Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đánh giá thực trạng tổ chức kế toán tại các dự án ODA

Đánh giá thực trạng tổ chức kế toán tại các dự án ODA

Tải bản đầy đủ - 0trang

59



Về tổ chức hệ thống sổ kế toán: Việc áp dụng phần mềm kế tốn đã góp phần

đảm bảo tính bảo mật thơng tin và an tồn dữ liệu. Mỗi vị trí được phân cơng có

nhiệm vụ và quyền hạn được phân định rõ ràng, đảm bảo người khơng có trách

nhiệm không thể truy cập vào công việc của người khác trong phần mềm kế tốn

của dự án, nếu khơng được phụ trách kế toán đồng ý.

Về tổ chức hệ thống BCTC: Báo cáo tài chính được lập phù hợp với yêu cầu

ngân hang thế giới và được trình bày bằng Việt Nam đồng (VND), ngoại trừ Báo

cáo Tài khoản tạm ứng và Báo cáo rút vốn được trình bày bằng Việt Nam đồng

(VND) và đô la Mỹ (USD)

Nhược điểm

- Về tổ chức bộ máy kế tốn: cơng tác bồi dưỡng nâng cao kiến thức cơ bản và

nền tảng về tin học, lý thuyết kế toán trên máy cho các nhân viên kế toán, mà mới

chủ yếu đào tạo, hướng dẫn sử dụng các thao tác khi thực hiện trên phần mềm kế

tốn đã được cài đặt. Chính vì thế cán bộ, nhân viên kế tốn chưa có kiến thức cơ

bản, nên những trục trặc nhỏ trong thao tác không đúng đắn dẫn đến chương trình

khơng chạy được mà khơng biết cách sửa chữa. Bên cạnh đó chưa có được một

phần mềm kế toán thống nhất sử dụng chung cho các dự án ODA.

- Về tổ chức hệ thống chứng từ: Hồ sơ thanh toán làm căn cứ lập chứng từ

thanh toán được tập hợp từ các đơn vị phối hợp tham gia quản lý dự án. Do chưa có

mẫu biểu quy định thống nhất nên thực tế nhiều hồ sơ thanh toán chưa hợp lệ dẫn

tới việc chậm tiến độ thanh tốn. Mặc dù Thơng tư 107/2017/TT-BTC ngày 10

tháng 10 năm 2017 của BTC về chế độ kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp

có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 thay thế Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC

ngày 30 tháng 03 năm 2006 tuy nhiên một số mẫu chứng từ của dự án vẫn áp dụng

theo QĐ 19/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính.

- Về tổ chức tài khoản kế toán một số tài khoản được quy định rất rõ trong hệ

thống tài khoản ban hành theo thông tư 195/2012/TT-BTC nhưng không được các

dự án đưa vào hạch toán như Tài khoản 153.

- Về hệ thống sổ kế toán: Để thực hiện được mục tiêu này, các nhà tài trợ đều

khuyến khích và yêu cầu các dự án nên sử dụng phần mềm kế tốn. Chính vì vậy,



60



phần lớn các dự án đều đã ứng dụng công nghệ tin học vào kế tốn nhưng tính

chun mơn hóa chưa cao và khơng có sự thống nhất một phần mềm kế tốn nói

riêng cho các dự án.

- Về tổ chức BCTC: Các dự án ODA nói chung đều phải thực hiện 2 chế độ báo

cáo tài chính, một cho phía Việt Nam và một cho nhà tài trợ. Thông thường các báo

cáo tài chính cho phía Việt Nam đều được lập theo mẫu thống nhất quy định theo

chế độ kế tốn áp dụng. Báo cáo tài chính phục vụ nhà tài trợ được lập theo mẫu đã

thỏa thuận giữa 2 bên khi ký kết điều ước quốc tế. Điều mà các dự án ODA ở Việt

Nam hay vi phạm nhất là thời hạn nộp các báo cáo. Thời hạn nộp các báo cáo tài

chính của các dự án bị vi phạm làm ảnh hưởng đến quản lý tài chính các dự án ở các

