiên

cứu vấn đề: "Biện pháp hỗ trợ hòa nhập xã hội cho sinh viên dân tộc thiểu

sơ ở trường Cao đẳng Sơn La”

1.2. Hòa nhập xã hội của sinh viên dân tộc thiểu số ở trường cao đẳng

1.2.1. Hòa nhập và hòa nhập xã hội

Hòa nhập (Inclusion) là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ nhu cầu của

tất cả mọi cá nhân được cảm thấy là một phần của cộng đồng xã hội. Hòa

nhập cũng có thể đề cập đến nhu cầu của một người cần cảm thấy mình là một

phần của gia đình, của nhóm bạn cùng trang lứa hay của xóm làng, khu dân

cư, của cộng đồng hay xã hội.

Trong vài chục năm gần đây, hòa nhập xã hội và các vấn đề về hòa

nhập xã hội gắn với các nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề của thực tế xã

hội, đã nổi lên như một xu hướng xã hội quan trọng được nhiều quốc gia quan

tâm. Vấn đề này được bắt nguồn từ đầu những năm tám mươi của thế kỷ

trước, khi loại trừ xã hội (social exclusion) hay nhóm ngồi lề gắn với đói

nghèo và việc làm được quan tâm giải quyết như một quan điểm chính trị ở

nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ. Quỹ Laidlaw, Canada cho rằng, vấn đề loại

trừ xã hội nổi lên ở châu Âu những năm 1980 chính là câu trả lời cho sự gia

tăng của phân hóa xã hội, như kết quả của điều kiện thị trường lao động mới

và sự thiếu sót đang tồn tại của hệ thống phúc lợi xã hội dự phòng cần được

thay đổi theo nhu cầu của các thành phần cư dân khác nhau. Hòa nhập xã hội

trong chừng mực nào đó được xem xét như một sự hưởng ứng đáp lại vấn đề

loại trừ xã hội. Hòa nhập xã hội là nói về sự đảm bảo chắc chắn rằng tất cả trẻ

em, người lớn đều được chú ý, được tơn trọng, có chỗ đứng giống nhau, đồng



8



thời đều có khả năng tham gia vào đời sống xã hội cả ở mức độ quốc gia và

cộng đồng (Laidlaw Foundation, 2002). Thực tế, nhiều nhà nghiên cứu về hòa

nhập xã hội đã hướng đến xem xét nó trong mối quan hệ với loại trừ xã hội.

Họ cho rằng hai vấn đề này cần được phân tích, xem xét vấn đề liên quan.

