Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÁC DỰ ÁN ODA

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÁC DỰ ÁN ODA

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Bangladesh trên các phương diện: xác định và phân tích các vấn đề về kế toán của

các tổ chức phi chính phủ; trình bày hệ thống báo cáo và báo cáo của chương trình;

cung cấp thơng tin kế tốn tại dự án; tìm hiểu các vấn đề khác nhau về kế tốn của

tổ chức phi chính phủ liên quan đến kế tốn tổng hợp.

2.1.2. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu trong nước

Tổ chức kế tốn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong tất cả các tổ chức

kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọng đó, tại Việt Nam cũng có rất nhiều những

đề tài nghiên cứu về tổ chức kế toán trong các doanh nghiệp cũng như các đơn vị

công.

Một số các nghiên cứu trong nước tập trung chủ yếu vào tổ chức kế toán trong

các sự nghiệp cơng lập như: Nguyễn Mai Hằng (2015), Hồn thiện tổ chức kế toán

tại các Cục dự trữ Nhà nước khu vực Hà Nội; Lê Thị Nhạn (2017), Hoàn thiện tổ

chức kế tốn tại Cổng Thơng tin điện tử Chính phủ. Các nghiên cứu đã mô tả một

bức tranh khái quát về thực trạng tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp cơng lập

từ đó xây dựng đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế tốn trên các

phương diện về khn khổ pháp luật về tài chính kế tốn.

Một số nghiên cứu tổ chức kế toán trong các đơn vị doanh nghiệp như: Nguyễn

Duy Kiên (2016), Hồn thiện tổ chức cơng tác kế tốn tại cơng ty cổ phần Bia

Thanh Hóa; Trần Thị Bích Ngọc (2016), Hồn thiện tổ chức kế tốn tại cơng ty cổ

phần Dược - Vật tư y tế Nghệ An. Các đề tài nghiên cứu trên nêu được tầm quan

trọng của việc tổ chức cơng tác kế tốn một cách khoa học. Trên cơ sở tìm ra những

tồn tại trong tổ chức kế toán tại các đơn vị, nghiên cứu đã đưa ra một số biện pháp

giúp hồn thiện cơng tác tổ chức kế toán hiệu quả hơn.

Đối với nghiên cứu về dự án sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam có rất nhiều

nghiên cứu. Một số nghiên cứu như: Nguyễn Tiến Đà (2017), Quản lý hỗ trợ phát

triển chính thức vốn (ODA) tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Nguyễn

Thùy Linh (2016), Thu hút vốn ODA Nhật Bản vào phát triển nông nghiệp Việt

Nam. Các nghiên cứu trên đã khái quát được đặc điểm của nguồn vốn ODA. Tuy

nhiên nội dung quản lý tài chính được đề cập đến như một nhân tố giúp việc quản lý

và sử dụng vốn ODA hiệu quả.



7



Tóm lại, mặc dù có rất nhiều các cơng trình, đề tài nghiên cứu ở trong nước

cũng như nước ngồi về tổ chức kế tốn trong các tổ chức bao gồm khu vực công và

khu vực tư nhân có những đóng góp ý nghĩa và là nguồn tài liệu tham khảo cho đề

tài nghiên cứu của tác giả. Tuy nhiên theo tìm hiểu thì hiện nay chưa có nhiều

nghiên cứu tổ chức kế tốn tại các dự án có sử dụng nguồn vốn ODA vì vậy việc

nghiên cứu đề tài tổ chức kế toán tại các dự án ODA có ý nghĩa quan trong trong bổ

sung khoảng còn trống trong mảng nghiên cứu về tổ chức kế toán.