cấp cao hơn là cấp Bộ chủ quản và Bộ Tài chính. Điều này làm cho việc theo dõi

tình hình giải ngân vốn ODA và quyết tốn vốn đối ứng hàng năm bị chậm trễ, số

liệu thu thập không đủ sẽ là giảm chất lượng các báo cáo về tình hình thực hiện các

dự án. Chất lượng các báo cáo tài chính của các dự án ODA được kiểm tra bởi kiểm

tốn độc lập. Về phía nhà tài trợ chỉ chấp nhận các báo cáo của dự án khi đã có báo

cáo kèm theo của kiểm tốn. Thời hạn 180 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính

đối với báo cáo tài chính cho nhà tài trợ cũng thường xuyên bị các dự án vi phạm

đặc biệt là các dự án XDCB do tổ chức tuyển chọn kiểm toán độc lập kéo dài.

- Trong các Hiệp định tín dụng, các nhà tài trợ ln quy định các điều kiện tài

chính có ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý tài chính của các dự án ODA làm cản trở

tốc độ giải ngân của dự án. Về cơ bản có thể kể đến những điều kiện có ảnh hưởng

trực tiếp đến quản lý tài chính dự án như: các thủ tục rút vốn thanh toán cho các

khoản chi hợp lệ và sự khác biệt về chế độ báo cáo. Đối với từng chương trình, dự án

ODA, cơ chế quản lý tài chính của nhà tài trợ sẽ quy định quy trình thủ tục rút vốn

thanh tốn và chế độ báo cáo tài chính. Việc báo cáo của các dự án không theo một

mẫu thống nhất cũng khiến cho cơ quan quản lý Nhà nước về ODA mất nhiều thời

gian để tổng hợp, do đó làm giảm hiệu quả và tính chính xác của quản lý tài chính.

Chính vì thế, Chính phủ các nước nhận tài trợ rất cần thời gian và kinh nghiệm để đi

đến thống nhất và hài hòa thủ tục về quản lý tài chính dự án nói chung và hồn thiện

tổ chức kế tốn nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện của dự án.



61



Về cơng tác kiểm tra kế tốn: Hầu hết dự án đều có sự kiểm tra, kiểm sốt ở các

bộ phận kế tốn trong q trình lập hóa đơn, chứng từ dưới sự kiểm tra kiểm soát

của kế toán trưởng. Nhưng sự kiểm tra, kiểm sốt đó cũng khơng thể giám sát hết

được những sai sót, do chưa có quy trình kiểm tra chặt chẽ các thơng tin trên chứng

từ gốc và các thông tin trong máy. Hơn nữa do khơng có bộ phận kiểm sốt nội bộ

trong BQLDA cho nên việc tự kiểm soát chỉ do kế toán trưởng thực hiện là chủ yếu.

Vì thế rất khó tránh khỏi sai sót.

5.2. Các khuyến nghị đề xuất và điều kiện thực hiện giải pháp

5.2.1. Phương hướng hoàn thiện

Để tổ chức kế toán thực sự là một phân hệ hoạt động hữu hiệu của quản lý kinh

tế, tài chính trong các dự án ODA thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường hồn thiện tổ

chức kế tốn phải trên cơ sở hồn thiện tổ chức kế toán phải đáp ứng được yêu cầu

của đất nước trong điều kiện mở cửa hội nhập trên thế giới. Hồn thiện tổ chức kế

tốn đáp ứng được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, đáp ứng yêu cầu

giám sát nguồn vốn của nhà tài trợ đồng thời đáp ứng được yêu cầu quản lý của

nước ta. Tiến độ thực hiện dự án được đánh giá thông qua tiến độ giải ngân của dự

án. Việc hồn thiện tổ chức kế tốn giúp cho kế hoạch giải ngân được xây dựng

thực tế hơn, phát huy hiệu quả thể hiện ở chỉ tiêu hoàn thành giải ngân theo kế

hoạch năm sau luôn cao hơn năm trước. Trên cơ sở kế hoạch tài chính dự án, việc

lập kế hoạch giải ngân căn cứ vào tình hình thực hiện cụ thể của các dự án, có tính

tới những tác động của các yếu tố khách quan cũng như các yếu tố chủ quan và chủ

trương chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, kế hoạch

giải ngân có chất lượng là do sự phối hợp chặt chẽ của phía Việt Nam với các nhà

tài trợ để nghiên cứu, phân tích, dự đốn và đưa ra những giải pháp nhằm hồn

thiện quy trình quản lý tài chính của các dự án.

