Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b1. Sử dụng SĐTD trong các hình thức kiểm tra

b1. Sử dụng SĐTD trong các hình thức kiểm tra

Tải bản đầy đủ - 0trang

Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đề

của kiến thức cũ mà các em đã học, cần kiểm tra, yêu cầu các em vẽ SĐTD

thông qua câu hỏi gợi ý. Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm) ấy kết

hợp với câu hỏi định hướng của giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định

hình được cách vẽ SĐTD theo yêu cầu.

* Ví dụ 1: Sau khi các em học xong “Các phương châm hội thoại”(Tiết 3,4

trong PPCT), trước khi tìm hiểu các kiến thức mở rộng có liên quan đến phương

châm hội thoại ở tiết sau (Tiết 13 trong PPCT), giáo viên kiểm tra bài cũ bằng

cách cho từ khóa “Phương châm hội thoại” rồi yêu cầu các em lập SĐTD để

củng cố, hệ thống kiến thức đã học ở hai tiết học trước thông qua câu hỏi sau: Ta

đã học qua những phương châm hội thoại nào? Em hãy lập SĐTD để hệ thống

kiến thức về chúng.

Dưới đây là SĐTD về các phương châm hội thoại có tính chất minh họa, các

em vẽ SĐTD đảm bảo các nội dung tương tự như sau là tốt:



Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhận

xét, góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm.

* Ví dụ 2: Trước khi cho các em tìm hiểu tiết “Luyện tập liên kết câu và liên kết

đoạn văn” (Tiết 107 trong PPCT), ở khâu kiểm tra bài cũ, giáo viên cho học

14



sinh lập SĐTD để ôn lại lý thuyết với cụm từ khóa “Liên kết văn bản”. Sau đây

là SĐTD minh họa:



* Lưu ý:

- Giáo viên có thể cho cả lớp cùng lập SĐTD trên giấy theo cách hoạt động cá

nhân trong một thời gian nhất định để lôi cuốn tất cả học sinh vào việc ôn kiến

thức đồng thời rèn luyện kĩ năng tạo lập SĐTD và thói quen tư duy cho các em.

Hết thời gian quy định, giáo viên chọn sơ đồ của một vài em (có thể vẽ xong

trước, có thể cần lấy điểm,...), chấm, nhận xét và ghi điểm cho các em; biểu

dương, khen ngợi những em vẽ tốt để khích lệ các em nhằm tạo khơng khí học

tập sơi nổi. Đây là việc làm rất cần thiết của chúng ta.

- Giáo viên chỉ cần dựa vào SĐTD chấm và ghi nhận điểm cho học sinh mà

khơng cần phải u cầu gì thêm ở các em, vì ta đã chọn dạng đề khá đơn giản,

nên những gì cần trả lời, các em đã thể hiện trong SĐTD, hơn nữa thời gian

kiểm tra bài cũ có hạn.