Kế thừa từ nghiên cứu trong nước và ngoài nước nêu trên, nội dung nghiên cứu

tổ chức kế toán dự án trong các dự án ODA thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ

tập trung nghiên cứu những vấn đề trọng tâm sau:

- Trình bày hệ thống một cách tồn diện khái niệm, ý nghĩa và vai trò của tổ

chức kế toán dự án trong các dự án ODA

- Trên cơ sở nghiên cứu điển hình tại dự án Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Mê Công, luận văn mô tả khái quát chung thực trạng tổ chức kế toán dự án trong

các dự án ODA thuộc Bộ tài nguyên và Môi trường nhằm rút ta các mặt hạn chế

đồng thời phát hiện những nguyên nhân ảnh hưởng tới thực trạng, làm cơ sở để xây

dựng định hướng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán dự án trong các

dự án ODA thuộc Bộ tài nguyên và Môi trường trong tương lai.

- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi theo hướng: vận dụng tốt chế độ kế

toán áp dụng cho các dự án ODA và phù hợp với đặc thù của đơn vị quản lý; tổ

chức kế toán tại các dự án ODA thuộc Bộ tài nguyên và Môi trường.



8



2.2. Cơ sở lý luận về ODA và quản lý tài chính đối với dự án ODA

2.2.1. Đặc điểm dự án đầu tư sử dụng vốn ODA

2.2.1.1. Tổng quan về ODA

ODA (viết tắt: Official Development Assistance) cách gọi khác của Hỗ trợ Phát

triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ chính thức là nguồn vốn vay ưu đãi từ nước

ngoài trên cơ sở được thỏa thuận trợ giúp từ các nước công nghiệp phát triển đối với

các nước đang phát triển với hai mục tiêu chính.

- Đối với các nước nhận viện trợ, nguồn vốn ODA giúp thúc đẩy tăng trưởng dài

hạn đồng thời tham gia vào hỗ trợ xóa đói giảm nghèo

- Đối với các nước viện trợ: việc hỗ trợ ODA cho các nước đang phát triển sẽ giúp

tăng cường lợi tăng cường lợi ích chiến lược và vị thế chính trị.

Về bản chất, ODA được xem như là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia

đến từ các nước phát triển nhằm hỗ trợ cho các nước đang và chậm phát triển.

Trong một phiên họp năm 1961, Liên Hiệp Quốc đã kêu gọi các nước phát triển

dành 1% GNP của mình để hỗ trợ phát triển bền vững về kinh tế - xã hội của các

nước đang phát triển.

Khái niệm về ODA được đưa ra trong rất nhiều cơng trình nghiên cứu nhưng về

bản chất thì khái niệm vốn ODA khơng có q nhiều khác biệt.

* Theo CIEM (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương)

Năm 1961 trong bản báo cáo đầu tiên của Ủy ban hỗ trợ (DAC): “ ODA là

những luồng tiền tài chính chuyển tới những nước đang phát triển và tới những tổ

chức đa phương để chuyển tới các nước đang phát triển mà : (i) được cung cấp bới

những tổ chức chính phủ (Trung ương và địa phương) hoặc bởi cơ quan điều hành

tổ chức này; (ii) có mục tiêu chính là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi của

các nước đang phát triển; (iii) mang tính chất ưu đãi và có u tố khơng hồn lại

>=25% (được tính với tỷ suất chiết khấu 10%)”

* Theo OECD (Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển)

Năm 1971, định nghĩa ODA là “Giao dịch chính thức được thiết lập với mục

đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước đang phát triển.



9



Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ khơng

hồn lại chiếm ít nhất 25%".

* Theo Ngân hàng Thế giới (WB)

“ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức ODF trong đó có yếu tố

viện trợ khơng hồn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong

tổng viện trợ”.

“Hỗ trợ phát triển chính thức” (ODA) bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam kể từ khi

Việt Nam ký hiệp ước bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ vào tháng 10 năm

1993.Nghị định 17/2001/NĐ-CP ngày 4 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ nước

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đưa ra khái niệm về ODA như sau: “Hỗ trợ

phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) là sự hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc

Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ, bao gồm :

Chính phủ nước ngồi và các Tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia”.