Hồn thiện tổ chức kế tốn phải được tiến hành tồn diện ở tất cả các yếu tố

trong hệ thống hạch toán kế toán, tổ chức kế toán phải phù hợp với chế độ kế tốn

Nhà nước ban hành đang có hiệu lực ở thời kỳ hạch toán, tổ chức kế toán phải phù

hợp với đặc điểm của dự án ODA, tổ chức kế toán phải phù hợp với các chuẩn mực

kế toán Việt Nam và các chuẩn mực kế toán quốc tế được Việt Nam thừa nhận, tổ



62



chức kế toán phải phù hợp với trình độ của nhân viên dự án đồng thời phải gọn nhẹ,

tổ chức kế toán phải đáp ứng được yêu cầu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào kế tốn

để tiết kiệm chi phí kế tốn, nâng cao năng suất lao động kế toán, tổ chức kế toán

phải đáp ứng được yêu cầu là cung cấp được những thông tin kinh tế chính xác, kịp

thời phục vụ cho quản lý.

Do vậy tổ chức kế toán tại các dự án ODA thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường

tạo tập trung vào hồn thiện tổ chức bộ máy kế tốn, tổ chức hệ thống chứng từ, hệ

thống tài khoản, hình thức kế toán, hệ thống sổ sách, hệ thống báo cáo, hồn thiện

ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào cơng tác tổ chức kế toán trên các mặt:

Về tổ chức bộ máy kế toán: Nâng cao năng lực tăng cường bằng việc cử cán bộ

nhân viên đội ngũ nhân viên kế toán tham các lớp học tập huấn cho do Bộ tài chính

cũng như ngân hàng thế giới tổ chức, sắp xếp các phần hành kế toán chi tiết sao cho

phù hợp với trình độ và mang tính ổn định cao nhất.

Tổ chức hệ thống chứng từ: Cần khắc phục những phần công việc chưa theo

đúng qui định hiện hành của Nhà nước và của các dự án ODA về tổ chức hệ thống

chứng từ. Đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn tổ chức hệ thống

chứng từ..

Tổ chức hệ thống tài khoản: Chỉnh sửa và bổ sung việc vận dụng thêm các tài

khoản trong hệ thống tài khoản hiện hành để phù hợp với đặc thù hoạt động của các

dự án ODA và phù hợp với những thay đổi trong các văn bản pháp lý hiện hành của

Nhà nước.

Tổ chức hệ thống sổ sách: Dựa trên cơ cấu tổ chức hệ thống sổ hiện tại, điều

chỉnh lại mơ hình tổ chức sổ sách sao cho thuận tiện trong ứng dụng công nghệ

thông tin, cũng như đáp ứng yêu cầu quản lý đòi hỏi ngày càng cao.

Tổ chức hệ thống báo cáo: Bổ sung thêm nội dung trong hệ thống báo cáo hiện

hành với mục tiêu cung cấp đầy đủ và chi tiết hơn các thông tin cho quản lý của dự

án

Tổ chức kiểm tra kế toán: Cần có bộ phận kiểm sốt nội bộ thực hiện công tác

kiểm tra giúp cho công tác quản lý tài chính hiệu quả.



