Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ - 0trang

hơn 7-16% so với mức bón MB2. Năng suất thực thu trong vụ HT thấp hơn 13-20%

so với vụ ĐX, nhưng phát thải CH 4-DT vụ HT lại cao hơn 7-26% so với vụ ĐX nên

phát thải CH4-SP vụ HT cao hơn 21-30% so với vụ ĐX. Phát thải tích lũy N 2O-SP ở

chế độ tưới TN thấp hơn 21-36% so với chế độ tưới TTK.

- Trên quy mô vùng, hệ canh tác lúa-lúa có mức phát thải CH 4 ước lượng đạt

mức 451 kgCH4/ha/năm ở chế độ TN và giảm 17-42% khi áp dụng chế độ rút nước

giữa vụ. Mức phát thải N2O tăng 8%-32% (theo số lần rút nước) khi rút nước giữa

vụ so với tưới ngập. Nhóm đất phù sa phát thải nhiều khí N 2O so với đất xám, trong

khi nhóm đất xám phát thải nhiều khí CH4 so nhóm đất phù sa.

- Khi chuyển từ tưới ngập sang chế độ tưới rút nước ít nhất 1 lần giữa vụ,

tổng lượng phát thải khí CH4 tồn lưu vực sẽ giảm hơn 4.300 tấn CH 4/năm (tương

đương 107.530 tấn CO2tđ/năm tương đương), trong khi tổng lượng phát thải khí

N2O sẽ tăng thêm hơn 22,8 tấn N 2O/năm (tương đương 6.735 tấn CO 2tđ/năm). Khu

vực có lượng phát thải CH4 và N2O từ canh tác lúa lớn là các huyện Điện Bàn, Duy

Xuyên, Thăng Bình, Đại Lộc, Phú Ninh.

- Áp dụng chế độ tưới 1RN làm tăng 12% lượng N 2O phát thải/năm nhưng

do lượng N2O rất nhỏ (228 tấn N2O/năm, hay 6735 tấn CO2tđ) nên không làm ảnh

hưởng đến tổng mức giảm phát thải CO 2tđ (GWP) tích lũy từ mức giảm phát thải

CH4 (nhờ rút nước) mang lại. Nếu áp dụng chế độ tưới 1RN, GWP toàn lưu vực sẽ

giảm gần 100.000 tấn CO2tđ, tương đương giảm 1,5 tấn CO2tđ/ha đất lúa/năm.

- Hệ số phát thải CH4 (EFi) đề xuất sử dụng trong kiểm kê KNK vùng nghiên

cứu (theo Tier 2 của IPCC): 1,8 kg CH 4/ha/ngày (vùng trung du) và 3,3 kg

CH4/ha/ngày (vùng đồng bằng) đối với chế độ tưới ngập thường xuyên (theo truyền

thống); Hệ số tỷ lệ cho các chế độ tưới tiêu khác nhau (SFw): 0,66 (vùng trung du)

và 0,58 (vùng đồng bằng) đối với chế độ cạn/rút nước 1 lần; 0,56 (vùng trung du) và

0,47 (vùng đồng bằng) đối với chế độ cạn/rút nước nhiều lần.

2. Kiến nghị

- Mặc dù nghiên cứu này được thực hiện tương đối bài bản, hệ thống tuy

nhiên vẫn còn nhiều vấn đề chưa đề cập đến do một số hạn chế khách quan và chủ

quan. Nghiên cứu sinh kiến nghị cần có các nghiên cứu tiếp theo:

+ Nghiên cứu về mối tương quan giữa động thái của NH 4+, NO3-, Mn4+, Fe3+,

hữu cơ hòa tan (DOC) trong đất, O 2 hòa tan trong nước và dung dịch đất với phát

thải CH4 và N2O từ môi trường đất lúa.

149



+ Nghiên cứu về tác động tổng hợp các biện pháp canh tác lúa (làm đất, vùi

rơm rạ, chế độ bón phân, chế độ tưới) đến động thái phát thải KNK từ đất lúa, làm

vững chắc cơ sở khoa học đề xuất hệ số phát thải N2O vùng nghiên cứu.

- Thông tin từ điều tra PRA và thảo luận nhóm tập trung (FGD) của nghiên

cứu cho thấy: trong thực tiễn sản xuất, việc thử nghiệm tưới tiết tiệm nước đã bước

đầu mang lại kết quả tích cực (Giảm được số lần bơm nước bình quân 3 lần/vụ lúa

mà không làm ảnh hưởng đến năng suất; cây lúa cứng cây, giảm tỷ lệ lúa đổ gãy;

giảm chi phí sản xuất; thuận lợi cho cơ giới hóa; phù hợp với các chương trình của

nhà nước (cánh đồng mẫu lớn, SRI, 3G-3T, 1P-5G)…). Tuy nhiên, việc áp dụng

tưới nước tiết kiệm trong canh tác lúa trên diện rộng còn gặp nhiều trở ngại (Nông

dân đã quen với tưới ngập truyền thống; hệ thống tưới tiêu chưa chủ động 100%

trong vụ ĐX; mặt bằng đồng ruộng không đồng …). Dưới đây là một số kiến nghị

nhằm mở rộng việc áp dụng tưới nước tiết kiệm trong sản xuất lúa vùng nghiên cứu:

+ Xác định các vùng canh tác/thâm canh lúa ở lưu vực sơng VG-TB có tiềm

năng áp dụng tưới tiết kiệm nước (ví dụ: bản đồ thích nghi tưới tiết kiệm nước…),

để ưu tiên các hoạt động nhân rộng mơ hình, mở rộng diện tích áp dụng.

