Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



1.2.1. Xây dựng các năng lực chuyên biệt bằng cách cụ thể hóa các năng

lực chung [1].

Năng lực chung là các năng lực mà tồn bộ q trình giáo dục ở

trường phổ thơng đều phải hướng tới để hình thành ở HS, từng môn học sẽ

xác định sự thể hiện cụ thể của các năng lực chung ở trong môn học của

mình.

- Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân:

+ Năng lực tự học

+ Năng lực giải quyết vấn đề

+ Năng lực sáng tạo

+ Năng lực tự quản lý

- Nhóm năng lực về quan hệ xã hội:

+ Năng lực giao tiếp

+ Năng lực hợp tác

- Nhóm năng lực cơng cụ (Các năng lực này sẽ được hình thành trong

quá trình hình thành các năng lực ở trên)

+ Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)

+ Năng lực sử dụng ngơn ngữ

+ Năng lực tính toán

1.2.2. Xây dựng các năng lực chuyên biệt dựa trên đặc thù môn học [1].

Với quan điểm này, người ta sẽ dựa trên đặc thù nội dung, phương

pháp nhận thức và vai trò của mơn học đối với thực tiễn để đưa ra hệ thống

năng lực. Có nhiều nước trên thế giới tiếp cận theo cách này. Hệ thống năng

lực chun biệt mơn Vật lí đối với HS [1].

- Năng lực giải quyết vấn đề

- Năng lực hợp tác

- Năng lực thực nghiệm

- Năng lực quan sát

- Năng lực tự học

- Năng lực sáng tạo …



7



Trong đề tài này, tôi muốn hướng đến bồi dưỡng nâng cao NLTN cho

HS. Rèn luyện NLTN cho HS sẽ góp phần quan trọng vào việc rèn luyện

nhiều năng lực cho HS trong dạy học Vật lý.

1.3. Năng lực thực nghiệm

1.3.1. Khái niệm về năng lực thực nghiệm

Năng lực thực nghiệm là năng lực thuộc nhóm năng lực về phương

pháp. Từ khái niệm năng lực và khái niệm thực nghiệm, có thể định nghĩa:

Năng lực thực nghiệm của HS là khả năng vận dụng phương pháp thực

nghiệm trong dạy học vật lý để giải quyết nhiệm vụ học tập một cách có hiệu

quả nhất. NLTN vật lí là một trong những năng lực chuyên biệt của bộ mơn

vật lí. NLTN vật lí có thể hiểu là khả năng vận dụng các kiến thức, thái độ, kỹ

năng thực nghiệm trong lĩnh vực vật lí để giải quyết các vấn đề đặt ra trong

giờ học và trong thực tiễn. Trong dạy học vật lý ở trường phổ thông, bồi

dưỡng NLTN cho HS là việc hết sức cần thiết [1], [21].

1.3.2. Một số biểu hiện của học sinh có NLTN

Việc bồi dưỡng và trang bị cho HS có được NLTN là một trong những

vấn đề trọng tâm và cốt lõi trong q trình giảng dạy Vật lí ở trường phổ

thơng. NLTN của HS có thể nhận thức thơng qua những thành tố làm nền tảng

của năng lực thực nghiệm được trình bày ở Hình 1.1 [1].

Năng lực thực nghiệm

+ Kiến thức vật lí liên quan đến q trình cần khảo

Kĩ năng

sát

+ Thiết kế phương án thí nghiệm

+ Kiến thức về thiết bị, về an toàn

+ Chế tạo dụng cụ

+ Kiến thức về xử lí số liệu, kiến thức về sai số + Lựa chọn dụng cụ

+ Kiến thức về biểu diễn số liệu dưới dạng bảng + Lắp ráp dụng cụ thí nghiệm

biểu, đồ thị

+ Thay đổi các đại lượng

+ Thái độ kiên nhẫn

+ Thái độ trung thực

+ Thái độ tỉ mỉ

+ Thái độ hợp tác

+ Thái độ tích cực



+ Sử dụng dụng cụ đo: hiệu chỉnh

dụng cụ đo, đọc số liệu

+ Sửa chưa các sai hỏng thông

thường

+ Quan sát diễn biến hiện tượng

+ Ghi lại kết quả

+ Biểu diễn kết quả bằng bảng biểu,

đồ thị

+ Tính tốn sai số

+ Biện luận, trình bày kết quả

+ Tự đánh giá cải tiến phép đo



8



Hình 1.1: Các thành tố của năng lực thực nghiệm [1]

1.3.3. Các thành tố của năng lực thực nghiệm [12], [21].

1.3.3.1. Nhận ra vấn đề cần nghiên cứu

Dựa vào kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày (qua quan sát tự

nhiên, qua lao động sản xuất...) hoặc xuất phát từ kiến thức đã học, hoặc dựa

vào TN mở đầu, dưới sự chỉ đạo của GV, HS nêu ra vấn đề cần nghiên cứu.

