Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhà trường cần tạo điều kiện cho sinh viên có khoảng thời gian đủ dài (2 tháng trở lên/ 1 năm học) để SV có thể tham gia thực tập tại các doanh nghiệp trong những thời gian cao điểm của doanh nghiệp.

Nhà trường cần tạo điều kiện cho sinh viên có khoảng thời gian đủ dài (2 tháng trở lên/ 1 năm học) để SV có thể tham gia thực tập tại các doanh nghiệp trong những thời gian cao điểm của doanh nghiệp.

Tải bản đầy đủ - 0trang

 Tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên tiếp thu kiến thức mới một cách thuận lợi và

hình thành, phát triển được khả năng tự học, tự nghiên cứu là vấn đề quan trọng nhất

đối với giảng viên hiện nay. Để đạt được mục tiêu đó giảng viên phải thay đổi phương

pháp giảng dạy cho thích hợp với tính chất và mục tiêu của từng môn học, từng đối

tượng sinh viên. Thay vì sử dụng phương pháp thuyết trình nhàm chán để truyền đạt

kiến thức cho sinh viên thì giảng viên có thể sử dụng phương pháp đàm thoại để

hướng dẫn, gợi mở và dẫn dắt sinh viên đến với các kiến thức mới. Trong trường hợp

này giảng viên không phải là người truyền thụ mà chỉ là người hướng dẫn để sinh viên

tự tìm hiểu, tự nghiên cứu để lý giải được các vấn đề. Khi đó kiến thức sẽ tự động

được hình thành trong sinh viên một cách tự nhiên, không gượng ép, không nhồi nhét

và giúp sinh viên nhớ lâu hơn. Bên cạnh đó, giảng viên cũng nên kết hợp với phương

pháp làm việc nhóm cộng với việc cho sinh viên tự thực hiện, tự trình các seminar, các

chuyên đề khoa học để tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu. Bằng phương pháp

này các kiến thức kỹ năng cần thiết cho sinh viên sẽ được hình thành và phát triển tồn

diện như: khả năng tự học, tự nghiên cứu; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng giao tiếp;

năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy hệ thống, tư duy sáng tạo…

 Ngoài kiến thức chun mơn sâu rộng, ngồi phương pháp sư phạm hiệu quả,

giảng viên cũng cần phải có một sự gần gũi, thân thiện, nhiệt tình và tâm huyết với

nghề. Thông thường một Giảng viên phải dạy quá nhiều giờ mà lương lại thấp dẫn đến

tình trạng một số khơng ít các giảng viên phải dạy thêm bên ngoài. Do đó họ thiếu thời

gian cần thiết để nâng cao kỹ năng giảng dạy, nội dung mơn học, chương trình đào tạo

và khả năng nghiên cứu khoa học.

 Tiếp theo, công tác viết giáo trình của nhà trường còn nhiều hạn chế. Giảng viên

của trường chủ yếu biên soạn bài giảng để cung cấp cho sinh viên. Bài giảng thường

có nội dung gò bó, các kiến thức được cơ đọng, và quy chuẩn cho việc ra đề thi, điều

này tạo nên tính ỷ lại của sinh viên. Như vậy, phương châm “lấy người học làm trung

tâm” của học chế tín chỉ không đạt được, chất lượng hoạt động đào tạo bị giảm sút. Do

đó, nhà trường cần tập trung trí tuệ cho việc biên soạn giáo trình đáp ứng cả nhu cầu

giảng dạy và tự học của sinh viên. Bên cạnh đó, nội dung giảng dạy nên quy định đề

cương bắt buộc nhưng nội dung chi tiết cần linh hoạt, nhằm khuyến khích sinh viên tự

nghiên cứu từ nhiều nguồn tài liệu. Nhà trường phải làm sao để kích thích được tính tự

giác của sinh viên trong q trình học tập, làm sao việc được nghe giảng trên lớp phải

79



thực sự trở thành nhu cầu bức thiết của người học chứ khơng phải vì sợ điểm danh hay

sợ bị cấm thi mới có mặt trên lớp. Muốn làm được như vậy trước hết nội dung giảng

dạy phải phù hợp với tính đặc thù của đối tượng giảng dạy. Vì vậy, cần rà sốt lại một

cách hệ thống tồn bộ nội dung giảng dạy của từng môn học. Trong nội dung giảng

dạy ở trường ta còn nhiều những mơn học, những bài giảng chỉ mang tính lý luận

chung chung chưa thực sự gắn với thực tiễn, giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Vì

thế khi nghe giảng sinh viên cảm thấy có nhiều vấn đề khơng thiết thực làm hình

thành tâm lý học cũng vậy mà không học cũng vậy, học để thi chứ khơng có ích gì cho

cơng việc, do đó dẫn đến ý thức học khơng tích cực hoặc học chỉ đối phó kỳ thi và

những qui chế mà trường đặt ra. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến

sinh viên không tự tin với kiến thức mình đã học trong trường. Để khắc phục điều này