63



5.2.2. Một số giải pháp hồn thiện tổ chức kế toán ở các dự án ODA thuộc

Bộ Tài ngun và Mơi trường.

a. Hồn thiện tổ chức bộ máy kế tốn

Cơng việc tại các ban quản lý dự án thường có khối lượng lớn, thời gian hoạt

động ngắn nên đội ngũ cán bộ điều phối viên phải đảm bảo trình độ chun mơn thì

mới có thể đảm đương được công việc, đặc biệt chú trọng đến nâng cao năng lực

chun mơn của đội ngũ nhân viên kế tốn. Ngồi ra, Ban quản lý dự án trung ương

cũng nên thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng định kỳ để bộ phận kế toán của

các ban quản lý cấp dưới được thường xuyên cập nhật thông tin về các quy định

mới của Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ đưa ra cách hạch toán và lập báo

cáo một cách thống nhất. Trong phân bổ các vị trí kế tốn cũng cần chú trọng đến

tính ổn định, khơng nên thay thế nửa chừng để công việc bị gián đoạn mà ảnh

hưởng chung đến tiến độ thực hiện dự án.

Chỉ khi làm tốt các tăng cường năng lực cho bộ phận kế tốn của các dự án thì

quản lý tài chính dự án ODA mới đảm bảo được thực hiện đúng và đầy đủ các quy

trình theo quy định của Nhà nước và nhà tài trợ, đảm bảo dự án hoàn thành đúng

tiến độ và hạn chế các sai phạm về nghiệp vụ tài chính.

b. Hồn thiện tổ chức hệ thống chứng từ kế tốn

Hệ thống chứng từ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thơng tin thường

xun cho quản lý đồng thời hệ thống chứng từ kế tốn còn giữ vai trò quan trọng là

căn cứ ban đầu để ghi sổ kế toán. Tất cả chứng từ kế toán của dự án phải được đánh

số thứ tự và lưu giữ an toàn, các liên hỏng phải được lưu lại. Khi nghiệp vụ thu, chi

hoàn tất và đảm bảo chứng từ kế toán chỉ lập và thanh toán một lần cho một nghiệp

vụ kinh tế, tài chính phát sinh, chứng từ gốc và chứng từ kế toán liên quan phải

được đóng dấu “đã thanh tốn” và lưu trong hồ sơ kế toán. Nên xây dựng hệ thống

mẫu biểu thống nhất giữa các đơn vị để tránh việc mất thời gian trong việc xử lý các

vấn đề thanh toán. Việc xây dựng mẫu biểu áp dụng theo thông tư 107/2007/TTBTC áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2018. Theo quy định của thơng tư này ngồi

việc áp dụng mẫu biểu theo thơng tư, các BQLDA có thể tự xây dựng thiết kế các

mẫu biểu phù hợp với đặc thù của hoạt động tại đơn vị. Do đó các BQLDA nên có



64



quy định chung thống nhất khi xây dựng các mẫu biểu để giúp đẩy nhanh cơng tác

thanh tốn.

c. Hoàn thiện tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán

Hệ thống tài khoản mà các dự án đang vận dụng là hệ thống tài khoản dùng cho

đơn vị chủ đầu tư theo Thông tư 195/2012/TT-BTC ban hành ngày 15 tháng 11 năm

2012 của Bộ Tài chính về chế độ kế toán áp dụng cho chủ đầu tư. Về cơ bản hệ

thống tài khoản này đã đáp ứng được các yêu cầu của quản lý và giám sát của các

dự án. Tuy nhiên do sự phát triển của nền kinh tế, do yêu cầu quản lý của đơn vị cần

vận dụng thêm một số tài khoản. Cụ thể là:

Nên vận dụng Tài khoản 153 “Công cụ dụng cụ” vào hạch tốn giá trị văn

phòng phẩm thực tế mua và sử dụng tại dự án. Tất cả các loại văn phòng phẩm mua

về đều phải nhập qua kho rồi mới xuất cho các bộ phận sử dụng. Hiện nay, các dự

án chưa xây dựng được quy trình quản lý văn phòng phẩm về số lượng và chất

lượng như đã sử dụng. Vì vậy nên có hệ thống phiếu nhập kho, phiếu xuất kho để

theo dõi và thực hiện kiểm kê định kỳ cuối tháng một lần. Việc kiểm kê này sẽ xác

định được số tồn kho và số lượng văn phòng phẩm cần mua trong tháng tới. Khi có

nghiệp vụ phát sinh, kế toán mở sổ theo dõi chi tiết văn phòng phẩm cả về số lượng

và giá trị từng loại nhập, xuất, tồn kho để cuối tháng đối chiếu với nhau nhưng lại

chưa thể hiện rõ trong các định khoản kế tốn.