Trên cơ sở các khái niệm trên, ta có thể hiểu ODA là nguồn vốn hỗ trợ từ

Chính phủ các nước và các Tổ chức tài chính quốc tế cho Chính phủ các nước

đang phát triển thơng qua hình thức viện trợ khơng hồn lại hoặc cho vay ưu đãi

nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước này.

Nguồn vốn ODA bao gồm:

- ODA viện trợ khơng hồn lại là vốn vay khơng phải trả cho nhà tài trợ.

- ODA cho vay ưu đãi: Là vốn ODA phải hoàn trả cho nhà tài trợ với mức ưu

đãi về lãi suất, thời gian trả nợ, thời gian ân hạn bảo đảm các yếu tố khơng hồn lại

trong ODA luôn phải đạt mức tối thiểu là 35% đối với khoản vay có ràng buộc và

25% đối với các khoản vay khơng ràng buộc. Trong đó vốn ODA khơng có ràng

buộc được hiểu là khoản vay khơng bị ràng buộc liên quan đến việc mua sắm hàng

hóa và dịch vụ từ quốc gia tài trợ hay nhóm quốc gia nhất định được quy định trong

hiệp định. ODA nằm trong dòng lưu chuyển vốn quốc tế chủ yếu đến từ các nước

phát triển sang các nước đang phát triển là một bộ phận của vốn nước ngoài thuộc

nguồn hỗ trợ phát triển chính thức



10



Các quốc gia tài trợ vốn ODA chủ yếu là:

-



Các quốc gia thành viên của OECD: Mỹ, Pháp, Australia, Cannada,



Newzealand, Nhật Bản, Anh, Đức các nước EU...

- Các quốc gia thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC)

-



Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA: Ngân hàng Thế giới (WB),

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hàng phát triển Châu

Á (ADB)…



2.2.1.2. Tính chất của nguồn vốn ODA

Mặc dù vốn ODA đem lại nhiều lợi ích trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh

cho nước tiếp nhận vốn. Tuy nhiên trên thưc tế nguồn vốn ODA khơng phải mang

lại tồn bộ lợi thế mà nó còn những hạn chế nhất định.

Về mặt lợi thế

Thứ nhất, các khoản vay ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất kỳ hình thức tài

trợ nào khác. Bởi vì ODA là những khoản vay ưu đãi về mặt lãi suất, thời gian nợ

cũng như thời gian ân hạn dành cho các nước đang phát triển với mục tiêu thúc đẩy

phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Chẳng hạn các khoản vay của ngân hàng thế

giới có thời gian vay 40 năm, thời gian ân hạn 10 năm; các khoản vay của ADB có

thời gian vay 32 năm, thời gian ân hạn 8 năm. Lãi suất cho các khoản vay ODA

thường ở mức rất thấp (lãi suất đối với các khoản vay của WB là 0%/năm, phí dịch

vụ 0,75%/năm; của ADB là 1%/năm trong 8 năm đầu, của Nhật Bản là 0,752,3%/năm tùy thuộc vào từng chương trình, dự án cụ thể).

Thứ hai, đối với tài khoản vốn, ODA là một trong những nguồn vốn chủ đạo

góp phần tăng cường nguồn ngoại tệ cho quốc gia, bù đắp thâm hụt cán cân thanh

toán. Về lý thuyết, sau khi nhận viện trợ, tài khoản vốn (capital account) trong cán

cân thanh toán của một quốc gia ở trạng thái thặng dư. Vốn ODA được xem là một

dòng tiền, ghi Có ở tài khoản vốn. Thơng thường các nước đang phát triển với nhu

cầu phát triển kinh tế, lượng hàng hóa nhập khẩu rất lớn dẫn tới nhu cầu về ngoại tệ

tăng do đó thường tạo ra sự thâm hụt trong tài khoản vãng lai (current account).

Trên thực tế nguồn dự trữ ngoại tệ quốc gia của các nước đang phát triển không đủ

để tài trợ cho khoản chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu mà thường được bù



11



đắp bằng những nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngồi như ODA, FDI. Do dó ODA

có vai trò quan trọng trong việc giữ cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.