đòi hỏi bản thân người giảng viên phải có kiến thức chun mơn vững vàng, vừa sâu,

vừa rộng, có phương pháp giảng dạy tốt và nhất thiết người giảng viên phải am hiểu

sâu sắc thực tiễn thì mới có thể gắn lý luận thực tiễn như thế bài giảng của mình mới

thiết phục được người học, gợi niềm say mê hứng thú cho người học, người học mới

thật sự cảm thấy việc học tập, nghiên cứu lý luận ở trường là thật sự bổ ích vì những

kiến thức học được ở trường có thể giúp sinh viên tự tin hơn khi ra trường. Làm như

vậy sẽ kích thích được cầu thị kiến thức, lòng say mê học hỏi nắm bắt cái mới ở người

học, dẫn đến tính tự giác trong học tập.

 Quan tâm chế độ tiền lương, chi phí giảng dạy cho giảng viên: chế độ lương cho

giảng viên tại trường cần được đổi mới thích hợp với chi phí sinh hoạt ngày càng cao

do trượt giá, lạm phát. Bởi nếu có nguồn thu nhập ổn định đảm bảo đời sống bằng

đồng lương của mình thì giảng viên sẽ an tâm tồn tâm, tồn ý dành thời gian cho

cơng tác nghiên cứu và nâng cao trình độ chun mơn đồng thời tránh được tình trạng

chảy máu chất xám ra các cơng ty nước ngồi, các doanh nghiệp. Đặt ra chỉ tiêu và hổ

trợ hành chính và tài chính cho các giảng viên có nhiều kinh nghiệm trong việc giảng

dạy, học tập và nghiên cứu.

5.2.4. Khả năng tiếp cận với nhân viên hành chính

Sinh viên trong q trình học tập, nghiên cứu trên giảng đường đại học, bên

cạnh những yếu tố làm tăng sự hài lòng như đã nói trên thì thái độ, khả năng tiếp cận

với nhân viên phục vụ tại trường là rất quan trọng. Để nâng cao chất lượng của mảng

hoạt động này nhà trường cần tập trung vào một số điểm chính như sau:

80



- Nhà trường cần quán triệt cho đội ngũ cán bộ hành chính của nhà trường luôn phải

xem SV như là một khách hàng thực thụ và sự hài lòng của sinh viên chính là sự thành

cơng và sự sống còn của nhà trường để có thái độ tích cực và tơn trọng sinh viên.

- Rà sốt lại quy trình xin cấp bảng điểm, giấy tờ hành chính cho sinh viên. Rút

ngắn thời gian cung cấp các giấy tờ hành chính.

- Cần xây dựng diễn đàn, hộp thư của các phòng ban, để cán bộ và sinh viên trao đổi

thông tin, giải đáp thắc mắc của sinh viên về quy chế, chính sách, thủ tục hành chính.

- Nâng cao nhận thức tự cập nhập kiến thức, rèn luyện kỹ năng phục vụ hiệu quả

cơng việc. Nghiên cứu góp ý cho Nhà trường những ý tưởng, giải pháp, nhằm cải tiến

công tác quản lý, nâng cao chất lượng dich vụ.

- Nhà trường cần có biện pháp cụ thể nhằm bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

cho đội ngũ cán bộ phục vụ (cử đi học tập các khóa đào tạo ngắn hạn về chun mơn,

định kỳ hàng năm mở các lớp tập huấn về nghiệp vụ nhằm cập nhật những thay đổi

trong các qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo...)

- Bên cạnh đó, Ban Giám hiệu nhà trường, quản lý khoa phải thường xuyên tìm

hiểu những cảm nhận, kỳ vọng và tiếp thu nghiêm túc những đóng góp chân thành từ

SV để khắc phục những yếu kém trong quá trình quản lý của mình thơng qua việc định

kỳ lấy ý kiến từ SV ít nhất 01 lần/học kỳ. Để thực hiện hóa các giải pháp trên cần có

sự ủng hộ, nhận thức một cách đúng đắn của toàn thể cán bộ quản lý, cán bộ giảng

dạy, cán bộ phục vụ hành chính và đặc biệt là SV đang học tập tại trường.

5.2.5. Cơ sở vật chất

Trong điều kiện nhà trường ngày càng mở rộng về chất lượng lẫn

qui







đào



tạo, nhà trường cần phải tiếp tục đổi mới hệ thống cơ sở vật chất, cụ

thể



cần



trang



bị



thêm hệ thống máy móc, thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và

phòng thực hành (chủ yếu cho SV thuộc Khoa Công nghệ thông tin,

Chuyên ngành Du lịch – nhà hàng – khách sạn) nhằm đáp ứng tốt

hơn nữa nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên. Song song đó,



81



nhà trường cần đẩy mạnh triển khai việc xây dựng cơ sở 1 để đáp

ứng yêu cầu đào tạo trong điều kiện mới.