† Sử dụng SĐTD trong kiểm tra 15 phút, 1 tiết

Chúng ta cũng có thể dùng SĐTD trong các hình thức kiểm tra trên giấy (15

phút, 1 tiết) một cách dễ dàng. Tuy nhiên, giáo viên nên chọn kiểm tra những

kiến thức có tính hệ thống, xâu chuỗi, các em có thể dễ dàng hệ thống hóa bằng

SĐTD. Ví dụ: lập SĐTD về Từ loại (xét về cấu tạo, xét về ngữ pháp), về các

15



Phương châm hội thoại, về Trau dồi vốn từ, về Nghĩa của từ, Các cách phát triển

từ vựng, ...trong phân môn Tiếng Việt; lập SĐTD về hệ thống luận điểm, luận cứ

trong một văn bản nghị luận, về dàn ý của một kiểu văn bản nào đó...trong phân

môn Tập làm văn; hay lập SĐTD để khái quát, sơ đồ hóa kiến thức về một tác

giả, tác phẩm nào đó, về q trình phát triển tính cách, tâm trạng...của một nhân

vật trong tác phẩm truyện hay mạch cảm xúc, trình tự kết cấu của một bài

thơ...đối với phân môn Văn học. Mặt khác, về yêu cầu của đề kiểm tra, giáo viên

cần đưa ra từ hay cụm từ khóa ngắn gọn, rõ ràng, cụ thể, khái quát được chủ đề

của phần kiến thức cần kiểm tra trong câu hỏi để định hướng, giúp học sinh dễ

dàng nắm bắt chính xác u cầu đề và có thể vẽ đúng SĐTD theo yêu cầu. Sau

đây là một số ví dụ minh họa các dạng đề kiểm tra viết yêu cầu học sinh lập

SĐTD.

* Ví dụ 1: Từ tiếng Việt (xét về mặt cấu tạo) gồm có những loại nào? Vẽ SĐTD

giới thiệu chi tiết về chúng.



* Ví dụ 2: Cho từ khóa Truyện Kiều. Em hãy vẽ SĐTD giới thiệu nguồn gốc,

thể loại và giá trị “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.



16



* Ví dụ 3: Có mấy cách phát triển của từ vựng? Em hãy lập SĐTD minh họa với

cụm từ khóa sau: “SỰ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG”.



17



* Lưu ý:

- Giáo viên có thể linh hoạt sử dụng các câu hỏi yêu cầu học sinh lập

SĐTD ở khâu kiểm tra bài cũ và kiểm tra viết (15 phút, 1 tiết).

- Đối với kiểm tra miệng, 15 phút ta lấy thang điểm 10; còn đối với kiểm

tra 1 tiết thì tùy theo mức độ của từng câu hỏi, ta có thể cho từ 2 - 3 điểm (xem

như câu hỏi yêu cầu lập SĐTD là một phần trong đề kiểm tra).

b2. Sử dụng SĐTD trong dạy học bài mới và ghi bảng

Lâu nay, việc sử dụng SĐTD như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc dạy

học bài mới thì ít nhiều giáo viên chúng ta đã và đang ứng dụng. Tuy nhiên, việc

sử dụng SĐTD vừa để tổ chức, dẫn dắt cho học sinh tự tìm hiểu, khám phá,

chiếm lĩnh kiến thức bài học lại vừa thay thế cho việc ghi bảng cô đọng kiến

thức tiết dạy, bài dạy của giáo viên thì quả là việc làm còn hết sức mới mẻ.

Nhiều thầy cơ đều có chung quan niệm xem SĐTD là công cụ, phương tiện, là

một thứ “bảng phụ” hỗ trợ, minh họa cho tiết dạy mà thôi. Ai cũng cho rằng

không thể dùng SĐTD thay cho phần ghi bảng của giáo viên được. Thực ra thì ta

vẫn có thể thực hiện kết hợp chúng trong quá trình dạy học bài mới. Qua một

quá trình thử nghiệm chúng trong một số tiết dạy, tôi nhận thấy rõ ràng cách làm

này ta hồn tồn có thể làm được. Khơng những thế, việc kết hợp sử dụng

SĐTD trong việc tổ chức dạy học bài mới với việc sử dụng nó để cô đọng kiến

18



thức thay cho việc ghi bảng lại tiết kiệm được rất nhiều thời gian trên lớp, lại

vừa có tác dụng hình thành cho học sinh có thói quen ghi chép bằng SĐTD. Đây

cũng là việc làm rất cần thiết góp phần rèn luyện kĩ năng vẽ SĐTD cho các em,

nhất là những bài học nhằm giới thiệu, cung cấp kiến thức. Sau đây là một số ví

dụ minh họa.

