Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 NHỮNG GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TRUYỆN CỔ ANDERSEN

CHƯƠNG 2 NHỮNG GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TRUYỆN CỔ ANDERSEN

Tải bản đầy đủ - 0trang

màu sắc rực rỡ. Giữa cảnh cô đơn, em mơ được gặp bà em bé nhìn thấy rõ

ràng bà em đang mỉm cười với em, được bà đưa đến nơi chẳng còn đói rét,

đau buồn nào đe dọa nữa. Em liên tục quẹt diêm để được sống trong những

mộng tưởng, em quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao, em muốn níu

bà lại. Bà cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, họ đã về chầu

Thượng đế. Sáng hôm sau tuyết phủ trắng mặt đất, mặt trời đã lên. Vào buổi

sáng lạnh lẽo, ở một xó tường người ta thấy một em gái có đôi má hồng, đôi

môi đang mỉm cười em đã chết vì rét trong đêm giao thừa. Anderxen đã để cơ

bé bán diêm chết trong một đêm đông như thế, mà đó khơng phải là một đêm

đơng bình thường. Đó còn là phút giao thừa thiêng liêng và vào đêm đó, cô bé

bán diêm khốn khổ đã chết. Em đã ra đi cùng với những giấc mơ giản dị mà

đối với em là những giấc mơ bất tận không thể thành sự thật. Đó là giấc mơ

được no đủ, đó là giấc mơ được có quần áo ấm để mặc và giấc mơ được gặp

người bà mà em hằng kính yêu. Cuộc đời này có lẽ sẽ chẳng bao giờ những số

phận nghèo khổ như em có thể biến những giấc mơ của mình trở thành hiện

thực được. Bởi vậy Anderxen đã đưa họ đến thế giới khác. Nơi đó có thể che

chở đùm bọc và bảo vệ những linh hồn khốn khổ. Cái chết của em bé tuy

thương tâm nhưng lại như thiên sứ về trời. Chính bởi tình thương yêu sâu sắc

đối với em bé bất hạnh đã khiến nhà văn miêu tả cái chết của em như khơng

có gì là bi thảm, dường như em đã mãn nguyện lắm lúc từ giã cõi đời này.

Cuộc sống thiếu thốn các em khơng có vẻ hồn nhiên, vui tươi được đến

trường như các bạn cùng trang lứa mà phải sớm tự lập, vất vả kiếm sống. Bên

cạnh đó các em còn thiếu vắng tình thương của gia đình và mọi người xung

quanh. Dù cuộc sống có nhiều khó khăn, vất vả nhưng các em vẫn có những

ước mơ, khát vọng rất đáng trân trọng. Thông qua việc miêu tả một số thân

phận bất hạnh của những em bé mồ côi chịu nhiều thiệt thòi và những mơ ước

của các em. Thấy được lòng cảm thơng, u thương, sẻ chia của tác giả với

những mảnh đời nhỏ bé, bất hạnh đó.



