Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo kết quả đánh giá này thì ta thấy sinh viên có mức độ hài lòng cao (Trung bình = 3,49) đối với hoạt động hỗ trợ. Bên cạnh đó, sự góp ý và đánh giá chất lượng dào tạo, thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm được sinh viên đánh giá hài lòng cao (trung bì

Theo kết quả đánh giá này thì ta thấy sinh viên có mức độ hài lòng cao (Trung bình = 3,49) đối với hoạt động hỗ trợ. Bên cạnh đó, sự góp ý và đánh giá chất lượng dào tạo, thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm được sinh viên đánh giá hài lòng cao (trung bì

Tải bản đầy đủ - 0trang

4.5.7. Sự hài lòng chung của sinh viên đối với hoạt động đào tạo tại trường ĐH TBD

Bảng 4.23: Kết quả đánh giá chung sự hài lòng của sinh viên

Biến



Nội dung



quan sát

HL1



Tổng



Tơi hài lòng về cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động



Trung Độ lệch

bình



chuẩn



350



3,44



1,002



HL2 Tơi hài lòng về chương trình đào tạo của Trường



350



3,47



,885



HL3 Tơi hài lòng về hoạt động hỗ trợ và tư vấn của Trường



349



3,58



,905



HL4 Tôi hài lòng về với nhân viên hành chính của Trường



350



3,66



,902



HL5 Tơi hài lòng về đội ngũ giảng viên của Trường



350



3,76



,849



HL6 Tơi hài lòng về tổ chức và quản lý đào tạo của Trường



350



3,62



,826



HL7 Tơi hài lòng về hoạt động thực tế của Trường



350



3,47



,977



đào tạo của Trường



Trung bình



3,57

Nguồn: Từ tính tốn của tác giả



Kết quả đánh giá của sinh viên về sự hài lòng của sinh viên theo bảng 4.22 cho

thấy sinh viên có sự hài lòng chung cao đối với hoạt động đào tạo của nhà trường

(Trung bình = 3.57). Cụ thể là hài lòng cao nhất đối với đội ngũ giảng viên (Trung

bình = 3,76), thứ 2 là nhân viên hành chính, thứ ba là tổ chức và quản lý đào tạo, thứ

năm là Hoạt động hỗ trợ và tư vấn, thứ sáu là Hoạt động thực tế và chương trình đào

tạo, thấp nhất là cơ sở vật chất (Trung bình = 3,44).

4.6. Kiểm định sự khác biệt của các yếu tố nhân khẩu học đối với mức độ hài lòng

Mục đích của kiểm định sự khác biệt giữa các đặc điểm khác nhau của người học

đến sự hài lòng về chất lượng hoạt động đào tạo để một lần nữa giúp Nhà trường có

những giải pháp khác nhau, phù hợp cho từng đối tượng sinh viên nhằm tăng sự hài

lòng khi đánh giá chất lượng hoạt động đào tạo. Với mục đích đó mà phần đánh giá sự

khác biệt cho từng đối tượng sinh viên về sự hài lòng đối với chất lượng hoạt động đào

tạo được luận văn đưa vào nghiên cứu.



70



4.6.1. Theo giới tính

Để đánh giá xem có sự khác biệt trong cảm nhận về sự hài lòng đối với chất

lượng hoạt động đào tạo giữa các nhóm sinh viên nam và nữ hay khơng, ta cần sử

dụng biến giới tính và biến Y tổng hợp về sự hài lòng của sinh viên về chất lượng hoạt

động đào tạo. Sau đó sử dụng phép kiểm định Levene cùng mức ý nghĩa  = 5% (tức

là độ tin cậy 95%) và thu được kết quả như sau:

Bảng 4.24: Kết quả kiểm định phương sai đồng nhất theo giới tính

Levene Statistic

.990



df1



df2

1



Sig.

347



.321



Nguồn: Từ tính tốn của tác giả

Kết quả tại bảng 4.24 cho thấy, trong kiểm định Levene, giá trị Sig. theo đánh giá

của sinh viên về sự hài lòng đối với chất lượng hoạt động đào tạo bằng 0.321 > 0.05

nên phương sai giữa hai phái Nam và Nữ không khác nhau. Khi phương sai bằng nhau

nên bảng ANOVA mới được sử dụng có kết quả:

Bảng 4.25: Kết quả kiểm định ANOVA theo giới tính

Hoạt động đào tạo



Tổng biến



Giữa các nhóm

Trong nhóm

Tổng



Trung bình



thiên

1,379

346,603

348,000



df

1

347

348



biến thiên

1,397

,999



F

1,399



Sig.