Cụ thể là:

- Huy động được các kiến thức vật lí liên quan đến vấn đề cần

khảo sát.

- Đặt được những câu hỏi về hiện tượng tự nhiên: Hiện tượng…

diễn ra như thế nào? Điều kiện diễn ra hiện tượng là gì? Các đại lượng trong

hiện tượng tự nhiên có mối quan hệ với nhau như thế nào?

- Diễn đạt được thành lời vấn đề cần nghiên cứu

1.3.3.2. Nêu được giả thuyết cho vấn đề cần nghiên cứu

- Dự đoán được câu trả lời cho các câu hỏi đã đặt ra.

1.3.3.3. Rút ra hệ quả từ giả thuyết cần kiểm tra

- Dự đoán được cần phải kiểm tra cái gì để kiểm chứng câu trả lời.

1.3.3.4. Đề xuất phương án TN để kiểm tra dự đoán và kế hoạch thực hiện TN

- HS biết hiện tượng cần tạo ra

- HS biết các đại lượng cần đo (nếu có)

- HS biết các dụng cụ cần có, biết sửa chữa các sai hỏng, biết chế

tạo các dụng cụ còn thiếu…

- HS vẽ được sơ đồ TN, lắp ráp được các dụng cụ thí nghiệm.

- HS thực hiện đúng các thao tác thí nghiệm.

- HS biết quan sát hiện tượng thí nghiệm, biết lập bảng (nếu cần),

biết đo lường các đại lượng cần đo và điền vào bảng số liệu.

1.3.3.5. Nhận xét và rút ra kết luận

- Tính các giá trị trung bình



9



- Tính tốn, biểu diễn kết quả bằng bảng biểu, đồ thị, lập các mối

quan hệ giữa các đại lượng qua số liệu đo được.

- Tính tốn sai số, tìm ngun nhân và cách khắc phục sai số.

- Biện luận, rút ra kết quả, trình bày kết quả bằng lời.

1.4. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực thực nghiệm cho học

sinh

Để rèn luyện NLTN khi giảng dạy vật lý GV cần từng bước rèn luyện

cho HS thực hiện các bước của phương pháp thực nghiệm trong các bài dạy

có TN.

1.4.1. Làm xuất hiện vấn đề nghiên cứu

Vấn đề xuất hiện khi đã có một số hiểu biết về các sự vật hay hiện

tượng vật lý nhưng chưa đầy đủ. Điều đặc biệt ở đây là nhận ra những lỗ

hổng trong kiến thức hoặc là mâu thuẫn giữa kiến thức và những TN hay

phép đo mới, những câu hỏi mà HS có thể trả lời một cách lơgic nhờ kiến

thức đã có hoặc có thể giải quyết được nhờ các quy tắc đã biết không phải

vấn đề theo nghĩa này [5].

1.4.2. Hướng dẫn học sinh đề xuất phỏng đoán (giả thuyết)

Cần phân biệt giả thuyết với những phỏng đốn vu vơ, khơng có căn cứ

và phân biệt giả thuyết với một kết luận được suy ra một cách lôgic từ một

điều chân thật đã biết [5]. Kết luận này không phải là giả thuyết và trong

trường hợp này cũng khơng còn vấn đề đòi hỏi phải đưa ra giả thuyết nữa.

Dấu hiệu đặc trưng của giả thuyết là: Tính xác thực lúc đầu của nó chưa hồn

tồn sáng tỏ, chỉ là có thể chứ chưa phải là chắc chắn. Giả thuyết đưa ra phải

có khả năng giải thích, dự đốn hiện tượng. Từ điều được coi là giả thuyết,

người ta có thể giải thích hiện tượng đã biết và tiên đốn hiện tượng có thể

xảy ra. Bước đề xuất giả thuyết là một khâu rất quan trọng vì nó đòi hỏi tư

duy trực giác sáng tạo của người nghiên cứu (chính là HS). Vì vậy, GV cần có

sự chỉ đạo cơng phu để hướng dẫn sự chú ý của HS vào vấn đề, linh hoạt gợi



10



mở cho HS. HS có thể hiểu khơng đúng câu hỏi, do xuất hiện những liên

tưởng mà GV khơng tính trước được, do quên hoặc bỏ qua những điều kiện

hạn chế, hoặc do những nguyên nhân khác khiến cho HS khơng trả lời đúng ý

GV muốn, thậm chí đưa ra những câu trả lời thiếu chính xác, sai và đơi khi

hoàn toàn bất ngờ. Cần phải hướng những kiến thức của HS vào việc phát

hiện những liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng. Nhưng không phải lúc