Thứ ba, ODA giúp các nước đang phát triển khơng những nhận được sự chuyển

giao cơng nghệ mà còn nâng cao chất lượng quản lý. Sau khi tiếp nhận nguồn vốn

vay, các nước đang phát triển có thể sử dụng vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng, đổi mới

máy móc cơng nghệ nhằm phát triển kinh tế.

Về mặt hạn chế

Khơng thể phụ nhận những lợi ích kinh tế mà nguồn vốn ODA mang lại tuy

nhiên những nước tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA cũng gặp phải hạn chế

nhất định do nguồn vốn mang lại.

Thứ nhất, sau khi nhận nguồn vốn ODA nước tiếp nhận sẽ phải chịu những ràng

buộc về chính sách tài trợ về kinh tế và chính trị. Nhìn chung khoảng 22% viện trợ

của ADB phải được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của các nước viện trợ hay

Nhật Bản yêu cầu vốn ODA phải thực hiện bằng đồng Yên Nhật cũng như Mỹ đòi

hỏi được hưởng các điều kiện ưu đãi trong đầu tư và thu mua nguyên liệu thô.

Nguyên nhân của những ràng buộc này xuất phát từ việc các nước phát triển nhận

thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ giúp đỡ các nước đang phát triển để mở rộng

thị trường tiêu thụ sản phẩm và môi trường đầu tư. Bên cạnh đó, ODA cũng được

các nước phát triển coi như một cơng cụ chính trị để xác định vị trí và ảnh hưởng

của mình tại các nước tiếp nhận viện trợ.

Thứ hai, ODA làm gia tăng nợ cơng và nợ nước ngồi. Dẫn chứng, viện trợ phát

triển chính thức, viện trợ khơng hồn lại chỉ chiếm khơng q 25% nguồn vốn, còn

lại phần lớn là khoản vay ưu đãi. Do vốn dễ tiếp cận mà trách nhiệm của người đi

vay không cao nên các dự án sử dụng vốn ODA có nguy cơ quản lý kém hiệu quả,

nảy sinh tham nhũng, hối lộ giữa nhà thầu và bên đại diện dự án.Các hành vi tiêu

cực này sẽ được hạch tốn vào chi phí thực hiện khiến cho chi phí cơng trình bị đội

lên rất cao. Nhưng do là vay nợ ODA nên cuối cùng gánh nặng nợ được chi trả bằng

tiền thuế mà người dân đóng góp.



12



2.2.1.3. Vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có vai trò đặc biệt quan trọng

trong việc giúp Việt Nam xây dựng nền tảng nhằm thu hút các nguồn lực khác.

Trong 20 năm qua, Việc tiếp nhận vốn ODA từ các nhà tài trợ đã góp phần tăng

cường cho Việt Nam nguồn tài chính đáng kể nhằm thực hiện cải cách kinh tế và

hội nhập với quốc tế.

Với việc thực hiện chiến lược kinh tế và xu hướng hội nhập quốc tế, một trong

những mục tiêu quan trọng trong chiến lược của Việt Nam là thu hút ODA cho sự

phát triển kinh tế được lấy kinh nghiệm từ các nước như Hàn Quốc, Malaysia và

xuất phát từ tình hình thực tế trong nước. Vai trò của nguồn vốn ODA được thể hiện

trên các mặt sau.

Thứ nhất, ODA là một trong những nguồn bên ngoài bổ sung vốn quan trọng

cho đầu tư và phát triển. Nguồn vốn ODA không những được dùng trong việc phát

triển cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thơng mà còn được sử dụng để đầu tư cho

việc phát triển các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế và hỗ trợ phát triển các ngành

nơng nghiệp.