Trên cơ sở tiếp cận này, chúng ta sẽ cùng điểm qua một số quan điểm về hòa

nhập xã hội hay một số cách giải quyết vấn đề loại trừ xã hội tại các nước

phát triển hiện nay. Quan niệm loại trừ xã hội được xuất phát từ bối cảnh

nước Pháp những năm 1970 với các nghiên cứu về các nhóm người dễ bị tổn

thương, nằm ngồi hệ thống bảo hiểm xã hội như: người khuyết tật, người già

đơn thân và người thất nghiệp. Nhằm can thiệp, giảm thiểu sự loại trừ xã hội

đối với họ, nhất là với nhóm người bị ảnh hưởng bởi thất nghiệp, việc tạo

điều kiện cho họ quay trở lại với thị trường lao động hơn là đưa ra hoạt động

trợ cấp thất nghiệp thuần túy đã được đặc biệt quan tâm. Theo cách tiếp cận

này, vào những năm 1980, chính phủ Pháp đưa ra nhiều chính sách mới về

các lĩnh vực: việc làm, đào tạo, nhà ở, sức khỏe, giáo dục, dịch vụ xã hội, văn

hóa và quyền cơng dân. Khi hướng đến các hoạt động hỗ trợ cho các nhóm

yếu thế, các chính sách mới này đặt trọng tâm vào việc phòng ngừa, hơn là

chạy theo các nhu cầu của họ. Cũng từ tiếp cận đó, việc giải quyết vấn đề loại

trừ xã hội được chính phủ đưa vào các chương trình về quyền cơng dân và sự

đồn kết xã hội hơn là hướng vào việc giải quyết các chiều cạnh kinh tế hay

chính trị thuần túy. Theo đó việc giải quyết những vấn đề lề hóa cuộc sống

cũng như việc phục hồi lại các mối quan hệ xã hội và tăng cường sự cố kết xã

hội gắn với việc đề cao vai trò của Nhà nước. Điều này cũng cho thấy xã hội

có trách nhiệm tạo dựng các hoạt động trợ giúp và phương thức sống cho mọi

thành viên và ngược lại, các thành viên có trách nhiệm đóng góp lại xã hội đó

(Australian Government, 2008). Trên cơ sở cách tiếp cận ở Pháp, quan điểm

đẩy mạnh hội nhập xã hội đã được thể hiện trong các chương trình nghị sự



9



của Hội đồng châu Âu vào những năm 1990 và 2000 thơng qua các chương

trình chống đói nghèo, tăng cường sự cố kết xã hội như Chương trình nghị sự

Lisbon. Từ sau năm 2000, các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đã xây dựng

các chương trình hành động quốc gia về hòa nhập xã hội. Nội dung chính của

chương trình nhằm xóa bỏ sự loại trừ xã hội và nâng cao hòa nhập xã hội.

Q trình xây dựng các chương trình hành động này được xem như là bước

chuyển đổi từ cách tiếp cận việc làm sang cách tiếp cận xây dựng nhà nước

phúc lợi (Booth T., 2002; Boushey H., S. Fremstad, R. Gragg & M. Waller,

2007). Ở Canada, đầu những năm 2000, hàng loạt các nghiên cứu về hòa nhập

xã hội được thực hiện nhằm hướng đến xây dựng các tiêu chí đánh giá q

trình hòa nhập thành công của các đối tượng yếu thế trong xã hội cũng như

tạo dựng các hoạt động tăng cường vai trò của thể chế, chính sách xã hội để

nâng cao hiệu quả của hòa nhập xã hội.

Các giá trị cơ bản của hòa nhập xã hội được tiếp cận ở Canada dựa trên

những khía cạnh sau:

Thứ nhất, giá trị của sự thừa nhận, nghĩa là hướng đến việc thừa nhận

và tơn trọng cá nhân/nhóm, các giá trị chung và sự khác biệt;

Thứ hai, sự phát triển cá nhân, đề cập đến việc nuôi dưỡng tài năng,

khả năng và sự lựa chọn của trẻ em và người lớn để sống cuộc sống mà họ

cảm thấy có giá trị và tạo ra được những đóng góp cho xã hội;

Thứ ba, sự tham gia và gắn kết liên quan đến việc cá nhân có quyền và

được trợ giúp cần thiết để tham gia vào việc ra quyết định liên quan đến bản thân

họ, đến gia đình và cộng đồng và cùng gắn kết vào cuộc sống của cộng đồng;

Thứ tư, giá trị về sự gần gũi, liên quan đến việc chia sẻ không gian và xã

hội nhằm tạo các cơ hội để tương tác và làm giảm khoảng cách giữa các cá nhân;

Thứ năm, sự thoải mái về vật chất, nghĩa là có được các nguồn lực vật

chất cho phép trẻ em và các bậc cha mẹ tham gia một cách đầy đủ vào các



10



hoạt động của cộng đồng (Donnelly P. & J. Coakley, 2002; G. EspingAndersen, 2002).

Các nghiên cứu gần đây ở Mỹ về hòa nhập xã hội cũng nhấn mạnh

nhiều đến các vấn đề quan hệ xã hội. Họ cho rằng, vấn đề nghèo đói là nền

tảng dẫn đến sự lề hóa, còn yếu tố hòa nhập xã hội sẽ hướng đến tạo sự cố

kết, đoàn kết xã hội. Theo các nghiên cứu này, các chỉ báo để đánh giá về mức

độ hòa nhập khơng chỉ dừng lại ở vấn đề thu nhập, mà còn ở các khía cạnh

khác liên quan đến sức khỏe, giáo dục, kỹ năng, sự phát triển và cơ hội. Cùng

với quan điểm này, những nghiên cứu hòa nhập ở lĩnh vực khuyết tật và các

nhóm người dễ bị tổn thương cũng đưa ra ba khía cạnh chính của sự hòa

nhập, đó là: Sự tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, sự phát triển và

duy trì các mối quan hệ xã hội và cảm giác thuộc về nhóm (McConkey R.,

2007; Andrew Mitchell and Richard Shillington, 2002). Như vậy, thực tế cho

thấy đã tồn tại nhiều quan điểm, tiếp cận khác nhau, từ quan điểm thuần túy lý

thuyết mang tính vĩ mơ đến các quan điểm nghiên cứu thực tế hướng đến việc

giải quyết vấn đề hòa nhập của các nhóm xã hội cụ thể, hòa nhập xã hội luôn

là một trong những vấn đề trọng tâm của khoa học xã hội, nhất là trong lĩnh

vực xã hội học và cơng tác xã hội hiện nay.