nào GV cũng nắm được một cách chính xác trình độ kiến thức cũng như kinh

nghiệm thực tiễn mà HS đã tích luỹ được. Vì thế, GV phải chuẩn bị hai hay

nhiều phương án đàm thoại với HS tuỳ theo tài liệu và đặc biệt là có sẵn hệ

thống câu hỏi gợi mở dẫn dắt HS định hướng vấn đề, nêu lên hoặc phỏng

đoán hoặc giả thuyết một cách sáng tạo.

1.4.3. Rút ra hệ quả từ giả thuyết cần kiểm tra

Từ giả thuyết GV hướng dẫn HS sử dụng suy luận lơgíc hay suy luận

toán học để rút ra một hệ quả, dự đốn hiện tượng có thể xảy ra trong thực

tiễn, một mối quan hệ giữa các đại lượng vật lý.

1.4.4. Đề xuất phương án thí nghiệm và kế hoạch thực hiện

- Đề xuất phương án TN:

GV tổ chức cho HS để nhận ra:

+ Hiện tượng gì cần tạo ra, cần các dụng cụ gì? Sử dụng dụng cụ đo

nào, hiệu chỉnh dụng cụ đo, đọc số liệu như thế nào? Các dụng cụ TN được

lắp ráp như thế nào? Vẽ sơ đồ TN.

+ Thứ tự thực hiện TN như thế nào, các thao tác và thứ tự các thao tác

thí nghiệm cần thực hiện.

+ Thay đổi các đại lượng như thế nào?

+ Sửa chữa các dụng cụ hỏng, chế tạo dụng cụ cần thiết còn thiếu.

- Tiến hành thí nghiệm:

GV biểu diễn hoặc chia HS thành các nhóm và hướng dẫn HS tiến

hành theo kế hoạch đã dự định hướng dẫn HS:

+ Quan sát các hiện tượng xảy ra, diễn biến hiện tượng,



11



+ Đo các đại lượng, ghi các kết quả vào bảng

+ Ghi nhận kết quả TN: Hiện tượng xảy ra, các đại lượng đo được. Sau

khi HS đã đề xuất được phương án TN và bắt đầu TN, GV cần hướng dẫn HS

kiểm tra các dụng cụ TN để đảm bảo chính xác của các phép đo. Khi HS tiến

hành TN, GV cần uốn nắn cho HS các thao tác, kỹ thuật TN và đây chính là

việc rèn luyện cho HS tác phong làm việc của người nghiên cứu.

1.4.5. Nhận xét và rút ra kết luận

Sau khi có kết quả TN, GV tổ chức cho HS thảo luận, hướng dẫn HS:

+ Nhận xét, phân tích hiện tượng quan sát được và rút ra kết luận tương

ứng với kiến thức cần hình thành.

+ Tính giá trị trung bình, tính sai số.

+ Để xử lý các số liệu thu được thường có 3 cách để nhận ra mối quan

hệ giữa các đại lượng: biểu diễn kết quả bằng bảng; vẽ đồ thị về sự phụ thuộc

của các đại lượng; lập các tỉ số giữa các đại lượng. GV hướng dẫn HS thực

hiện các cách đó để rút ra kết luận về mối quan hệ giữa các đại lượng. Sau đó

GV hướng dẫn HS trình bày kết quả bằng lời về các định luật, định lý, qui tắc.

Khi phân tích và xử lý kết quả TN, GV hướng dẫn HS xác định độ tin

cậy của kết quả. Có trường hợp kết quả TN khơng phù hợp với điều dự đốn

từ giả thuyết thì cần lưu ý; hoặc là giả thuyết bị bác bỏ, hoặc kết quả TN chỉ

ra cho ta thấy phạm vi áp dụng của giả thuyết, hoặc kết quả của nó lại là động

lực của những nghiên cứu tiếp theo.