Thứ hai, các nước tiếp nhận nguồn vốn có cơ hội tiếp cận với những thành tựu

khoa học, công nghệ tiên tiến và phát triển hoàn thiện đội ngũ nhân sự. Nhờ các dự

án ODA, Việt Nam được cung cấp nguồn tài liệu kỹ thuật đa dạng và phong phú, tổ

chức các buổi hội thảo với sự tham gia của những chuyên gia nước ngoài nhằm trao

đổi kinh nghiệm, cán bộ được tham gia các lớp tập huấn trong và ngồi nước …Từ

đó sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ khoa học, cơng nghệ kĩ thuật

và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam. Và đây là một trong những lợi ích căn

bản, lâu dài đối với Viêt Nam

Thứ ba, ODA có vai trò quan trọng trong việc giúp điều chỉnh cơ cấu kinh tế.

Một trong các lĩnh vực ưu tiên của dự án ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt

Nam là phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực qua đó

tạo điều kiện thuận lợi giúp cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng

khác nhau trong cả nước. Ngoài ra một số dự án giúp nâng cao hiệu quả hoạt động

quản lý nhà nước, do đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Việt Nam.



13



Thứ tư, một trong những lợi ích khác của nguồn vốn ODA là góp phần tăng khả

năng thu hút vốn đầu tư FDI. Bởi vì các dự án ODA chủ yếu tập trung vào đầu tư

xây dựng cơ bản, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, nâng cao đội ngũ nhân lực. Đây

là một trong những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn và thuận lợi đối với các nhà tài trợ

nước ngoài.

2.2.2. Tổng quan về quản lý tài chính đối với dự án ODA

Quản lý tài chính dự án có vai trò hết sức quan trọng và là một phần công việc

trong quản lý dự án. Trong khi quản lý dự án là cơng việc xun suốt trong vòng

đời của dự án được xác định từ khi bắt đầu cho tới khi kế thúc thì quản lý tài chính

của dự án chủ yếu thuộc giai đoạn thực hiện dự án.

Dưới các góc độ khác nhau, khái niệm quản lý tài chính có thể được hiểu theo

nhiều cách phụ thuộc vào người ra quyết đinh là cơ quan chủ quản hay nhà tài trợ.

Hệ thống quản lý tài chính trong các dự án ODA, thông thường được vận hành bởi

BQLDA và phải đáp ứng những yêu cầu khác nhau của các bên liên quan chủ yếu là

chính phủ Việt Nam và Nhà tài trợ. Do mục tiêu của các bên là khác nhau nên quản

lý tài chính áp dụng cho dự án ODA cần phải có sự kết hợp hài hòa u cầu đến từ

hai phía, bên tiếp nhận viện trợ cũng như bên tài trợ.

Quản lý tài chính dự án là quá trình kết hợp tất cả những hoạt động bao gồm:

hoạt động lập kế hoạch tài chính và dự tốn cho dự án; hoạt động của hệ thống kế

toán và hoạt động quyết tốn và kiểm sốt nơị bộ (Kiểm sốt chi tiêu, mua sắm tài

sản ..) với mục đích quản lý các nguồn lực một cách có hiệu quả nhất nhằm thực

hiện các mục tiêu của dự án. Đối với các dự án nói chung và dự án sử dụng vốn

ODA nói riêng quản lý tài chính đóng một vai trò vơ cùng quan trọng trong sự thành

cơng của dự án. Các thơng tin tài chính của dự án được cung cấp một cách đầy đủ

kịp thời chính xác sẽ là cơ sở cho các quyết định một cách đúng đắn nhằm đảm bảo

tiến độ thực hiện của dự án, đảm bảo nguồn vốn và giảm thiểu những rủi ro cản trở

sự vận hành của dự án.