Tóm lại, cả ở nội dung một số quan điểm hòa nhập xã hội đang phổ

biến tại các nước phát triển và một số kinh nghiệm của các nghiên cứu thực tế

về vấn đề hòa nhập xã hội cho thấy hòa nhập xã hội là hướng đến sự cố kết,

đoàn kết và sự sẻ chia; hòa nhập xã hội nghĩa là sự đảm bảo chắc chắn rằng

mỗi thành viên của xã hội hòa nhập vào xã hội hơn là bị loại trừ.

Như vậy, hòa nhập xã hội (social inclusion) thường được hiểu một cách

chung nhất là q trình mà trong đó cá nhân hoặc nhóm xã hội nào đó được

xã hội tạo các điều kiện thuận lợi để tham gia một cách tích cực vào đời sống

xã hội trong sự bình đẳng với các thành viên khác của xã hội.



11



Trong nghiên cứu này, khái niệm hòa nhập xã hội được nhấn mạnh đến

mục đích giúp đỡ cho một cá nhân, nhóm đối tượng - cụ thể ở đây là SV

DTTS có thể bước vào một môi trường mới - trường Cao đẳng - môi trường

xã hội được tốt hơn dựa trên việc học hỏi các kiến thức, kỹ năng, tâm lý, sự tự

tin, tự lập đã được đào tạo, giáo dục. Bên cạnh đó là việc tuyển truyền và sự

giúp đỡ của nhà trường, các thầy/ cô giáo để SV DTTS có thể hòa nhập được

hiệu quả.

1.2.2. Sinh viên dân tộc thiểu sơ

- Sinh viên

Thuật ngữ SV có nguồn gốc từ tiếng la tinh, nghĩa tương đương với từ

“student” trong tiếng Anh, “etudiant” trong tiếng Pháp để chỉ những người

theo học ở bậc ĐH và CĐ, những người đang học tập và rèn luyện để lĩnh hội

một trình độ chuyên môn cao. Vậy có thể hiểu, SV là những người đang theo

học ở bậc Đại học và Cao đẳng.

- Dân tộc thiểu số

Trong ngơn ngữ Việt, cũng có thể hiểu thuật ngữ “dân tộc” có hai

nghĩa, vừa là tộc người (Ethnicity), vừa mang nghĩa quốc gia, dân tộc

(Nation). Như vậy, dân tộc là một khái niệm chỉ một dân tộc cụ thể trong

một cộng đồng, một quốc gia. Dân tộc chiếm số đông thường sẽ là đại diện

dân tộc mang nghĩa quốc gia, dân tộc. Còn dân tộc có số lượng ít, không

mang tính đại diện quốc gia, được gọi là dân tộc thiểu số. Theo từ điển Tiếng

Việt thì “DTTS là dân tộc chiếm số ít, so với dân tộc chiếm số đơng nhất

trong một nước có nhiều dân tộc” [25, tr 318].

- Sinh viên dân tộc thiểu số

Có thể hiểu SV DTTS là SV thuộc các dân tộc ít người. Họ sinh ra và

lớn lên ở những vùng miền khác nhau mà ở nơi đó có rất nhiều khó khăn về

mặt kinh tế xã hội, hạn chế về các điều kiện khoa học kĩ thuật, công nghệ thông



12



tin và đời sống tinh thần. Họ đang học tập, rèn luyện trong các trường ĐH, CĐ.

Họ được đào tạo theo chương trình chuyên biệt (SV trong trường Đại học hệ

Cử tuyển) hoặc không chuyên biệt để trở thành nguồn nhân lực quan trọng

trong tương lai, đóng góp trí tuệ vào phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

- Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên dân tộc thiểu số

Hiện nay phần lớn SV DTTS đều sinh sống ở những địa bàn miền núi

khó khăn về kinh tế, hạn chế về giao lưu văn hóa, phương tiện truyền thông

công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, người DTTS luôn sống đan xen với các dân

tộc khác trên một khu vực nhất định. Những phong tục tập qn ln có

sự giao thoa, học tập lẫn nhau. Sự giao thoa này thể hiện các dân tộc học tập

và ảnh hưởng lẫn nhau về phương thức sản xuất, ẩm thực, nhà ở, hoặc trang

phục. Các giá trị, tinh hoa đều được các dân tộc học hỏi, duy trì, phát triển

làm phong phú thêm kho tàng văn hóa của dân tộc mình nhưng cũng không

làm mất đi bản sắc, các giá trị đã có.