9



Trong truyện của mình nhà văn Anderxen xây dựng nhiều nhân vật có

số phận bi kịch, bất hạnh trong tình u cũng như trong cuộc sống đời

thường. Họ phải đứng giữa nhiều sự lựa chọn, trải qua nhiều khó khăn thử

thách nhưng cuối cùng vẫn rơi vào bi kịch. Nhà văn không né tránh những

điều đáng tiếc đau đớn mà từ đó thể hiện sự cảm thơng sâu sắc của mình về

những thân phận bất hạnh đó để rồi những kết quả họ đi tới là sự bình yên,

nơi mà một cuộc sống êm đềm hạnh phúc đúng với mong đợi của họ để bản

thân mỗi con người có kiếp sống khổ cực đau đớn này thoát khỏi hiện thực

đầy khắc nghiệt để chạm tới những ước mơ bình yên đến giản dị. Có thể nói,

những mong ước trong truyện cổ Anderxen đều thiết tha và hệ trọng. Nhưng

các nhân vật khi đạt được lại hiếm khi trọn vẹn niềm vui. Truyện của ơng

thường khơng kết thúc trong khúc khải hồn hoặc sự viên mãn, rằng từ đó trở

đi những nhân vật ấy sẽ được hạnh phúc mãi mãi. Anderxen đã làm ngược lại,

cái đạt được không phải là phần thưởng tuyệt đối cho đức hạnh hoặc tài năng,

hoặc sự khốn khó. Cái đạt được vẫn nằm trong chiếc bóng khổng lồ của định

mệnh. Và nỗi buồn vẫn tràn ngập, cho dù mơ ước đã thành. Là bi kịch, bởi vì

nhân vật của Anderxen đã phải chọn lựa quá nhiều trước khát vọng hoàn thiện

và sự bất lực tất yếu. Là hồn nhiên, bởi vì mỗi mẩu chuyện của Anderxen đều

kể về một thế giới quá xa chúng ta, thế giới cổ tích mà những được mất đều

chỉ là hồi quang của một cuộc chơi nào đó. Là bi kịch, bởi vì khơng có nhân

vật nào của Anderxen mà khơng có một nỗi mất mát riêng bị giấu đi trong

quên lãng. Là hồn nhiên, bởi vì, nước mắt và nụ cười trong truyện cổ

Anderxen ln đồng hành, ln soi bóng trong những câu chuyện dù kết cục

chọn lựa là sống hay chết, tốt hay xấu.Trong thế giới tưởng tượng ngộ nghĩnh

và trắc ẩn ấy, có bao mảnh đời trơi nổi giữa rủi may, bao nhân cách bị biến

dạng, bao tình yêu bị tan nát, bao cái chết oan uổng. Thế giới nhân sinh thật

sự ln có mặt trong mỗi trò chơi nho nhỏ của Anderxen, trò chơi mà ơng đã

phải cặm cụi suốt đời, một cách chậm chạp và khó nhọc để sáng tạo ra nó. Và



10



mỗi mẩu chuyện cổ tích trong sáng của Anderxen vẫn ánh lên sâu kín bi kịch

hồn nhiên của mọi kiếp người.

2.2. Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp, khả năng đấu tranh kiên trì của

con người

Một trong những điểm đặc sắc đáng quan tâm trong truyện của

Anderxen là trí tưởng tượng, tình u cuộc sống và niềm tim mãnh liệt vào

cuộc sống của ông được truyền qua nhân vật - những đứa con tinh thần của

mình. Ngay từ thuở nhỏ chú bé Anderxen đã sớm được nghe những câu

chuyện cổ tích nên ơng đã có một trí tưởng tượng rất phong phú và đặc biệt.

Truyện Nữ Chúa Tuyết chỉ từ hình ảnh chiếc gương thần của quỷ độc

ác bị vỡ mà ông sáng tạo được biết bao tình tiết thú vị đặc sắc cuốn hút khơng

khơng biết bao độc giả nhỏ tuổi dõi theo hành trình của cơ béGiecda dũng

cảm đi tìm bạn là cậu bé Kay, do bị mảnh gương vỡ của quỷ rơi vào mắt và

tim đã thay đổi tính tình đi theo bà Chúa Tuyết. Giecda đến mọi nơi, ở đâu có

thơng tin về Kay em đều tìm đến. Em đến hỏi dòng sơng, đóa hoa trên đường,

tìm đến gặp hồng tử, cơng chúa, đàn bồ câu. Trên đường đi em đã gặp muôn

vàn thử thách. Em từng bị một bọn cướp bắt đưa đến nơi có quạ khoang và

quạ đen từ các lỗ bay ra tứ tung, lũ chó ngao to tướng nhảy cẫng lên. Mỗi con

đủ sức nuốt chửng một người, nhờ sự quyết tâm của em mà con gái quân

cướp đường đã giúp đỡ cho nai đưa em đến vùng Bắc cực Laponi. Đây mới

chỉ là khó khăn đầu tiên mà em phải qua bởi em còn phải đi một trăm dặm

nữa mới đến đất Phần Lan nơi bà Chúa Tuyết ở. Giữa đất Phần Lan phủ đầy

băng tuyết, Giecda tiếp tục đi một mình, chân khơng giày, tay khơng găng. Cơ

bé vượt qua được khó khăn bởi vì cái sức mạnh mà cơ ta đã có sẵn trong trái

tim, trong tấm lòng trung hậu và trong sáng của cơ. Em ra sức chạy, gặp một

đám bông tuyết lớn, tuyết không rơi từ trên trời xuống mà bay là là mặt đất,

càng tới gần lại càng lớn dần nom to lớn và đáng sợ như động vật chúng có

những hình thù rất kỳ quặc… trơng giống lợn lòi hoặc như những con nhím…

trơng giống như rắn rết đang ngỏng đầu lên… hay như một bầy gấu lớn, gấu

11



con lông dựng ngược tất cả đều trắng toát, đều như là những bông tuyết sống.

