Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng cộng: SFEMG (+) 95,83% ở cơ VM, (+) 75,40% ở cơ DCN

Tổng cộng: SFEMG (+) 95,83% ở cơ VM, (+) 75,40% ở cơ DCN

Tải bản đầy đủ - 0trang

21

Đó là một tam giác vng DHT (hình 3.3). Điểm T có thể xác

định bằng cách đối chiếu từ điểm giữa bờ trên hốc mắt 1,6cm

(khoảng một khốt ngón tay dễ xác định trên lâm sàng).

*Tập hợp dữ liệu điểm vận động của nhánh gò má ở cơ vòng mắt

+ Dùng hệ trục X2 O1Y2 là thuận tiện nhất trong đặt điện cực

kích thích hình đĩa thực hành kỹ thuật SFEMG vì dễ thao tác và

tương ứng với vị trí đặt điện cực kim khảo sát.

+ Đặt điện cực hoạt động hình đĩa ngay tại vị trí 7-8cm trên

đường Reid (trục O1X2). Vì điện cực hình đĩa có đường kính khoảng

1cm, nên khi đặt ngay dưới điểm này ta sẽ đặt được ngay vào vùng

tập trung cao nhất các điểm vận động (vùng 1cm2).

+ Xác định được vị trí đặt điện cực kim ghi SFEMG chắc chắn

trong cơ VM, tránh di lệch gây sang thương cho vùng mặt; đó là từ vị

trí 1cm cách khóe mắt ngồi đâm kim vào cơ VM chếch xuống dưới

vào trong sao cho không đâm kim đi quá 24 mm về phía chân và vượt

ra phía ngồi 31 mm, khi tính từ trung điểm khóe mắt trong và ngồi



(Hình 4.2.)



22

Hình 4.2. Sơ đồ đặt điện cực trong kỹ thuật SFEMG ở cơ vòng mắt

theo phương pháp mới

4.1.2. Mẫu phẫu tích cơ duỗi các ngón

+ Số lượng các nhánh tận vận động (Ri) vào cơ DCN của nghiên

cứu là 15,6 ± 2,7, nhiều hơn so với Abrams R.A. và cs : 4,6 ± 1,3, Liu

J. và cs: 4,3 ± 0,67, Safwat E.D. và cs : 3,4 ± 1,3 Sự khác biệt này có

lẽ là do từ vị trí màng trên cơ của thân cơ chúng tơi đã phẫu tích thêm

cho đến nhánh tận cùng có thể phẫu tích được đi vào cơ.

* Tập hợp dữ liệu điểm vận động của nhánh tận vận động

của thần kinh quay chi phối cơ duỗi các ngón

+ Bằng cách tập hợp kết quả nghiên cứu các đặc điểm giải phẫu

của các nhánh tận vận động của TK quay chi phối cơ DCN, chúng tơi

xác định vị trí nên đặt điện cực kích thích vào trong cơ như sau: đo

khoảng cách từ mỏm trên lồi cầu ngoài đến khớp quay trụ dưới bằng

thước dây, xác định đoạn từ 1/5-2/5 từ mỏm trên lồi cầu ngoài, rồi

đâm và di chuyển điện cực kính thích trong cơ DCN ở vị trí 7,5-8cm.

(hình 4.6)



Hình 4.6. Sơ đồ đặt điện cực trong kỹ thuật SFEMG ở cơ duỗi các

ngón theo phương pháp mới



23

4.2 Mẫu Bn đo SFEMG

4.2.2. Đặc điểm kỹ thuật SFEMG

Theo hướng dẫn 3/2016 của Stålberg E. và cs, việc đánh giá kết

quả SFEMG kiểu kích thích dựa trên ba thơng số: giá trị trung bình

đợ bồn chồn, giá trị bồn chồn thứ 27 (thứ tự tăng dần) trong 30 sóng

và số lượng giá trị vượt khung (giá trị ngoại lai). Giá trị bồn chồn thứ

27 thực chất là giá trị ngoại lai > MCD trung bình + 2 độ lệch chuẩn.

Nghiên cứu đánh giá kết quả dựa vào 2 giá trị: MCD trung bình và số

lượng giá trị vượt khung

4.2.3. Kết quả SFEMG

4.2.3.1. Kết quả SFEMG cơvòng mắt

Kỹ thuật SFEMG kiểu kích thích điện ở cơ VM có thể làm theo kiểu

kích thích sợi cơ/kích thích sợi trục. Nghiên cứu này làm theo kiểu kích

thích sợi cơ dùng 2 điện cực hình đĩa (để giảm đau và tiết kiệm chi phí).

Kết quả của kỹ thuật SFEMG ở cơ VM có độ nhạy là 95,83%.

4.2.3.2. Kết quả SFEMG cơ duỗi các ngón

Kỹ thuật SFEMG kiểu kích thích điện ở cơ DCN là kỹ thuật kích

thích sợi trục với 1 điện cực kim đơn cực(điện cực hoạt động) và 1

điện cực hình đĩa (điện cực đối chiếu) cố định trên da bằng băng dán

đặt cách điện cực hoạt động 2 cm. Kết quả thu được của kỹ thuật

SFEMG ở cơ DCN có độ nhạy là 75,40%.