* Ví dụ 1: Khi dạy bài giới thiệu về Truyện Kiều của Nguyễn Du (Tiết 25,26),

sau khi giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cụm từ khóa “TRUYỆN KIỀU (Nguyễn

Du)” lên trung tâm bảng đen. Sau đó, giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi dẫn dắt

học sinh tìm hiểu bài học. Đầu tiên, ta cho các em tìm hiểu về tác giả bằng cách

vẽ nhánh chính thứ nhất đặt tiêu đề nhánh “I. TÁC GIẢ”. Rồi đưa ra các câu hỏi

gợi ý tìm hiểu về Tên hiệu, Xuất thân, Thời đại, Cuộc đời, Sự nghiệp văn học

của nhà thơ. Tìm hiểu đến đâu, giáo viên phát triển nhánh, cơ đọng kiến thức

đến đó. Sau khi dẫn dắt các em tìm hiểu xong phần tác giả, giáo viên tiếp tục vẽ

nhánh thứ hai, đặt tiêu đề “II. TÁC PHẨM” đưa ra các câu hỏi gợi ý các em tìm

hiểu tác phẩm: Nguồn gốc, Thể loại, Kết cấu, Giá trị (nội dung, nghệ thuật) của

tác phẩm (cách làm tương tự như trên). Kết thúc 2 tiết học, ta có SĐTD giới

thiệu một cách cô đọng, khái quát, lô-gic những tri thức cơ bản về tác giả

Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều” trên bảng đen như sau:



19



* Ví dụ 2:

Khi dạy bài Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống (Tiết 99), sau khi

giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cụm từ khóa “NGHỊ LUẬN SỰ VIỆC, HIỆN

TƯỢNG ĐỜI SỐNG” lên bảng, rồi bắt đầu tiết học với mục Tìm hiểu bài. Giáo

viên vẽ nhánh chính thứ nhất, ghi tiêu đề “I. TÌM HIỂU BÀI”. Sau đó, cho học

sinh đọc văn bản “Bệnh lề mề” – SGK, giáo viên đưa ra các câu hỏi dẫn dắt các

em lần lượt tìm hiểu: vấn đề nghị luận của bài viết, biểu hiện, nguyên nhân, tác

hại, hướng khắc phục. Sau khi tìm hiểu xong văn bản, giáo viên chuyển sang

bước hai: hình thành kiến thức. Giáo viên vẽ nhánh chính thứ hai, ghi tiêu đề “II.

BÀI HỌC” rồi dùng hệ thống câu hỏi dẫn dắt, phát triển các nhánh con: khái

niệm, yêu cầu về nội dung, yêu cầu về hình thức...tương tự như ở bước trên.

Cuối cùng là bước thứ ba “III. LUYỆN TẬP”, cách làm như trên. Kết thúc tiết

dạy, ta có: SĐTD:



20



* Ví dụ 3: Đối với phân mơn Tiếng Việt thì sử dụng SĐTD kết hợp việc dạy học

bài mới với việc ghi bảng càng dễ dàng hơn. Ví dụ khi dạy bài Ơn tập Tiếng

Việt, học kỳ I (Tiết 74). Sau khi giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cum từ trung

tâm “ÔN TẬP TIẾNG VIỆT” lên giữa bảng đen. Sau đó, dẫn dắt học sinh lần

lượt đi vào tìm hiểu các nội dung ơn tập theo trình tự SGK. Bắt đầu với việc hệ

thống, củng cố kiến thức lý thuyết thông qua các câu hỏi:

Chúng ta đã học qua những phương châm hội thoại nào? Em hãy nhắc lại

nội dung mỗi phương châm? (vẽ nhánh, ghi chú)

Tiếng Việt có những loại từ ngữ nào thường dùng để xưng hơ? Cho ví dụ

mỗi loại? (vẽ nhánh, ghi chú)

Em có nhận xét gì về từ ngữ xưng hơ trong tiếng Việt? Khi sử dụng từ ngữ

xưng hô em cần lưu ý điều gì? (vẽ nhánh, ghi chú)

Có mấy cách dẫn lại lời nói, ý nghĩ của một người hay một nhân vật? Mỗi

cách dẫn ấy khác nhau như thế nào? (vẽ nhánh, ghi chú)