.238



Nguồn: Từ tính tốn của tác giả

Tác giả sẽ sử dụng kết quả kiểm định t ở phần giả định phương sai bằng nhau cho

thấy, sig. = 0.238 >0.05. Do đó, ta có thể kết luận rằng: Ở độ tin cậy 95%, khơng có sự

khác biệt về sự hài lòng đối với chất lượng hoạt động đào tạo giữa hai phái Nam và Nữ.

4.6.2. Theo Khoa đào tạo

Bảng 4.26: Kết quả kiểm định phương sai đồng nhất theo khoa

Levene Statistic

2.523



df1



df2

4



Sig.

344



.041



Nguồn: Từ tính tốn của tác giả

Dựa vào kết quả kiểm định Levene Test về phương sai đồng nhất có giá trị Sig =

0.041 < 0.05, nghĩa là có sự khác biệt về phương sai đối với sự hài lòng của sinh viên

71



giữa các Khoa. Như vậy, trong trường hợp này giả định về điều kiện phân tích ANOVA

đã bị vi phạm, do đó phương pháp kiểm định Post Hoc Test được sử dụng.



Duncana,b



Bảng 4.27: Kết quả kiểm định Post Hoc Test theo khoa

Subset for alpha =

0.05

Khoa

N

1

Ngoaingu

59

-.1771945

CNTT

67

-.0890493

DL&QTKD

109

-.0460732

TC-KT

80

.1799855

Luat

34

.2071740

Sig.

.059

Nguồn: Từ tính tốn của tác giả



Với mức ý nghĩa quan sát sig. = 0,059 > 0,5 nghĩa là ở độ tin cậy 95%, khơng có sự

khác biệt về sự hài lòng đối với Hoạt động đào tạo của sinh viên giữa các khoa với nhau.

4.6.3. Theo Khóa học

Kiểm định Levene Test về phương sai đồng nhất có giá trị Sig = 0.026 < 0.05

(Phụ lục), nghĩa là có sự khác biệt về phương sai đối với sự hài lòng của sinh viên theo

khóa học. Vì vậy, giả định về điều kiện phân tích ANOVA đã bị vi phạm. Kiểm định

Post Hoc Test được sử dụng, kết quả kiểm định có giá trị Sig = 0.196 > 0.05. Vậy, ta

có thể kết luận: Ở độ tin cậy 95% khơng có sự khác biệt về sự hài lòng đối với chất

lượng hoạt động đào tạo giữa các nhóm sinh viên giữa các khóa học là khác nhau.

Bảng 4.28: Kết quả kiểm định Post Hoc Test theo khóa học

Duncana,b

Khoahoc

Khoa 7

Khoa 6

Khoa 8

Sig.



Subset for alpha = 0.05

1

76

-,1050413

107

-,0569529

166

,0848018

,196



N



Nguồn: Từ tính tốn của tác giả

4.6.4. Theo xếp loại kết quả học tập

Bảng 4.29: Kiểm định phương sai đồng nhất theo xếp loại kết quả học tập

Levene Statistic

1.134



df1

4

72



df2

344



Sig.

.340



Levene Statistic



df1



df2



Sig.



Nguồn: Từ tính tốn của tác giả

Dựa vào kết quả kiểm định Levene Test về phương sai đồng nhất có giá trị Sig =

0.340 > 0.05, nghĩa là khơng có sự khác biệt về phương sai đối với sự hài lòng của sinh

viên theo xếp loại kết quả học tập. Vậy thỏa điều kiện để phân tích ANOVA.

Bảng 4.30: Kết quả kiểm định ANOVA theo xếp loại kết quả học tập

Hoạt động đào tạo

Giữa các nhóm

Trong nhóm

Tổng



Tổng biến

thiên

3.708

344.292

348.000



df

4

344

348



Trung bình

biến thiên

.927

1.001



F

.926



Sig.