4.2.3.3. So sánh kết quả SFEMG ở cơ vòng mắt và cơ duỗi các ngón

Độ bồn chồn mắt bên sụp mi nặng tăng cao đáng kể (gấp đôi) so

với mắt bên sụp mi ít; vì vậy khi thực hành kỹ thuật đo SFEMG, nên

thực hiện ở mắt bên có bất thường rõ rệt hơn thì kết quả rõ ràng hơn.

Ngược lại SFEMG ở tay, sự khác biệt khơng nhiều, có thể là do trong

nhóm BN nghiên cứu khơng có sự yếu cơ tay ưu thế ở một bên. Mặt

khác nhược cơ (IIa, IIb, III) thường là yếu cơ đối xứng.



24

Kết quả test SFEMG của đề tài này tương đương vớimột số tác

giả khác: Long Y.L 97,3% ở cơ VM; Oh S.J 92% cơ DCN...

4.2.3.4. So sánh kỹ thuật SFEMG giữa phương pháp mới và

phương pháp kinh điển trên cơ vòng mắt và cơ duỗi các ngón

Số liệu phân tích nhận thấy 2 phương pháp mới và kinh điển đều

có giá trị tương đương trong chẩn đoán bệnh nhược cơ, nhưng

phương pháp mới có ưu điểm:

* Ở cơ vòng mắt: có thể nhạy hơn (đợ bồn chồn trung bình cao

hơn)so với phương pháp kinh điển

*Ở cơ duỗi các ngón: có thể rút ngắn được thời gian làm so với

phương pháp kinh điển

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu, trên 60 mẫu phẫu tích cơ vòng mắt và duỗi các ngón

tại Bộ mơn giải phẫu Trường Đại học y Dược tp.HCM và Đại học y

khoa Phạm Ngọc Thạch và 73 kết quả SFEMG tại Trung tâm Y khoa

Nguyễn Hoàng, từ 1/2012 đến tháng 5/10//2017, nghiên cứu này rút

ra kết luận như sau:

1. Đặc điểm giải phẫu các nhánh thần kinh mặt chi phối cơ vòng

mắt và các nhánh thần kinh quay chi phối cơ duỗi các ngón tay:

* Các đặc điểm giải phẫu nghiên cứu ở cơ vòng mắt và duỗi các

ngón tương tự nhau ở 2 bên phải và trái, khơng có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê.

+ Với cơ vòng mắt:

- 100% các nhánh thần kinh chi phối cho cơ này đều xuất

phát từ nhánh thái dương và nhánh gò má của thần kinh mặt, trong

đó 1/2 nửa dưới cơ vòng mắt ngồi các nhánh thần kinh gò má còn

được chi phối bởi một số nhánh của thần kinh thái dương. Trong khi



25

đó 1/2 trên cơ vòng mắt được chi phối hầu hết bởi các nhánh của thần

kinh thái dương.

- Về kích thước của cơ vòng mắt chúng tơi có được các số

liệu: giới hạn trên, dưới, trong, ngoài và điểm thấp nhất của cơ vòng

mắt của cơ vòng mắt.

- Chúng tơi đã thiêt lập được 9 vùng chứa 50%, 75% và 95%

tập trung và 3 vùng 1cm2 mà ở đó có tần suất cao nhất các phân nhánh

thái dương và gò má của thần kinh mặt vào cơ vòng mắt theo 3 hệ trục

tọa độ.

+ Với cơ duỗi các ngón:

- 100% các nhánh thần kinh chi phối cho cơ duỗi các ngón

tay cả 2 bên đều xuất phát từ nhánh sâu của thần kinh quay ở bờ

dưới cơ ngửa.

- Số lượng nhánh cho mỗi cơ duỗi các ngón dao động từ 9

đến 21 nhánh – hầu hết các nhánh này (điểm vận đợng) tập trung ở vị

trí khoảng 1/5 đến 2/5 chiều dài của đường nối từ mỏm trên lồi cầu

ngoài xương cánh tay tới khớp quay -trụ dưới.

- Chúng tôi đã thiết lập được 3 vùng chứa 50%, 75% và

95% tập trung và 1 vùng có diện tích 1cm2 mà tần suất các nhánh sâu

của thần kinh Quay đi vào cơ duỗi các ngón có số lượng lớn nhất.

2. Về ứng dụng kết quả nghiên cứu vào kỹ thuật ghi điện cơ sợi

đơn ở cơ vòng mắt và cơ duỗi các ngón tay ở bệnh nhân

nhược cơ

* Nghiên cứu đã thiết lập được sơ đồ ứng dụng kỹ thuật ghi điện

cơ sợi đơn dựa trên dữ liệu vùng vận động thu được qua phẫu tích và

ứng dụng thành cơng vào thực hành kỹ thuật ghi điện cơ sợi đơn.

* Phương pháp thực hiện kỹ thuật ghi điện cơ sợi đơn theo

phương pháp mới - có xác định vùng vận động trước - bước đầu đã



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng cộng: SFEMG (+) 95,83% ở cơ VM, (+) 75,40% ở cơ DCN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×