Rét đến nỗi em trông thấy cả hơi thở ra rồi bốc lên như đám khói. Giecda vừa

đi vừa đọc bài kinh cầu nguyện, nhờ thế mà Giecđa có thể ung dung tiến về

phía trước và cuối cùng sự cố gắng, lòng dũng cảm, cùng tình bạn chân thành

của em đã được đền đáp một cách xứng đáng. Kay đã nhớ ra và trở về cùng

Giecda. Không chỉ thấy được trí tưởng tượng phong phú của Andersen, qua

câu chuyện còn đưa đến cho độc giả những bài học vơ cùng ý nghĩa về tình

bạn, tình người qua những hành động cử chỉ và thái độ của cô bé Giecda.

Hình ảnh về những mảnh vỡ chiếc gương của bọn quỷ chính là lời cảnh tỉnh

của nhà văn về những điều xấu xa còn tồn tại trong xã hội này của chúng ta và

nếu như chúng ta không cẩn thận thì những điều xấu xa đó có thể nhiễm vào

người chúng ta lúc nào mà chúng ta không thể ngờ được. Giống như những

mảnh gương chẳng may vào mắt của Kay và biến em từ một người tốt thành

kẻ lạnh lùng.

Trong truyện của mình nhà văn Đan Mạch ca ngợi những con người

nhỏ bé, tuy khơng có sức mạnh về thể chất nhưng có lòng dũng cảm, kiên trì

giúp họ vượt qua bao khó khăn thử thách, cái ác cái xấu trong cuộc sống. Bên

cạnh cô bé Giecda nhỏ bé còn có chú lính chì một chân trong truyện Chú lính

chì dũng cảm. Truyện kể về chú lính vì thiếu chì chú chỉ có một chân, nhưng

chú đứng oai vệ chẳng kém gì chú lính chì khác có đủ cả hai chân. Khó khăn

đầu tiên chú gặp phải là bị con quỷ lùn to tướng hất xuống đất, nhưng chú lại

rơi chân xuống trước nên lại đứng vững. Sáng hôm sau chị giúp việc đặt chú

lính chì lên bậc cửa sổ, lúc ấy có một luồng gió mạnh hất chú từ trên gác ba.

Cậu bé và chị giúp việc xuống tìm nhưng khơng thấy. Chú bị hai đứa trẻ đưa

lên thuyền làm bằng báo cũ, rồi thả thuyền xuống rãnh nước. Rãnh mỗi lúc

càng rộng ra, nước chảy xiết. Chiếc thuyền giấy chòng chành dữ dội, thỉnh

thoảng lại chao đi, trơng thuyền có thể bị lật úp đến nơi. Làm chú lính chì lo

lắng nhưng chú vẫn điềm nhiên vốn dũng cảm, chú vẫn bồng súng với một vẻ

kiên cường. Vừa chui qua một đoạn ống ngầm, nước rãnh đổ ngay vào một

12



con sông, tạo thành một cái thác, thế là thuyền lao xuống nhưng trong giây

phút khủng khiếp ấy chú lính chì vẫn bình tĩnh. Lao xuống thác chiếc thuyền

chòng chành, giấy bục ra, cả thuyền và chú lính chì đều chìm xuống đáy sơng

đào. Cuối cùng chú được trở về căn phòng nơi có các anh em chú, nàng vũ nữ

xinh đẹp sau khó khăn thử thách mà quỷ lùn phù phép chú đều bình tĩnh,

dũng cảm vượt qua. Trong cuộc sống có bao điều khó khăn, cái ác, cái xấu

như những khó khăn mà cơ bé Giecda phải trải qua trên đường tìm bạn,

những cuộc phiêu lưu kì thú của chú lính chì một chân dũng cảm. Những khó

khăn trong cuộc sống khơng ai biết trước được để vượt qua con người cần có

lòng dũng cảm, kiên trì đấu tranh đẩy lùi cái xấu, cái ác. Qua đây, thấy rằng

tác giả ca ngợi những con người nhỏ bé nhưng vơ cùng dũng cảm, kiên trì

chống lại cái xấu, cái ác trong cuộc sống.