Khi mua văn phòng phẩm về dự án, kế tốn ghi: Tài khoản 642 – Chi phí

BQLDA

Do vậy, em thấy rằng nếu hạch tốn như trên có nghĩa là tất cả văn phòng phẩm

mua về đều đã được sử dụng hết, không xác định được giá trị tồn kho cuối tháng

của văn phòng phẩm và khơng khớp với sổ theo dõi nhập, xuất, tồn văn phòng

phẩm của kế tốn theo dõi. Để thuận lợi cho kế tốn thì bút tốn trên nên sửa lại là:

Khi mua văn phòng phẩm về nhập kho, kế toán ghi:Nợ Tài khoản 153

Khi xuất văn phòng phẩm ra sử dụng, kế tốn ghi:Nợ Tài khoản 642

Số dư bên Nợ tài khoản 153 là giá trị thực tế của văn phòng phẩm hiện còn

trong kho của đơn vị.

Đối với TK 413 nên chi tiết thành hai loại:



65



- TK 4131: Chênh lệch tỷ giá đối với khoản thanh toán

- TK 4132: Chênh lệch tỷ giá với khoản phí dịch vụ

- Khi nhận kinh phí dự án do Ngân sách nhà nước cấp hoặc nhà tài trợ chuyển

sang bằng ngoại tệ, các khoản thu chưa qua ngân sách bằng ngoại tệ, các khoản chi

và giá trị TSCĐ mua bằng ngoại tệ dùng cho hoạt động dự án được quy đổi ra đồng

Việt Nam theo tỷ giá thực tế của ngân hàng phục vụ tại thời điểm nghiệp vụ kinh tế

phát sinh. Số phát sinh bên Có của các tài khoản 111, 112 và số phát sinh bên Nợ

các tài khoản 211, 331… bằng ngoại tệ được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá

trên sổ kế tốn của từng tài khoản có liên quan theo phương pháp giá bình qn gia

quyền.

d. Hồn thiện hệ thống sổ sách kế toán

Trong phân quyền, việc chữa sổ kế tốn chỉ nên được thực hiện bởi trưởng

phòng kế tốn hoặc kế toán tổng hợp. Khi phát hiện các sai sót trong các sổ khi

chưa khóa sổ, ta có thể tiến hành sửa chữa các số liệu sai rồi in lại tất cả các sổ có

liên quan tới số liệu sai đó và in lại bảng kê chứng từ có chứng từ sai. Còn khi đã

thực hiện việc khóa sổ, việc chữa sổ kế tốn phải được trưởng phòng kế toán và thủ

trưởng đơn vị phê duyệt, sau khi số liệu được sửa sai phải in lại tất cả các sổ và

bảng kê chứng từ có liên quan tới số liệu sai đó. Các sổ kế tốn có sai sót, bảng kê

chứng từ có sai phải được lưu trữ lại để chứng minh cho việc sửa chữa.

Theo yêu cầu cần thiết của cơng tác quản lý tài chính, kế tốn nên mở thêm một

số sổ để phục vụ công tác kiểm tra theo dõi:

Việc mở thêm sổ theo dõi nguyên tệ tiền mặt, tiền gửi bằng ngoại tệ theo mẫu

số S13-H (ban hành theo Thông tư số 107/2017/TT -BTC) sẽ giúp cho các dự án

theo dõi được dòng tiền ngoại tệ ra vào dự án được chuyển đổi theo tỷ giá tại từng

thời điểm phát sinh nghiệp vụ. Căn cứ để ghi sổ là các phiếu thu, phiếu chi bằng

ngoại tệ và các giấy báo Có, báo Nợ hay Bảng sao kê kèm theo chứng từ gốc của

Ngân hàng, Kho bạc. Mỗi một tài khoản giao dịch bằng ngoại tệ (các dự án thường

sử dụng loại tiền ngoại tệ là đô la Mỹ) được theo dõi trên một quyển sổ hoặc một số

trang. Cuối tháng, cộng tổng số tiền gửi vào, rót ra để tính số dư, đối chiếu với Kho

bạc, Ngân hàng làm căn cứ để đối chiếu với Sổ Cái và lập báo cáo tài chính.