Đối với việc hướng dẫn quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức

ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ nước ngồi, chính phụ Việt Nam đã ban

hành nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16 tháng 03 năm 2016 thay thế nghị định



14



số 38/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2013 của chính phủ về việc quản lý và sử

dụng nguồn vốn ODA. Nghị định số 16/2016/NĐ-CP được ban hành đã khắc phục

những tồn tại đồng thời kế thừa và phát huy những điểm tích cực trong việc quản lý

và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi và các quy định tại Nghị định số

38/2013/NĐ-CP.

a. Lập kế hoạch tài chính và dự tốn cho dự án

Các cơ quan chủ quản và cơ quản quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch đầu tư phối

hợp với Bộ Tài chính) có trách nhiệm trong việc lập kế hoạch vốn đầu tư và dự tốn

ngân sách cho các chương trình dự án.

Hàng năm, căm cứ vào tiến độ thực hiện dự án BQLDA tiến hành lập kế hoạch

vốn (dự án đầu tư xây dựng cơ bản) và dự toán ngân sách (dự án hành chính sự

nghiệp) gửi lên cơ quan chủ quản để tổng hợp và kế hoạch ngân sách chung để

Chính phủ và Quốc hội phê duyệt. Việc lập kế hoạch tài chính cho dự án phải đảm

bảo tuân thủ các quy định hiện hành đồng thời theo cam kết đối với nhà tài trợ đã ký

trong Hiệp định. Kế hoạch tài chính của dự án ODA bao gồm cả kế hoạch vốn ODA

(chi tiết theo từng nguồn vốn vay, vốn viện trợ khơng hồn lại được phân tách theo

từng nước hoặc từng tổ chức tài trợ) và nguồn vốn đối ứng trong nước được chi tiết

theo từng hạng mục cơng việc.

Bộ Tài Chính là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý tài chính

nguồn vốn ODA thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Chịu trách nhiệm chủ trì trong việc hướng dẫn quản lý tài chính các cơ quan

liên quan

- Xác định cơ chế tài chính trong nước áp dụng áp dụng đối với chương trình

dự án theo quy định của pháp luật

- Quy đinh cụ thể trong các thủ tục rút vốn và quản lý nguồn vốn

- Hướng dẫn thực hiện các chính sách thuế, phí đối với chương trình dự án.

- Bố trí nguồn vốn ngân sách và vốn khác để thanh toán các khoản nợ khi đến

hạn

- Xác định danh sách các ngân hàng tiêu chuẩn thực hiện giao dịch thanh toán

đối với vốn vay ODA.



15



BQLDA có trách nhiệm sử dụng nguồn vốn vay và nguồn vốn đối ứng một cách

hiệu quả. Nguồn vốn đưa vào kế hoạch cần được phân bổ theo nội dung và phù hợp

khả năng thực hiện dự án. Cơ quan chủ quản có vai trò trong việc ưu tiên nguồn vốn

đối ứng phân bổ cho dự án theo đúng cam kết với nhà tài trợ.

Việt Nam cũng như các nước tiếp nhận viện trợ đều cần có kế hoạch ngân sách

năm được phê duyệt của chính phủ. Đây là một trong những giai đoạn đặc biệt quan

trọng trong quản lý tài chính dự án. Bởi vì nếu kế hoạch lập khơng theo sát với tình

hình thực tế thì khả năng bố trí thừa thiếu vốn có thể xảy ra với dự án.

b. Hoạt động kế toán dự án

Với chức năng ghi chép, thu thập và xử lý thông tin hệ thống kế tốn dự án

ODA cung cấp thơng tin cho người sử dụng. Do đó hệ thống kế toán dự án ODA

cần được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các bên liên quan

như BQLDA, cơ quan chủ quản, phía nhà tài trợ và các cơ quan liên quan đồng thời

tuân thủ theo pháp luật hiện hành.

Đối với BQLDA, kế toán dự án giúp theo dõi nắm được tình hình hoạt động của

dự án, quản lý được quá trình tiếp nhận và sử dụng vốn ODA. Đối với cơ quản chủ

quản, các cơ quan liên quan và từ nhà tài trợ tổ chức kế tốn trong dự án ODA cung

cấp thơng tin một cách tin cậy, kịp thời đáp ứng yêu cầu của quản lý. Do đó u cầu

đặt ra với cơng tác tổ chức kế toán là đồng thời tuân thủ các quy định về chế độ kế

toán của Việt Nam cũng như phù hợp với chuẩn mực kế toán được chấp nhận chung

trên thế giới.