Anderxen viết cho mọi lứa tuổi, dù là trẻ em, người lớn đọc vẫn thích

thú. Bởi tầng ý nghĩa, thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm của

mình. Trong các truyện cổ của nhà văn bạn đọc đặc biệt chú ý đến nhân vật là

những con người nhỏ bé, lao động bình thường, tuy nghèo khổ. Nhưng lại

giàu lòng yêu thương và sẵn sàng hi sinh vì tình u cao cả đó là những phẩm

chất tốt đẹp, khả năng tuyệt vời của người lao động.Trước tiên, phải kể đến sự

hi sinh thầm lặng của người mẹ nghèo trong sáng tác của Anderxen.Tình yêu

thương, sự hi sinh bản thân vì con của người mẹ còn thấy rõ ở câu truyện

“Một bà mẹ”. Đứa con bé bỏng của người mẹ khổ khổ này bị thần Chết bắt đi.

Bà đã tìm mọi cách, trải qua khó khăn thử thách để cứu con. Tình mẫu tử vô

cùng thiêng liêng, đáng quý của người mẹ dành cho con, mẹ sẵn sàng hi sinh

tất cả vì con. Dù cho người mẹ có chịu đói rét, khổ sở, khơng tiếc thân mình

thì tất cả là vì con. Điều này được nhà văn Anderxen trân trọng thể hiện qua

các tác phẩm của mình một cách chân thực nhất. Hi sinh vì tình u cao cả

cũng được nói đến trong truyện của Anderxen qua “Nàng tiên cá”. Nàng tiên

cá với sự hi sinh cao cả của nàng dành cho người mình yêu. Khác với nàng

tiên cá hi sinh vì tình yêu nàng Lido trong “Bầy thiên nga” lại hi sinh tất cả vì

13



những người anh yêu quý của nàng... Người lao động trong truyện của

Anderxen khơng chỉ có nghị lực, đức hi sinh mà còn là những người lao động

cần cù, chịu thương chịu khó, tài hoa trong lao động. Như truyện “Bác làm

vườnvà chủ nhà” thì chúng ta sẽ thấy rằng người lao động là những người bé

nhỏ, yếu đuối hiền lành nhưng trong những hồn cảnh khó khăn thì họ lại bộc

lộ những phẩm chất vô cùng đáng quý, khả năng tuyệt vời mà nhà văn

Anderxen đã phát hiện ra trong sáng tác của mình.

Với cách nhìn nhân đạo của Anderxen, người lao động không chỉ là

những người khổ đau, không phải là những số phận dành sẵn cho sự khinh

miệt mà trái lại người lao động nói riêng hay tất cả các nhân vật trong truyện

của ơng có phẩm chất tốt đẹp và tài năng tuyệt vời. Họ là những người yêu

đời và yêu đến mức sẵn sàng hi sinh vì tình yêu thương cao cả.