Ta kết hợp cho học sinh làm các bài tập trong mỗi nội dung ôn tập sau khi

lập SĐTD cho mỗi nhánh (nội dung). Cuối tiết ơn tập, ta có SĐTD:



21



Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng sử dụng SĐTD kết hợp trong việc

dạy học bài mới với dùng chính nó để cơ đọng kiến thức của bài học cho học

sinh ghi. Việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học bài mới sẽ giúp học sinh

từng bước phát hiện, tiếp cận và chiếm lĩnh toàn bộ kiến thức bài học một cách

khoa học, có hệ thống, lơ-gic. Bắt đầu bài học bằng từ, cụm từ trung tâm thể

hiện trọng tâm kiến thức, thông qua sự định hướng dẫn dắt của giáo viên, các em

tự khám phá, tìm hiểu các đơn vị kiến thức của bài học (các ý lớn, nhỏ) một

cách liền mạch, có hệ thống, đến khi tiết học kết thúc cũng là lúc tồn bộ kiến

thức của bài học được cơ đọng và trình bày một cách sinh động, khoa học và

sáng tạo trên bảng đen (hoặc trên màn hình). SĐTD ấy không chỉ cung cấp cho

các em “bức tranh tổng thể” về kiến thức của bài học mà nó còn giúp cho các

em dễ dàng nhận ra mạch lô-gic kiến thức của bài học. Do đó, chúng ta có thể

dùng nó như phần nội dung ghi bảng của giáo viên để học sinh ghi chép.

22



Tuy nhiên, chúng ta cần linh hoạt sử dụng ở những tiết dạy, bài dạy thích hợp

chứ không nên lạm dụng SĐTD để khỏi phải ghi bảng ở tất cả các tiết dạy. Mặt

khác, việc sử dụng kết hợp này càng thuận lợi hơn khi chúng ta sử dụng phần

mềm Mind Map và soạn giảng bằng bài giảng điện tử. Chúng ta cũng nên đánh

số thứ tự vào các khâu lên lớp (tìm hiểu bài, bài học, luyện tập), các ý chính

trong mỗi đơn vị kiến thức của bài học để học sinh thuận tiện trong việc theo

dõi, ghi chép vào vở. Giáo viên cũng cần dành ít phút cuối tiết học, cho học sinh

quan sát SĐTD và thuyết trình - “đọc hiểu” lại tồn bộ nội dung kiến thức của

bài học.

b3. Sử dụng SĐTD trong việc hệ thống, củng cố kiến thức sau mỗi bài học,

mỗi phần của bài học

Sau khi dạy xong mỗi phần (một đơn vị kiến thức) của bài học, hay mỗi bài

học, giáo viên cho học sinh hình dung, nhớ lại và vẽ SĐTD để củng cố, hệ thống

phần kiến thức đó, hoặc tồn bộ kiến thức của bài học.

* Ví dụ 1: Khi dạy tác phẩm truyện Chuyện người con gái Nam Xương của

Nguyễn Dữ, sau khi hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu xong phần một “Vũ

Nương và câu chuyện oan khuất của nàng” giáo viên cho các em lập SĐTD về

nhân vật Vũ Nương thông qua câu hỏi sau: Như vậy, qua phần tìm hiểu trên, em

hãy lập SĐTD để chứng minh Vũ Nương là một người mẹ đảm đang, một người

vợ thủy chung, một người dâu hiền hiếu thảo. Sau đây là SĐTD minh họa:



23



* Ví dụ 2: Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu xong luận cứ 3: “Những điểm

mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam trong bài Chuẩn bị hành trang vào thế

kỉ mới của Vũ Khoan, giáo viên cho học sinh lập SĐTD về đặc điểm của con

người Việt Nam. Các em sẽ nhớ lại những gì vừa được nghe, được thảo luận,

được ghi chép và vẽ SĐTD. Sau đây là SĐTD minh họa:



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b1. Sử dụng SĐTD trong các hình thức kiểm tra

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×