Đối với SV DTTS những biểu hiện tâm lý của các em chịu sự tác động

của những yếu tố khách quan có liên quan đến điều kiện sống, đặc điểm dạy và

học, ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa ở miền núi.

Xuất phát từ những đặc điểm tâm lý dân tộc nói chung, SV DTTS có

một đời sống tâm lý ổn định. Các em có những đặc trưng tâm lý, cơ bản,

khác biệt với SV khác như sau:

Vê trình đô nhận thức va tư đánh giá

Về mặt bằng trình độ văn hóa, SV DTTS ngang bằng với SV nói

chung nhưng về mặt nhận thức, ít nhiều có những hạn chế nhất định. Điều

này là do môi trường sống, điều kiện giao tiếp không được thuận lợi như

những SV dân tộc Kinh. Tuy nhiên, khi tham gia vào học tập, tham gia vào

đời sống xã hội, nhờ khả năng tự đánh giá mà SV biết cách nhìn nhận, xem

xét năng lực học tập để điều chỉnh ý thức, thái độ, vào phương pháp học tập



13



của họ sao cho phù hợp với hoàn cảnh. Xuất phát từ đặc điểm học tập của

học sinh dân tộc nội trú mà SV DTTS chưa có thói quen lao động trí óc, ngại

suy nghĩ, ngại động não, tư duy độc lập và óc phê phán còn hạn chế. Điều

này cho thấy tư duy của các em chưa mềm dẻo, linh hoạt và còn cứng

nhắc. Những đặc điểm này sẽ gây ra ở các em những hạn chế trong học tập đó

là thiếu quyết đoán, thiếu nhạy cảm trong việc vận dụng kiến thức vào thực tế

và có một sức ỳ lớn, tạo ra sự rụt rè, nhút nhát không dám khẳng định bản

thân, kìm hãm tính ham hiểu biết, óc tò mò, sáng tạo, gặp nhiều khó khăn đối

với các kĩ năng học tập, khó thích ứng được với những u cầu của nhiệm vụ

học tập.

Vê đời sống tình cảm

Các em biểu hiện bộc lộ cảm xúc, tìm cảm sâu sắc và bền vững. Thể

hiện trong quan niệm sống coi trọng tình người, ln mong ḿn hướng đến

tình cảm đẹp, gắn bó. Điều này bộc lộ rõ ở nhu cầu kết bạn với những người

thân thiết, gần gũi, tạo được sự tin cậy ở các em. Với nét tính cách hồn nhiên,

thật thà, trung thực các em ln muốn tìm cho mình một người bạn thân

thiết gắn bó khi mới vào trường đại học. Xuất hiện nhu cầu có những người

bạn đồng hành, đồng cảm, chia ngọt, sẻ bùi ngày một gia tăng.

Vê mối quan hê xã hôi

Phần lớn SV DTTS có tính cách trầm, ít nói, khơng cởi mở, tự ti, có ít

bạn thân, sống thu mình, hạn chế giao tiếp. Chỉ một số ít SV DTTS có tính

cách cởi mở, hòa đồng, những em này đa phần là sinh sống ở những thị xã,

thị trấn. Tình bạn của SV DTTS rất bền vững, gắn bó và ít thay đổi nên các

em có xu hướng tiếp cận làm quen và kết bạn với những SV cùng cảnh ngộ,

tương ứng với hồn cảnh của mình cho nên các em thường chọn bạn có lối

ứng xử nhẹ nhàng, tình cảm, thật thà. Điều quan trọng là khi các em đã chọn

ai làm bạn tức là các em đã gửi gắm niềm tin, chia sẻ tâm sự. Các em coi bạn



14



như người thân trong gia đình và hình ảnh các bạn gần gũi trong học tập là

sự hiện hữu người thân mỗi khi các em nhớ đến. SV DTTS nói chung và SV

dân tộc Tày nói riêng “quan tâm nhiêu đến khía canh chọn ban đời, người

ban thân nhất - ban “tồng”. Viêc kết tồng diễn ra với những thu tục nhất

định, co giá trị khẳng định môt tình cảm sâu sắc, bên vững lâu dai. Mối

quan hê đặc biêt nay giúp sinh viên dân tôc Tay co được người ban gần gũi,

gắn bo hơn tất cả những người ban khác”. [12; trang 91]. Phần lớn SV DTTS

có hồn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế nên nguồn chu cấp kinh phí sinh