2.3. Đề cao đạo đức của con người,phê phán sự bất công trong xã

hội

Trong truyện cổ của mình nhà văn Anderxen đã phát hiện ca ngợi

những phẩm chất tuyệt vời của con người. Nhưng bên cạnh đó ơng cũng

thẳng thắn chỉ ra những điểm yếu kém, thói hư tật xấu của con người. Ngòi

bút của Anderxen khơng ngại phê phán tầng lớp được cho là cao quý nhất

trong xã hội đó là vua chúa, vương công quý tộc. Đặc biệt là bọn vua quan bất

tài, ngu dốt và bọn hợm hĩnh. Chim họa mi với giọng hót êm đềm, thấm thía

kỳ diệu nhất trên đời “họa mi cất tiếng hót hay đến nỗi vị Hồng đế vơ cùng

cảm động, nước mắt trào ra” họa mi hót làm người nghe xúc động đến tâm

can, hồng đế rất đẹp lòng truyền cho đeo chiếc ngự bài bằng vàng vào cổ

chim nhưng họa mi khước từ cho rằng mình vinh dự lắm rồi. Tiếng hót chim

họa mi thổi vào tâm hồn vua một sức sống bền vững. Nhưng bọn nịnh thần

đem thay vào đó một con chim họa mi giả được mang từ Nhật Bản tới. Chim

họa mi thật bị đuổi khỏi cung điện, bọn nịnh thần cất lời sàm tấu quần thần

tức giận xúm xít nhau vào kết tội chim vong ân bội nghĩa. Thời gian trơi đi

khi hồng đế bị bệnh tái ngắt, giá lạnh nằm trong long sàng văn võ bá quan

14



không chăm sóc mà rối rít xun xoa vị tân thiên tử. Trong khi đó họa mi bé nhỏ

biết tin nhà vua ốm nặng trở về và mang cho nhà vua một tia hi vọng, tiếng

hót vang lên bóng ma tan dần, máu lại chảy đều trong mạch ốm yếu của nhà

vua. Trong câu chuyện này thấy được sự đối nghịch giữa họa mi nhỏ bé với

bọn nịnh thần chúng không chỉ nịnh hót, chun nói lời sàm tấu mà còn tham

lam, vong ân bội nghĩa. Rõ ràng là khơng còn dừng lại cho trẻ em nữa, mà

câu chuyện đậm đà hơn, chủ yếu dành cho các vua quan chốn cung đình từ

Đông sang Tây vốn thường hay xảy ra các vụ tranh giành chức quyền, nhằm

bóc trần cái thật cái giả, cái thiện cái ác luôn diễn ra quyết liệt giữa các triều

đại vua chúa.

Đọc Truyện cổ Anderxen, bất ai cũng khơng thể qn được truyện Bộ

quần áo mới của hồng đế. Mới nghe qua cứ ngỡ là chuyện tiếu lâm, không

phải chuyện chốn vua chúa quyền chức trọng. Truyện kể về một ơng vua chỉ

thích quần áo mới đến nỗi có bao nhiêu tiền của đều tiêu pha vào việc may

mặc hết ngài khơng thiết gì đến binh sĩ, xem hát, vào rừng mà chỉ thích khoe

quần áo mới thơi. Một hơm, có hai tên vơ lại đến hồng cung tự xưng là thợ

dệt và khoe rằng có thể dệt những thứ vải đẹp không thể tưởng tượng được

vua ban cho chúng một món tiền lớn để chúng bắt tay ngay vào việc. Vua rất

muốn biết chúng dệt được bao nhiêu vải rồi nhưng nghĩ đến lời chúng tâu là

những kẻ ngu độn và những người khơng làm tròn phận sự chẳng thể nhìn

thấy gì thì ngài lại ngần ngại cử quan lão thừa tướng đến. Lão thừa tướng đến

cố giương đơi mắt to mà khơng thấy gì nhưng vẫn phán rằng “thật phi thường,

tuyệt, tuyệt đẹp” và ngài còn vểnh tai chăm chú nghe cho thuộc để khi tâu với

hồng đế có thể lặp lại. Khơng bao lâu hồng đế lại cử một viên quan tài giỏi

khác đến xem nhìn mãi cũng chỉ thấy hai chiếc khung cửi rỗng tuếch ngài vẫn

ngắm nghía và quả quyết màu sắc những vân hoa tuyệt mỹ trên tấm vải. Mọi

người trong kinh thành đều bàn tán về thứ vải kì lạ ấy, thế là ngài cũng muốn

đến xem. Ngài thấy hai tên thợ dệt khơng có một mẩu sợi nhỏ trong tay ngài

cũng đành trả lời đẹp, đẹp lắm. Ngài làm ra vẻ hài lòng ngắm nghía hai chiếc

15



khung cửi, khơng dám thú nhận là chẳng nhìn thấy gì, cả bè lũ theo hầu cũng

nhìn và chẳng thấy gì hơn. Bọn nịnh thần còn khun hồng đế nên mặc thứ

vải vơ song trong lễ rước thần. Chẳng ai dám thú nhận mình khơng trơng thấy

gì vì chẳng ai muốn mang tiếng bất tài, ngu độn. Và duy nhất chỉ có một đứa

bé vơ tư, thật thà dám nói thật, nói thẳng qua cái nhìn của chính mình: Kìa,

Hồng đế cởi truồng kìa! Nhà vua vẫn đường hoàng theo đám rước cho đến

tan cuộc các quan thị vệ vẫn đi đằng sau đỡ cái đuôi áo tưởng tượng. Ý nghĩa

sâu xa là ở chỗ nhà văn muốn phơi bày một sự thật rằng, chốn thâm cung

cũng khơng ít kẻ lòng tham vơ đáy, khoe quyền, khoe tài, khoe sắc và dùng

mọi thủ đoạn nịnh hót, tìm đủ mọi mánh lới để kiếm chức quyền và tiền bạc

dù phải cúi đầu quay lưng trước sự thật. Từ đấy họ bất chấp mọi lẽ phải trái

trên đời, thậm chí cả những điều điên rồ phi lí nhất. Nhà văn khơng chỉ phê

phán tầng lớp quan lại mà bản chất thối nát của vua cũng bị nhà văn phơi bày

trên trang sách của mình. Với cốt truyện có vẻ đơn giản, nhưng thực chất lại

mang sức nặng xã hội rất lớn. Phía sau lời kể là tiếng cười phê phán mãnh liệt

đối với chế độ phong kiến vua quan đang ngự trị khắp châu Âu thời bấy giờ.