Các yếu tố cấu thành của một hệ thống kế toán dự án ODA

Nội dung của kế toán dự án ODA tập trung vào hai lĩnh vực chủ yếu nhằm phản

ánh đặc thù trong hoạt động thực hiện dự án: Tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn

ODA. Từ đó nội dung của kế tốn dự án được chia ra làm hai nội dung cơ bản sau:

Kế toán nguồn vốn dự án

Kế toán nguồn vốn dự án ODA nhằm theo dõi và phản ánh quá trình tiếp nhận

và tình hình biến động của các nguồn vốn sử dụng cho dự án. Các yêu cầu cụ thể

cho hoạt động kế tốn nguồn vốn dự án có thể khác nhau, tùy theo từng dự án (tính

chất dự án, yêu cầu của nhà tài trợ ...). Tuy nhiên hoạt động kế toán nguồn vốn cho



16



các dự án ODA cần phải đảm bảo phản ánh sát thực tình hình tiếp nhận và biến

động của nguồn vốn chi tiết theo những tiêu thức sau: Nhà tài trợ; hình thức vốn

(ODA, vay viện trợ, đối ứng, khác); mục đích sự dụng của nguồn vốn (phân theo

tính chất sử dụng và theo các hạng mục, hoạt động chủ yếu của dự án); thời gian

phát sinh. Tổ chức kế toán việc tiếp nhận nguồn vốn dự án một cách hợp lý, rõ ràng

sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho q trình quản lý dự án ODA giúp cho cơ quan

quản lý đảm bảo tiến độ thực hiện dự án thông qua việc so sánh, cân đối giữa khối

lượng công việc đã thực hiện và khối lượng công việc phải thực hiện với nguồn vốn

đã sử dụng và khả năng về nguồn vốn còn lại của dự án. Đồng thời đây là cơ sở để

quản lý dự án có kế hoạch giải ngân phù hợp.

Kế tốn sử dụng nguồn vốn dự án ODA (kế toán chi tiêu dự án ODA)

Do đặc thù của các dự án là hoạt động chi tiêu chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối

trong hoạt động thực hiện dự án. Chính vì vậy, đây là hoạt động phức tạp nhất của

hoạt động kế toán dự án ODA, thể hiện ở những điểm sau: các khoản mục chi tiêu

nhiều, đa dạng; phải đảm bảo đúng mục đích của nguồn vốn dự án; yêu cầu đối với

hoạt động ghi chép, theo dõi, tuân thủ các quy định của các bên tham gia thường rất

khác nhau (Cơ quan chủ quản phía Việt Nam, nhà tài trợ, ngân hàng…)

Nội dung của hoạt động giải ngân, thanh tốn nguồn vốn dự án ODA

Một cơng việc quan trọng của kế toán dự án ODA là tham gia thực hiện hoạt

động giải ngân (rút vốn) và thanh toán nguồn vốn ODA.

Hoạt động giải ngân, thanh toán của dự án ODA bao gồm những nội dung:

Rút vốn: là việc chuyển vốn từ nhà tài trợ về cho cơ quan thực hiện dự án sử

dụng hoặc thanh toán cho người cung cấp. Rút vốn phải trên cơ sở bằng chứng chi

tiêu hợp lệ, đúng mục đích hoặc trên cơ sở kế hoạch tài chính đã được phê duyệt.

Thơng thường, các nhà tài trợ có những yêu cầu khác nhau về thủ tục áp dụng cho

hoạt động giải ngân, thanh toán đối với nguồn vốn của mình, ngồi ra các hình thức

dự án cũng có quy trình giải ngân khác nhau chẳng hạn ODA vốn vay hay ODA

viện trợ khơng hồn lại …



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÁC DỰ ÁN ODA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x