Dù đã được chú trọng đầu tư hệ thống quản lý thư viện, tăng cường nguồn tài

liệu số.. nhưng số lượng đầu sách, tài liệu tham khảo chưa thực sự nhiều và phong phú

để đáp ứng nhu cầu tra cứu của sinh viên. Nhà trường cần Tăng cường xây dựng hệ

thống học liệu và học liệu điện tử đủ mạnh để phục vụ tốt cho quá trình giảng dạy và

học tập của giảng viên, sinh viên.

Đổi mới, nâng cấp hệ thống mạng Internet, máy chủ phục vụ hệ thống website

của nhà trường. Đồng thời, phát triển thêm những tiện ích, ứng dụng trực tuyến phục

vụ cho cơng tác hành chính. Có như vậy thì thơng tin về hoạt động và các chính sách

đào tạo của nhà trường được triển khai nhanh chóng, kịp thời đến sinh viên để họ đủ

thời gian nắm bắt và thực hiện một cách nghiêm túc. Đồng thời phục vụ việc đổi mới

phương pháp giảng dạy và hoạt động tự học của sinh viên.

5.2.6. Hoạt động hỗ trợ và tư vấn

Nhà trường thường xuyên tổ chức những buổi tọa đàm, giao lưu

trực tiếp với SV nhằm nắm bắt được những nguyện vọng, tâm tư của

SV để nhằm kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện những chính sách hỗ trợ

và tư vấn tốt cho SV nhiều hơn nữa.

5.2.7. Chương trình đào tạo

Xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế, nâng cao khả năng

ứng dụng trong bối cảnh bùng nổ thông tin, cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập

quốc tế. Nhà trường cần giảm thời gian dạy lý thuyết, tăng thời gian nghiên cứu và

thực hành, ứng dụng trong phân bổ thời gian giữa các môn học lý thuyết và các môn

ứng dụng của mỗi ngành đào tạo, phân bổ thời lượng giữa hướng dẫn lý thuyết và thực

hành ứng dụng cho từng môn học.

5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.3.1 Hạn chế của đề tài

Thứ nhất, do giới hạn về thời gian, kinh phí, nhân lực,… nghiên cứu thực hiện

lấy mẫu theo phương pháp thuận tiện với cỡ mẫu là 350 và khảo sát đối tượng là sinh

viên chính quy tại trường ĐH TBD. Do vậy, để nâng cao tính khái qt hóa của mơ

82



hình thì nghiên cứu tiếp theo nên lấy mẫu nhiều hơn để kết quả phân tích mang tính

đại diện cao.

Thứ hai, đề tài chỉ nghiên cứu cho một đối tượng cụ thể là sinh viên chính quy tại

trường ĐH TBD nên kết quả nghiên cứu của đề tài chỉ có ý nghĩa cho đối tượng này

thuộc phạm vi nhà trường, chưa phủ sóng cho tất cả người học thuộc các hệ tại các

trường đại học khác nhau.

Thứ ba, do phạm vi của đề tài chỉ dừng lại tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến

sự hài lòng của SV đối với hoạt động đào tạo. Vì vậy, đề tài chưa khai thác hết các

nhân tố đúng như tên gọi và kết quả phân tích hồi quy với R 2 = 0,712 chứng tỏ mơ

hình giải thích được 71,2% các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất

lượng hoạt động đào tạo tại trường ĐH TBD nhưng có 2 nhân tố bị loại do Sig. <0,05.

Còn lại là do tác động bởi các yếu tố khác chưa được nghiên cứu trong mơ hình này

như giá mà trong giáo dục gọi là học phí,…. Vì thế, nghiên cứu tiếp theo cần đưa thêm

những yếu tố mới vào trong mơ hình để giải thích đầy đủ hơn về các yếu tố tác động

đến sự hài lòng của sinh viên tại trường ĐH TBD.

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo

Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng nó cũng là cơ sở gợi ý cho những hướng

nghiên cứu tiếp theo:

- Thứ nhất, sửa chữa những thiếu sót trong đề tài này bằng một nghiên cứu hoàn

chỉnh hơn.

- Thứ hai, xây dựng phương pháp và quy trình nghiên cứu sự hài lòng của các

bên hữu quan đối với hoạt đào tạo của các trường Đại học tư thục tại Việt Nam.

- Thứ ba, thử nghiệm trên quy mô rộng hơn nhằm tiếp cận khả năng xây dựng

“chỉ số hài lòng” của sinh viên của các trường Đại học tư thục tại Việt Nam.

5.4. Kiến nghị

Ngoài những giải pháp mà tác giả đã đề cập ở trên sau đây là một số kiến nghị

mà tác giả xin được đề xuất thêm:

Đối với Nhà trường



83



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhà trường cần tạo điều kiện cho sinh viên có khoảng thời gian đủ dài (2 tháng trở lên/ 1 năm học) để SV có thể tham gia thực tập tại các doanh nghiệp trong những thời gian cao điểm của doanh nghiệp.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×