1.5. Bồi dưỡng năng lực thực nghiệm vật lý cho học sinh để nâng cao hiệu

quả dạy học.

1.5.1. Tầm quan trọng việc bồi dưỡng NLTN cho HS trong dạy học vật lí.

Có thể nói, Vật lí học là cơ sở, là nền tảng của đa số các ngành kỹ thuật

và các quá trình sản xuất. Trong xã hội ngày nay sự bùng nổ của công nghệ

thông tin, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão làm cho sự ra đời của các

thiết bị kỹ thuật phục vụ cho sản xuất ngày càng nhiều. Những thiết bị này



12



góp phần làm tăng năng suất lao động, tiết kiệm sức lao động cho con người

và sự phát triển này càng mạnh mẽ hơn trong tương lai. Sự phát triển đó đòi

hỏi người lao động phải luôn theo kịp với sự phát triển này và làm chủ được

các công nghệ mới. Nghĩa là họ phải hiểu rõ và có khả năng thao tác, vận

hành, sửa chữa được các thiết bị kỹ thuật cả cũ lẫn mới. Với những HS có

NLTN vật lý sẽ ln có tâm thế sẵn sàng, tự tin chủ động trong việc tìm hiểu,

xem xét, sửa chữa các thiết bị, máy móc trong cuộc sống. Đồng thời những

HS này sẽ có khả năng tiếp cận thế giới tự nhiên tốt hơn, biết cách tìm hiểu và

khám phá tự nhiên, có một trực giác nhạy bén đối với các tình huống thực tế.

Đặc biệt, Vật lí học là một khoa học thực nghiệm nên với những HS có niềm

đam mê vật lí thì NLTN càng có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy NLTN là một

trong những năng lực quan trọng mà người lao động cần có.

Việc bồi dưỡng NLTN sẽ giúp HS hình thành thói quen gắn kết các kiến

thức đã học vào thực tế cuộc sống, thấy được mối quan hệ mật thiết giữa lí

thuyết và thực tiễn. Sau khi học xong mỗi phần kiến thức, GV nên yêu cầu,

nhắc nhở HS liên hệ kiến thức lí thuyết vào thực tiễn, biết vận dụng các kiến

thức vào các tình huống thực tế trong đời sống hàng ngày. Điều đó có nghĩa

quan trọng trong việc kích thích hứng thú học tập của HS, đồng thời giúp HS

mở rộng vốn hiểu biết và phát triển toàn diện hơn.

1.5.2. Các biện pháp bồi dưỡng năng lực thực nghiệm cho học sinh

Để hình thành và phát triển được NLTN cho HS cần thực hiện các biện

pháp sau đây:

Tổ chức cho HS hoạt động phỏng theo phương pháp thực nghiệm.

Quá trình này được chia thành 6 giai đoạn [22]:

Giai đoạn 1: Làm xuất hiện vấn đề

Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng

chưa có quy luật sẵn cũng như những tri thức, kĩ năng sẵn có chưa đủ giải

quyết mà còn khó khăn, cản trở cần vượt qua. Vấn đề phải được đặt ra thế nào

cho lí thú, kích thích tính tích cực nhận thức của HS, nghĩa là phải tạo ra tình



13



huống có vấn đề theo quy trình sau. Để tổ chức và rèn luyện cho HS phát

hiện, phát biểu vấn đề GV cần:

- Đặt câu hỏi, khi cần giúp đỡ HS thì gợi ý, định hướng chú ý của HS

vào những điều mâu thuẫn, bất ngờ trong tình huống vừa được tổ chức để HS

phát hiện ra vấn đề.

- Khích lệ HS nói lên cảm nhận, phát hiện của mình về vấn đề được đặt

ra, chưa yêu cầu phải dùng đúng hoặc chính xác ngôn ngữ khoa học. Lưu ý

đến các ý kiến trái ngược hoặc chưa đúng để hướng dẫn HS điều chỉnh hướng

suy nghĩ cho phù hợp.

- Uốn nắn, chỉ dẫn và luyện cho HS phát biểu thành lời vấn đề của bài

học, sử dụng hợp lí ngơn từ vật lí.

- Căn cứ vào trình độ HS, vào nội dung của bài học mà lựa chọn và đưa

ra mức độ thích hợp nhằm yêu cầu HS tự phát biểu vấn đề của bài học. Lúc

đầu có thể đưa ra mức độ cao hơn để thăm dò, sau đó hướng dẫn và giảm bớt

khó khăn cho HS khi cần thiết.