66



Thứ hai đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có các khoản thu từ việc bán

hồ sơ thầu để theo dõi các khoản thu này kế toán nên mở thêm sổ quỹ tiền mặt (phụ

lục 8) nhằm giúp kiểm tra các khoản chi tiêu tiền mặt của dự án đồng thời việc theo

dõi các khoản thu của dự án là cơ sở giúp kế toán lập kế hoạch chi tiêu cho các

khoản thu này.

e. Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán

Trong tổ chức kế toán tại các dự án ODA thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường

được xác định theo Thông tư số 107/2017/TT-BTC và thông tư 195/2012/TT-BTC

ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Bộ Tài chính về việc chế độ kế toán áp dụng cho

chủ đầu tư

Khi các ban quản lý dự án đã có tài khoản tiếp nhận vốn ODA, các cơ quan

chức năng của Nhà nước phải thường xuyên tiến hành kiểm tra, kiểm soát và giám

sát các khoản chi tiêu bằng vốn ODA. Theo định kỳ hàng quý và cả năm, các dự án

phải lập báo cáo tình hình tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA gửi Bộ đúng thời

hạn. Bộ Tài nguyên và Mơi trường có trách nhiệm tổng hợp tồn bộ tình hình tiếp

nhận và sử dụng ODA của các dự án thuộc phạm vi quản lý. Kiểm tra, báo cáo việc

sử dụng vốn ODA phải được thực hiện thường xuyên theo tiến độ thực hiện dự án

với mục đích là giúp cho ban quản lý dự án và Bộ Tài nguyên và Môi trường tạo

đánh giá được tỷ lệ giải ngân so với kế hoạch và đưa ra được các biện pháp thúc đẩy

tiến độ giải ngân và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA.

e. Ứng dụng công nghệ tin học trong tổ chức kế toán tại các dự án ODA thuộc

Bộ Tài ngun và Mơi trường.

Để có thể cập nhật được các số liệu của dự án thường xuyên, liên tục và thống

nhất thì Bộ Tài ngun và Mơi trường cần nhanh chóng triển khai hệ thống tin học

theo dõi việc thực hiện của các dự án ODA hay mở rộng hơn là nên xây dựng và lắp

đặt mạng máy tính ở cấp trung ương liên kết giữa Ban quản lý dự án ODA với cơ

quan chủ quản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam, Văn phòng Chính phủ. Hệ thống theo dõi và giám sát này phải nhận được sự

hỗ trợ thường xuyên của Chính phủ và các nhà tài trợ thì mới đảm bảo được sự

thơng suốt và gắn kết trong toàn hệ thống. Đối với việc gửi các báo cáo lên các cơ



67



quan cấp trên hoặc các cơ quan tài chính, ngồi việc gửi bằng giấy theo qui định, có

thể truyền các báo cáo thơng qua hệ thống đường truyền trên mạng máy tính, việc

truyền dữ liệu cho các cơ quan khác bằng dữ liệu máy sẽ giúp cho việc tập hợp số

liệu và xử lý tiếp theo của các số liệu trên các báo cáo được nhanh hơn. Thực hiện

được như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát của cơ quan

cấp trên với cấp dưới giảm chi phí trong khâu in ấn và vận chuyển. Các nội dung

trên cần phải được cụ thể hóa bằng văn bản có giá trị trong nội bộ dự án để duy trì

hoạt động quản lý tài chính thống nhất tại mọi cấp quản lý.