Và cho đến tận ngày nay, câu chuyện nhà vua mặc quần áo mới vẫn vang lên

tiếng cười châm biếm sâu cay mỗi lần có ai đó nhắc lại.

Hay thói kiêu căng ngạo mạn, tự phụ là một tính xấu được nhà văn nói

trong tác phẩm của mình từ các nàng công chúa xinh đẹp, đến cô bé cậu bé

con vương công. Truyện Anh chàng chăn lợn kể về nàng cơng chúa từ chối

hồng tử nghèo khi đem đến lễ vật là một đóa hồng thơm, một con chim họa

mi hót hay tuyệt vời nàng kiên quyết khơng cho hoàng tử vào cung. Người

chăn lợn làm ra một cái nồi xinh xắn, phát ra nhạc. Nàng nghĩ cái nồi ấy khác

xa một bơng hồng vì vậy đã hơn người chăn lợn mười cái để đổi lấy cái nồi.

Các cung nữ quây tròn lại và căng váy ra chàng chăn lợn được mười cái hơn,

còn cơng chúa được cái nồi. Anh chàng chăn lợn tức là hồng tử còn chế tạo

ra một cái Corexen phát ra điệu vanxo lần này anh đòi một trăm cái hơn của

cơng chúa chàng chăn lợn đang hơn đến cái thứ tám mươi sáu thì hoàng đế

16



phát hiện ra và đuổi nàng ra khỏi cung. Lúc này anh chàng chăn lợn trở về

đúng thân phận thật của mình là hồng tử chàng quay lại nói với nàng ta rất

khinh cơng chúa vì nàng khơng muốn u một hồng tử thật thà phúc hậu,

khơng hiểu giá trị của hoa hồng chim họa mi, nhưng vì vật nhỏ mọn mà công

chúa hôn một tên chăn lợn. Công chúa khơng chỉ kiêu căng mà còn ngu dối

khơng hiểu giá trị, tấm lòng của hồng tử thật thà, tài năng. Thói kiêu ngạo

này còn có ở cơ bé, cậu bé con nhà nội thần Chuyện con nít. Cơ bé ln tự

hào mình là con cận thần, ln nhắc cho các bạn biết mình là con ơng cháu

cha nếu sinh ra khơng phải con ơng cháu cha thì thật là vận rủi không thay đổi

được. Con gái ông lái buôn đứng đó cũng cố hết sức lấy giọng kiêu kì và bảo

rằng “bố tao giàu có đủ một trăm đồng tiền vàng mua kẹo tung cho trẻ con

ngoài phố”. Em bé con nhà báo nói”tất cả mọi người đều sợ bố tao và tờ báo

của bố tao”. Thế rồi cả đám lau nhau ấy đua nhau ưỡn ngực, lấy điệu bộ hách

dịch, ngắm nghía nhau khinh bỉ và làm dáng điệu như con vua cháu chúa.

Nhà văn phê phán những cơ bé, cậu bé có thói kiêu căng, ngạo mạn và chỉ ra

ngun nhân thói xấu đó là do dòng dõi, tiền của, quyền thế của bố mẹ đã làm

cho chúng trở nên kiêu căng.

Trong ca dao Việt Nam có câu “lá lành đùm lá rách” với ý nghĩa con

người sống phải có tình thương, đùm bọc lẫn nhau, cần phải biết chia sẻ với

những người không gặp may trong cuộc sống. Nhà văn Anderxen trong truyện

Em bé bán diêm đã cho người đọc thấy một sự thật đáng buồn về sự vô cảm,

thờ ơ của mọi người trước số phận bất hạnh của em bé ngay trong đêm giao

thừa. Em đã đến một nơi có nhiều người qua lại, nhưng trời rét quá khách qua

đường đều rảo bước rất nhanh chẳng ai đối hồi đến lời chào hàng của em.

Suốt ngày em chẳng bán được gì và cũng chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh.

Những lần quẹt diêm của em thể hiện ước muốn, khát vọng trong em. Trong

cơn đói em mơ về một bữa ăn ngon lành. Trong giá lạnh em mơ về lò sưởi.