Giai đoạn 2: Đưa ra dự đoán

Dự đoán, giả thuyết là một giai đoạn rất quan trọng của quá trình

nghiên cứu. Hướng dẫn để HS dự đoán những việc phải làm, những hiện

tượng sẽ xảy ra…sẽ giúp HS tăng cường các hoạt động tư duy và tưởng

tượng.

Căn cứ để hướng dẫn HS đưa ra dự đoán:

- Dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có, một hồn cảnh đã

gặp.

- Dựa vào sự tương tự.

- Dựa trên nhận xét thấy hai hiện tượng luôn luôn biến đổi đồng thời,

cùng tăng hoặc cùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả giữa chúng.

- Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết

sang một lĩnh vực khác.

Giai đoạn 3: Suy luận rút ra hệ quả



14



Việc suy ra hệ quả được thực hiện bằng suy luận lôgic hay suy luận

toán học.

Giai đoạn 4: Đề xuất và thực hiện một phương án TN kiểm tra

Những căn cứ để hướng dẫn HS đề xuất phương án TN kiểm tra:

- Căn cứ vào vốn sống, sử dụng một kinh nghiệm tích lũy được của HS.

- Căn cứ vào vốn kiến thức đã được học.

- Căn cứ vào sự liên tưởng tới một việc, một cách làm đã biết, đã nghe

nói đến, vận dụng vào một hồn cảnh mới khơng hồn tồn giống như cái cũ.

- Dựa vào sự hướng dẫn của GV và sự giúp đỡ của bạn bè trong hoạt

động nhóm. Sự gợi mở, hướng dẫn đúng lúc, đúng cách của GV, sự trao đổi

với các bạn cùng nhóm và khác nhóm, sẽ giúp HS vượt qua những khó khăn

tưởng như quá sức để đi đến những đề xuất, những giải pháp thực nghiệm hợp

lí, sáng tạo.

Giai đoạn 5: Hợp thức hóa kết quả nghiên cứu

- Yêu cầu mỗi nhóm có sự phân công công việc cho từng thành viên, cử

đại biểu nhóm báo cáo kết quả nghiên cứu trước lớp. Việc phân công này cần

phải luân phiên để HS nào cũng được rèn luyện. Mặt khác, cần lưu ý giúp đỡ

các HS rụt rè, những HS học lực yếu để tạo điều kiện cho HS vươn lên.

- Trong việc tổ chức tranh luận hợp thức hóa kết quả nghiên cứu, GV là

người hướng dẫn và trọng tài, cần giúp HS lập luận có lí lẽ và cơ sở thực tiễn,

biết phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong những điều kiện cụ thể.

Việc chuẩn xác hóa các kết luận gắn liền với việc rèn luyện cho HS sử dụng

ngôn ngữ khoa học để biểu đạt các hiện tượng, định luật được nghiên cứu. Nó

càng quan trọng hơn đối với các lớp đầu cấp và cần được GV thực hiện

thường xuyên qua mỗi bài học.

- Cần dựa vào trình độ thực tế của HS và vào tình hình cụ thể của tiến

trình dạy học mà đưa ra mức độ thích hợp đối với từng lớp và từng bài học.

Giai đoạn 6: Ứng dụng kiến thức mới



15



Để HS có thể vận dụng được kiến thức một cách sáng tạo, làm cho việc

nắm vững kiến thức trở lên sâu sắc, bền vững, GV cần tận dụng tối đa các bài

tập vận dụng đã được chuẩn bị trong SGK và sách bài tập, đồng thời suy nghĩ,

tìm tòi để đưa ra các ứng dụng cụ thể, gần gũi trong đời sống và kĩ thuật;

khuyến khích HS làm các bài tập thực nghiệm, sáng chế các thiết bị vận dụng

kiến thức đã học, làm các đồ chơi; phát hiện, thu thập các tài liệu, tranh ảnh,

các thiết bị, dụng cụ có ứng dụng kiến thức trong thực tế.