+ Lồng ghép kỹ thuật tưới tiết kiệm vào chương trình “Cánh đồng mẫu lớn”,

chương trình/dự án canh tác lúa bền vững như SRI, 3G-3T, 1P-5G của tỉnh, huyện.

+ Kết hợp các biện pháp canh tác giảm phát thải, sừ dụng giống lúa chống

chịu thời tiết (hạn, mặn) tốt với các tác động của biến đổi khí hậu thành giải pháp

thích ứng giảm nhẹ tổng hợp, nhằm giảm nhẹ các tác động của biến đổi khí hậu.

+ Lồng ghép nội dung về tưới tiết kiệm nước vào chương trình nâng cao

năng lực và xây dựng kế hoạch sản xuất của các cơ quan chỉ đạo sản xuất và khuyến

nơng các cấp.



150



DANH MỤC CƠNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN



LIÊN



1. Ngo Duc Minh, Mai Van Trinh, Reiner Wassmann, Tran Dang Hoa, Nguyen

Manh Khai (2014), “Farmer’s Perception and Farming Practices in Rice Production

under Changing Climate: Case Study in Quang Nam Province”, VNU Journal of

Science: Earth and Environmental Sciences (2014), Vol. 30 (4), pp. 25-40.

2. Ngo Duc Minh, Mai Van Trinh, Reiner Wassmann, Bjorn Ole Sander, Tran Dang

Hoa, Nguyen Le Trang, Nguyen Manh Khai (2015), “Simulation of Methane

Emission from Rice Paddy Fields in Vu Gia-Thu Bon River Basin of Vietnam with

the DNDC Model: Field Validation and Sensitivity Analysis”, VNU Journal of

Science: Earth and Environmental Sciences (2015), Vol. 31 (1), pp. 36-48.

3. Ngo Duc Minh, Mai Van Trinh, Reiner Wassmann, Nguyen Manh Khai, Bjorn

Ole Sander, Tran Dang Hoa (2015), “Application of the ORYZA2000 model for

rice-yield change assessment and yield gap analysis in the Vu Gia-Thu Bon river

basin, Vietnam”, VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology

(2015), 31 (1S), pp. 56-70.

4. Ngo Duc Minh, Mai Van Trinh, Tran Dang Hoa, Hoang Trong Nghia, Nguyen

Manh Khai, Nguyen Le Trang, Bjorn Ole Sander, Reiner Wassmann (2016),

“Modelling Nitơ-ơxít (N2O) emission from rice field in impacts of farming

practices: A case study in Duy Xuyen district, Quang Nam province (Central

Vietnam)”, Journal of Vietnamese Environment (J. Viet. Env) – Special Issue

(2016). 8 (4), pp.223-228. DOI: 10.13141/jve.vol8.no4.pp223-228. Published online

by Technische Universität Dresden. ISSN 2193-6471. https://oa.slubdresden.de/ejournals/jve.

5. Ho Quang Duc, Nguyen Quang Hai, Tran Minh Tien, Ngo Duc Minh (2011),

“Overview of nitrogen circulation and mitigation of nitrogen emissions from rice

production in Vietnam”, Proceedings of International Seminar on Increased

Agricultural Nitrogen Circulation in Asia: Technological Challenge to Mitigate

Agricultural Nitrogen Emissions. GIS Convention Center of National Taiwan

University, September 27-28 (2011) - Taipei, Taiwan, pp.115-120.

6. Leocadio Sebastian, Ngo Duc Minh (2016), “Doing it Right - Up-scaling

Alternate Wetting and Drying (AWD) Technology in Vietnam”, In “Reaching more

farmers – innovative approaches to scaling up climate smart agriculture” - CCAFS



151



Working Paper 135 (2016), Copenhagen, Denmark (edited by Westermann O.,

Thornton P., Förch W), pp. 88-92.

7. Agnes Tirol-Padre, Ngo Duc Minh, Tran Dang Hoa, Hoang Trong Nghia, Le Van

An, Reiner Wassmann, Bjoern Ole Sander (2016), “Carbon Footprint Analysis of

Rice Production in Quang Nam Province (Central Vietnam): Greenhouse Gas

Emissions in Different Landscapes and Impacts of Alternate Wetting and Drying”,

In Land Use and Climate Change Interactions in Central Vietnam - Springer Book

Series on Water Resources Development and Management (2016), edited by

Alexandra Nauditt, Lars Ribbe. ISBN 978-981-10-2623-2, pp. 103-121.



152



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×