Giữa cảnh cơ đơn, trước sự lãnh đạm của mọi người em mơ được gặp bà, cầu

xin bà cho em đi cùng “cho cháu đi với… xin bà đừng bỏ cháu nơi này…

17



cháu van bà, bà xin với Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà”. Em sống đã

đói khổ, thiếu vắng tình thương, lúc chết cũng thật thảm thương. Thiếu vắng

tình thân của người cha và sự hờ hững, ghẻ lạnh của người qua đường. Sáng

hơm sau khi tuyết phủ kín mặt đất, mọi người vui vẻ ra khỏi nhà. Trong buổi

sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường người ta thấy em bé đã chết vì rét. Cuộc đời

bất hạnh của em bé đối lập với mọi người trong thành phố sống lo đủ, hạnh

phúc. Tác giả phê phán xã hội vơ tình, thiếu vắng tình người. Bấp chấp những

khó khăn, bất hạnh và sự đối xử không công bằng của cuộc đời, Anderxen đã

mang đến thế giới này hàng trăm câu chuyện kể, những câu chuyện được viết

nên từ bộ óc thơng minh, một trái tim nhân hậu và một cái nhìn hồn nhiên

trong trẻo về cuộc sống. Những câu chuyện được viết nên với lòng u

thương và kính trọng trẻ em, những câu chuyện mang niềm tin bất diệt về sức

mạnh của điều thiện và sự chiến thắng của lòng nhân ái… Khơng những vậy

ơng còn có tài khám phá những sự việc bất ngờ của cuộc sống. Ông đã khéo

léo đưa chúng vào trong các câu chuyện của mình khiến cho người đọc thực

sự cảm thấy bất ngờ nhưng cũng khơng kém phần thích thú trước những hình

ảnh, những đồ vật bình thường mà ơng đã tìm ra. Bạn đọc có thể tìm thấy đâu

đó trong các truyện của ơng đâu đó bóng dáng của những đồ dùng quen thuộc

hàng ngày như những chiếc đinh rỉ, hay lá khoai,… Chúng thật sự là những

vật vô cùng giản dị và nếu như chúng ta khơng để ý thì sẽ khơng bao giờ quan

tâm đến sự có mặt của chúng trong cuộc sống. Bằng sự tài hoa và bằng sự

quan sát tài tình của mình, Anderxen đã khéo léo đưa những đồ vật tầm

thường ấy vào thế giới lung linh huyền ảo đầy chất thơ của mình. Điều đó

càng khiến truyện của ơng thêm đậm đà tính nhân loại. Thông qua những câu

chuyện tưởng chừng như giản dị tác giả viết cho trẻ em ẩn đằng sau đó là

những câu chuyện đáng để người lớn suy ngẫm. Những triết lí sâu sắc, giá trị

mà tác phẩm của ơng mang lại đến nay vẫn còn hấp dẫn bạn đọc ở mọi lứa

tuổi, dân tộc. Nhìn chung, truyện của ơng dù là hiện thực hay hư cấu thì cũng

đều bám rễ từ hiện thực cuộc sống. Andersen đã từng nói: “Khơng có truyện

18



kể nào hay hơn được những điều do chính cuộc sống tạo nên”. Các nhân vật

trong tác phẩm của ông, từ thần tiên cho đến con người đều có một cuộc sống

riêng và một tâm hồn phong phú, bộc lộ bản chất tốt đẹp của người lao động.

Truyện cổ Anderxen mang đến một giá trị nhân đạo sâu sắc. Chính vì thế

những tác phẩm này tuy được viết từ thế kỉ XIX, mà đến nay đọc lại, người

đọc vẫn thấy những câu chuyện ấy, những nhân vật ấy sống mãi với tâm trí

mình khơng thể nào qn.

Như vậy, nội dung Truyện cổ Anderxen khá phong phú, sinh động. Nó

thể hiện một cách chân thực về đời sống văn hóa, sinh hoạt của con người. Nó

chứa đựng những bài học về ln lí đạo dức, về bài học tình người, về cách

sống. Nó thể hiện niềm tin bất diệt vào chiến thắng của cái thiện, cái nhân hậu

với cái xấu, cái ác. Đây là cơ sở bồi dưỡng tình yêu thương, lòng nhân đạo.



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 NHỮNG GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TRUYỆN CỔ ANDERSEN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×