1.5.3. Quy trình bồi dưỡng năng lực thực nghiệm vật lý cho học sinh

Bồi dưỡng NLTN trong dạy học vật lí cần tập trung bồi dưỡng hệ thống

các kỹ năng thực nghiệm cho HS. Do đó, trước khi bồi dưỡng GV cần xác

định rõ các kỹ năng thực nghiệm cần bồi dưỡng cho HS. Từ việc nghiên cứu

hệ thống các kỹ năng thực nghiệm và căn cứ vào nội dung bài học, GV xem

bài học đó có thể bồi dưỡng những kỹ năng nào. Mỗi bài học GV có thể bồi

dưỡng cho HS nhiều kỹ năng. Tuy nhiên, tùy thuộc vào tình hình thực tế, GV

cần lựa chọn những kỹ năng quan trọng để bồi dưỡng với hiệu quả cao.

Quy trình bồi dưỡng NLTN cho HS gồm 5 bước:

Bước 1. Xác định hình thức tổ chức bồi dưỡng

Hiện nay, các hình thức tổ chức dạy học vật lí ở trường phổ thơng chủ

yếu là hình thức bài lên lớp, còn hình thức tham quan, ngoại khố, hình thức

tự học ở nhà thực hiện khá hạn chế. Quá trình bồi dưỡng NLTN có thể thực

hiện lồng ghép khi GV triển khai các hình thức này. Đối với hình thức dạy

học theo bài lên lớp, GV có thể bồi dưỡng với loại bài nghiên cứu kiến thức

mới, bài luyện tập cũng cố kiến thức hay bài thực hành TN. Với hình thức tự

học ở nhà, GV có thể giao nhiệm vụ chế tạo dụng cụ dựa trên các nguyên tắc

vật lí hay làm các bài tập TN.

Bước 2. Xác định kỹ năng và mục tiêu cần đạt được

Căn cứ vào nội dung và hình thức bồi dưỡng mà GV lựa chọn những

kỹ năng thực nghiệm phù hợp để bồi dưỡng cho HS. Mỗi kỹ năng lại có nhiều

mức độ khác nhau, GV cần dựa vào năng thực tế của HS mà đề ra mục tiêu về



16



các mức độ hình thành kỹ năng cho phù hợp. Đối với những HS học lực yếu,

kỹ năng xây dựng giả thuyết chỉ đặt ra ở mức dự đoán được câu trả lời dưới

sự hướng dẫn của GV. Còn với HS khá, giỏi GV cần đề ra mức độ cao hơn là

thực hiện từ giả thuyết suy ra hệ quả mà không cần sự hướng dẫn của GV.

Các mục tiêu đưa ra cần được lượng hố cụ thể, chi tiết để GV lấy đó làm cơ

sở đánh giá hiệu quả quá trình bồi dưỡng.

Bước 3. Lập kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng

Việc thiết kế kế hoạch bồi dưỡng cần được chuẩn bị kĩ càng và chu đáo.

Một kế hoạch tốt sẽ giúp GV có định hướng rõ ràng khi tiến hành tổ chức bồi

dưỡng. Các công đoạn GV cần thực hiện khi lập kế hoạch và tổ chức bồi

dưỡng:

a. Xác định các điều kiện về phương tiện, thiết bị, không gian, thời

gian

Trong quá trình bồi dưỡng NLTN cho HS thì phương tiện, thiết bị là

khơng thể thiếu. Do đó khi lập kế hoạch bồi dưỡng, GV cần chuẩn bị trước

các phương tiện, thiết bị cần sử dụng. Bên cạnh đó việc lập kế hoạch cũng cần

chú ý đến điều kiện về không gian (lớp học truyền thống, phòng thực hành

hay khơng gian ngồi trời), chú ý đến thời gian tổ chức bồi dưỡng.

b. Dự kiến cách thức tổ chức bồi dưỡng

Để việc bồi dưỡng diễn ra có hiệu quả GV cần định hình trước cách

thức tổ chức bồi dưỡng.

c. Xây dựng kế hoạch tổ chức kiểm tra đánh giá

Kiểm tra đánh giá là một khâu khơng thể thiếu trong q trình dạy học.

Mục đích của kiểm tra đánh giá là cơng khai hố về năng lực, kết quả học tập

của mỗi HS đồng thời GV cũng nhận ra những điểm mạnh, yếu để tự hoàn

thiện hoạt động dạy, phấn đấu nâng cao chất lượng dạy học. Kiểm tra đánh giá

cần dựa vào mục tiêu ban đầu đã đặt ra và được GV lên kế hoạch rõ ràng, chi

tiết. Trong kế hoạch cần thể hiện các yếu tố như: phương thức tiến hành kiểm

tra (quan sát HS làm việc, lập bảng theo dõi HS trong quá trình bồi dưỡng),



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×