.449



Nguồn: Từ tính tốn của tác giả

Kết quả ở bảng trên cho thấy, mức ý nghĩa quan sát Sig. = 0,449 > 0,05 có nghĩa

là khơng có sự khác biệt về sự hài lòng đối với chất lượng hoạt động đào tạo giữa các

nhóm sinh viên có xếp loại kết quả học tập là khác nhau.

4.6.5. Theo sự hài lòng với kết quả học tập

Dựa vào kết quả kiểm định Levene Test về phương sai đồng nhất có giá trị Sig. = 0.846

> 0.05 (phụ lục 6), nghĩa là khơng có sự khác biệt về phương sai đối với sự hài lòng của sinh

viên theo sự hài lòng với kết quả học tập. Vậy thỏa điều kiện để phân tích ANOVA.

Bảng 4.31: Kết quả kiểm định ANOVA theo sự hài lòng với kết quả học tập

Hoạt động đào tạo

Giữa các nhóm

Trong nhóm

Tổng



Tổng biến

thiên

10.647

337.353

348.000



df

1

347

348



Trung bình

biến thiên

10.647

.972



F

10.951



Sig.

.001



Nguồn: Từ tính tốn của tác giả

Kết quả ở bảng trên cho thấy, mức ý nghĩa quan sát Sig. = 0,001 < 0,05 có nghĩa

là ở độ tin cậy 95% có sự khác biệt về sự hài lòng đối với chất lượng hoạt động đào

tạo giữa các nhóm sinh viên có sự hài lòng với kết quả học tập là khác nhau.

Tóm tắt chương 4



73



Chương 4 trình bày kết quả kiểm định các thang đo, kiểm định mơ hình lý thuyết

và các giả thuyết nghiên cứu đã được xây dựng ở chương 2 thông qua các cơng cụ: Hệ

số tin cậy Cronbach’s alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA; phân tích hồi quy bội;

kiểm định T-Test và ANOVA. Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thấy có 7 yếu tố tác

động đến sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng hoạt động đào tạo tại trường Đại

học Thái Bình Dương là: Đội ngũ giảng viên, Chương trình đào tạo, Khả năng tiếp cận

nhân viên hành chính, Tổ chức và quản lý đào tạo, Hoạt động thực tế, Hoạt động hỗ

trợ và tư vấn, Cơ sở vật chất. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có 5 yếu tố rút ra đều

có tác động có ý nghĩa đến sự hài lòng sinh viên, mức độ tác động được sắp xếp theo

thứ tự như sau: (1) Tổ chức và quản lý đào tạo; (2) Hoạt động thực tế; (3) Đội ngũ

giảng viên; (4) Khả năng tiếp cận với nhân viên hành chính; (5) Cơ sở vật chất. Mơ

hình nghiên cứu cũng giải thích được 71.5% sự biến thiên của biến phụ thuộc Sự hài

lòng bởi 5 biến độc lập. Tiếp theo, đánh giá về mức độ hài lòng của sinh viên đối với

từng nhân tố và đánh giá chung thì cho kết quả hài lòng cao. Bên cạnh đó, chương 4

cũng trình bày các kết quả kiểm định T-test, ANOVA để tìm hiểu sự khác biệt về sự hài

lòng của sinh viên đối với chất lượng hoạt động đào tạo theo các đặc điểm cá nhân.

Kết quả cho thấy, khơng có sự khác biệt về sự hài lòng đối với chất lượng hoạt động

đào tạo giữa các nhóm sinh viên có giới tính, Khoa đào tạo, khóa học hay xếp loại kết

quả học tập khác nhau chỉ có sự khác biệt giữa hai nhóm sinh viên có sự hài lòng về

kết quả học tập khác nhau ở độ tin cậy 95%. Chương tiếp theo sẽ tóm tắt tồn bộ

nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo tại trường

ĐH TBD đồng thời cũng nêu những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.



CHƯƠNG 5: BÀN LUẬN KẾT QUẢ VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Chương 5 sẽ kết luận về các kết quả của đề tài nghiên cứu được, trên cơ sở đó

đưa ra một số gợi ý chính sách giúp Nhà trường đánh giá chất lượng hoạt động đào tạo



74



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo kết quả đánh giá này thì ta thấy sinh viên có mức độ hài lòng cao (Trung bình = 3,49) đối với hoạt động hỗ trợ. Bên cạnh đó, sự góp ý và đánh giá chất lượng dào tạo, thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm được sinh viên đánh giá hài lòng cao (trung bì

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×