5.2.3. Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán ở các dự

án ODA thuộc Bộ Tài nguyên va Mơi trường

5.2.3.1. Các điều kiện từ phía Nhà nước

Các quy định về thủ tục rút vốn và thanh toán trong nước rất phức tạp khiến

thời gian thanh quyết toán các khoản chi bị kéo dài hơn so với thời gian dự kiến

khiến giải ngân bị chậm trễ. Các thủ tục này thường được thực hiện qua hệ thống

Kho bạc Nhà nước. Vì vậy quy trình kiểm sốt chi qua hệ thống Kho bạc Nhà nước

cần phải có quy định cụ thể rõ ràng về các căn cứ soát xét, hướng dẫn cụ thể cho các

BQLDA và các nhà thầu để tránh những tiêu cực và rút ngắn thời gian làm thủ tục

chấp nhận thanh tốn cho các dự án.

Chính phủ cần trực tiếp chỉ đạo chống tham nhũng và tăng cường giám sát tài

chính các khoản chi sử dụng nguồn vốn ODA.

Mức độ ổn định của đồng ngoại tệ là một nhân tố chủ quan có ảnh hưởng trực tiếp

đến quản lý Nhà nước về tài chính cũng như quản lý tài chính trong các dự án ODA.

Đối với cơ quan quản lý Nhà nước về tài chính thì chỉ cần bất kỳ sự biến động của tỷ

giá hối đoái theo chiều hướng xấu cũng có thể làm tăng nợ quốc gia. Nếu đồng tiền

viện trợ tăng giá so với đồng tiền của nước tiếp nhận trong quá trình thực hiện dự án thì

đến thời điểm trả nợ, nước tiếp nhận sẽ phải trả thêm một khoản nợ bổ sung do có sự

chênh lệch tỷ giá giữa thời điểm vay và thời điểm trả. Thông thường các nước tiếp

nhận không có quyền lựa chọn đồng tiền để vay ODA lại càng khơng có quyền sử dụng

đồng tiền quốc gia mà phải vay bằng đồng tiền do nhà tài trợ quy định. Đối với quản



68



lý tài chính dự án thì sự thay đổi tỷ giá giữa đồng tiền viện trợ và đồng tiền trong nước

có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kế toán khi hạch toán các khoản chi trả cho nhà cung

cấp hàng hóa và dịch vụ, xuất hiện sự chênh lệch giữa số tiền thực trả với số tiền chứng

từ khi tiến hành thanh toán bằng đồng tiền trong nước. Do đó ổn định tỷ là vấn đề mà

chính phủ quan tâm.

Đối với mỗi dự án ODA, nhà tài trợ đều yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải cung

cấp một khoản vốn đảm bảo trong nước theo theo một tỷ lệ nào đó để tăng cường

trách nhiệm của Chính phủ trong việc lựa chọn các dự án ưu tiên. Tỷ lệ yêu cầu về

vốn đối ứng thường xê dịch từ 15 – 30% giá trị dự án tùy từng nhà tài trợ. Theo

nguyên tắc, vốn đối ứng của chương trình, dự án thuộc cấp nào thì cấp đó xử lý từ

nguồn ngân sách của mình. Tuy nhiên trong trường hợp yêu cầu về vốn đối ứng là

quá lớn, vượt khả năng cân đối thì phải trình lên Thủ tướng Chính phủ xin hỗ trợ

ngay khi thành lập dự án. Trong quá trình thực hiện các dự án ODA, vấn đề vốn đối

ứng luôn là một nguyên nhân gây ra chậm chễ trong quá trình giải ngân đồng thời

sự thiếu hụt này cũng khiến các ban quản lý dự án vi phạm nguyên tắc sử dụng

nguồn vốn vay và vốn viện trợ.

Chính vì vậy, cần thiết phải có sự tham gia của Chính phủ trong việc tháo gỡ

những khó khăn về vốn đối ứng. Quy chế vốn đối ứng cần phải được cụ thể hóa.