hoạt và học tập cho các em bị eo hẹp, một số em có ý chí nỗ lực, khi rơi vào

hồn cảnh khó khăn các em biết tìm cách xoay sở như đi làm thêm để kiếm

tiền ăn học. Đây cũng là điểm thích ứng với cuộc sống nói chung, là một

trong những yếu tố tác động khiến SV chủ động tích cực thay đổi bản thân

để khắc phục hồn cảnh nhưng lại là điểm yếu cản trở hoạt động học tập tích

cực với mục đích lập thân, lập nghiệp ở các em. Vì có nhiều em do chưa

quen với sự mới lạ của cuộc sống hiện đại, vốn bản chất thật thà, dễ tin người

dễ bị sa vào những cám dỗ vật chất, ý thức kiếm tiền nhiều hơn đã sinh ra

tâm lý lười học, động cơ học tập giảm sút, coi trọng giá trị vật chất, hình

thành lối sống xa hoa hưởng thụ.

Vê đặc trưng văn hoa

Sinh viên DTTS chịu ảnh hưởng nhiều của truyền thớng văn hóa,

phong tục tập quán của dân tộc mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Với

truyền thống văn tộc ln có tinh thần đồn kết, q trọng con người, sống

tình nghĩa, chất phác, thật thà... cho nên khi xa gia đình, học tập ở mơi

trường mới SV DTTS ln có biểu hiện nhớ nhà, nhớ quê hương. Những

biểu hiện này thường thấy ở giai đoạn đầu mới vào trường cao đẳng, nếu

SV DTTS gặp nhiều áp lực về học tập, có khó khăn về đời sớng vật chất các

em sẽ có tâm lý chán nản, bỏ bê việc học tập, thậm chí bỏ về nhà khơng

ḿn học nữa.



15



1.2.3. Nội dung hòa nhập xã hội của sinh viên dân tộc thiểu sô ở trường

Cao đẳng

Học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông, Trung cấp chuyên nghiệp,

học nghề hoặc tương đương để có thể học hay liên thông lên cấp cao đẳng.

Học sinh phải tham gia kỳ thi tuyển sinh trực tiếp vào cao đẳng hoặc

điểm thi vào đại học thấp hơn điểm quy định nhưng lại đủ để vào cao đẳng thì

đăng ký vào học cao đẳng. Chương trình cao đẳng thơng thường kéo dài 3

năm. Tuy nhiên, một số trường cao đẳng có thể kéo dài đến 3,5 năm hoặc 4

năm để phù hợp với chương trình học. Sinh viên học xong cao đẳng có thể

tham gia thi tuyển để được chọn vào học "liên thông" lên bậc đại học ở một

số trường đại học. Thực hiện chương trình đào tạo SV ở trường Cao đẳng đòi

hỏi SV sẽ phải tham gia vào các hoạt động học tập các môn học của chuyên

ngành, tham gia các hoạt động tự học, tự rèn luyện trong môi trường tập thể

với nội quy, quy định rõ ràng của trường; tham gia các hoạt động sinh hoạt tập

thể, hoạt động đoàn thể (Đoàn TNCSHCM, Hội SV…), các câu lạc bộ, hoạt

động XH….

Nội dung hòa nhập xã hội của SV DTTS ở trường CĐ bao gồm: Hòa

nhập trong hoạt động học tập và hòa nhập trong các hoạt động sinh hoạt tập

thể, hoạt động xã hội.

* Hòa nhập của SV trong hoạt động học tập:

Ở bậc đào tạo CĐ, SV phải đối diện với phương thức tổ chức đào tạo

hồn tồn mới: từ chương trình đào tạo, tổ chức hoạt động đào tạo, phương

pháp giảng

- Ý thức học tập:

Bản thân sinh viên thiếu tính tích cực, tự giác trong học tập. Với thái độ

trung bình chủ nghĩa, đa số sinh viên cho rằng chỉ cần qua (đạt) mơn học là

được. Ở đây phải nói đến tâm lý thờ ơ, thiếu cảm xúc, vơ tâm.…từ đó dẫn đến



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÒA NHẬP XÃ HỘI CHO SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×