Đảm bảo vốn đối ứng kịp thời theo đúng tiến độ thực hiện dự án. Đồng thời với mỗi

dự án cùng loại, cần có cơ chế thống nhất vốn đối ứng để các chủ dự án có thời

gian, kinh nghiệm cũng như ý thức chuẩn bị, cân đối vốn đối ứng tốt hơn tránh tình

trạng trong quá trình thực hiện thấy phát sinh hiện tượng thiếu mới xin điều chỉnh

vốn đối ứng.

Những quy định chung về vốn đối ứng đã được điều chỉnh trong lại tại Điều 12,

Điều 26 và Điều 27 tại Nghị định 17/2001/NĐ-CP. Mới đây những quy định về lập

kế hoạch vốn đối ứng và điều chỉnh vốn đối ứng cũng được cụ thể hóa trong Thơng

tư 02/2003/TTLT-BKH-BTC. Song cần tăng cường quản lý sử dụng vốn đối ứng

trong dự án ODA để phù hợp với Quy định của Chính phủ và khơng được sử dụng

vốn đối ứng ngồi mục đích, nội dung của dự án.



69



Nói tóm lại để đảm bảo vốn đối ứng cho quá trình thực hiện dự án cũng như

đảm bảo việc nguồn ODA không được sử dụng sai mục đích, trước hết các cơ quan

quản lý Nhà nước cần phải kiểm sốt chặt chẽ q trình lập kế hoạch chi tiêu của

các dự án để đảm bảo cân đối nguồn vốn đối ứng. Thứ hai, phải tuân thủ giao vốn

đối ứng đúng địa chỉ cho các dự án cụ thể, không tùy tiện trong việc cấp phát vốn

đối ứng, sử dụng sai mục đích có như vậy các dự án mới được tạo điều kiện thuận

lợi để thực hiện đúng các quy trình thủ tục quản lý tài chính.

5.2.3.2 Các điều kiện từ phía các dự án

Việc kiểm tra kế toán cần được thực hiện định kỳ hàng quý đảm bảo giám sát

chặt chẽ việc chi tiêu sử dụng nguồn vốn ODA của các dự án.

Hoạt động tài chính dự án chịu chi phối bởi rất nhiều quy định của nhà tài trợ từ

các quy định về thủ tục rút vốn, mở tài khoản, các hình thức rút vốn đến các quy

định về lựa chọn kiểm toán độc lập... Đồng thời trong quá trình hoạt động của các

dự án, các quy định này thường xuyên được sửa chữa, bổ sung hoặc thay đổi theo

những quan điểm của các nhà tài trợ trong từng giai đoạn khác nhau. Vì vậy, để đảm

bảo cho hoạt động của dự án đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của nhà tài trợ,

rút ngắn thời gian phê duyệt, các dự án phải thường xuyên cập nhật những thông tin

thay đổi về các quy định liên quan đến lĩnh vực quản lý tài chính của nhà tài trợ.

5.3. Đóng góp của đề tài nghiên cứu (về mặt lý luận và thực tiễn)

Qua nghiên cứu, luận văn đã làm rõ được một số vấn đề sau đây:

Về mặt lý luận: Đã hệ thống hóa được tương đối đầy đủ các nội dung cơ bản về

tổ chức kế tốn nói chung và tổ chức kế tốn tại các dự án ODA nói riêng.

Về mặt thực tiễn:

Thứ nhất: Nêu được sự cần thiết của việc hoàn thiện tổ chức kế toán tại các dự

án ODA thuộc Bộ Tài ngun và Mơi trường từ đó đề ra phương hướng hoàn thiện.

Thứ hai: Đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán về tổ chức bộ máy kế

toán, chứng từ kế tốn, tài khoản kế tốn, hình thức kế tốn, hồn thiện hệ thống sổ

sách, kiểm tra kế tốn và ứng dụng tin học vào cơng việc.

Thứ ba: Đưa ra điều kiện thực hiện việc hoàn thiện tổ chức kế toán này.

Luận văn đã khái quát được quy trình quản lý tài chính của các dự án ODA tại



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đánh giá thực trạng tổ chức kế toán tại các dự án ODA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x