Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VI. VỀ ĐẠI HỌC SỐ HÓA

VI. VỀ ĐẠI HỌC SỐ HÓA

Tải bản đầy đủ - 0trang

• Mở đối với đại chúng qua portal (còn gọi là cổng giao tiếp điện tử hoặc

cổng đầu mối) - thực chất là các trang WEB cung cấp các liên kết với các

trang tin và các dịch vụ công cộng.

Hai đặc điểm cuối cùng trong ba đặc điểm nói trên là những điểm mới nhằm

đáp ứng các nhu cầu sau:

• Thống nhất công cụ giao tiếp giữa người sử dụng trong hệ thống thông tin

đại học, tạo ra cách tiếp cận nhất quán đối với các dịch vụ chủ yếu;

• Nâng cao lượng tri thức có khả năng sử dụng lại được;

• Tăng cường giao tiếp giữa người dạy và người học và người quản lý.

Các nhà hoạch định

Các nhà hoạch định

chính sách (lãnh đạo) bộ

chính sách (lãnh đạo) bộ

và trường )

và trường )



Các chuyên

Các chuyên

viên quản lý

viên quản lý



Hệ

Hệthống

thốngthông

thông

tin

tinđại

đạihọc

học



Sinh viên và

Sinh viên và

nghiên cứu sinh

nghiên cứu sinh



Cơng chúng

Cơng chúng

(ngồi đại học)

(ngoài đại học)



Giảng viên và

Giảng viên và

nghiên cứu viên

nghiên cứu viên



Các đối tượng sử dụng hệ thống thông tin đại học



Đối tượng phục vụ của hệ thông tin đại học (tham khảo hình trên) gồm có:

• Sinh viên,

• Giáo viên,

• Nghiên cứu viên,

• Các nhà hoạch định chính sách (lãnh đạo các trường và lãnh đạo Bộ),

• Các chuyên viên nghiệp vụ quản lý ,

• Các đối tượng khác.



17



Đã có một sự dịch chuyển từ hệ thống thơng tin quản lý đại học với chức

năng chủ yếu là trợ giúp hoạt động hành chính một cách thụ động sang hệ thơng

thơng tin tích cực mà đối tượng sử dụng chủ yếu là sinh viên và giáo viên với

khả năng tương tác trực tiếp với các hệ thống. Một số dịch vụ thông thường

trước đây do các chuyên viên quản lý làm nay chuyển sang cho sinh viên làm.

Ví dụ đăng ký tham dự các môn học, đăng ký dự thi bây giờ sinh viên có thể tự

làm lấy. Sinh viên có thẻ tín dụng có thể tự đóng học phí qua mạng. Các thơng

báo trước đây có thể được tạo tự động, sinh viên có thể tự truy cập thông tin trên

mạng theo nhu cầu của họ. Cán bộ giảng dạy và sinh viên trở thành các đối

tượng thụ hưởng chính các chương trình tin học hóa khơng chỉ riêng các hệ

thống học và nghiên cứu qua mạng máy tính mà chính các hệ thống quản lý.

Có thể nói rằng, trong thế kỷ thứ 21 một trường đại học khơng được tin

học hóa là một đại học lạc hậu. Nhưng nếu chỉ tin học hóa quản lý để trợ giúp

cho các chun viên quản lý khơng thơi thì cũng là đại học lạc hậu.

Hệ thống thông tin đại học hiện nay trong tiếng Anh được dùng với tên là

University Resource Planning – URP. Thuật ngữ này cho thấy ý nghĩa tích cực

của các hệ thống thơng tin đại học hiện đại, là hệ thống giúp cho các đối tượng

của nó trong q trình ra quyết định chứ khơng chỉ tiếp nhận thông tin.

Cũng như bất cứ một hệ thông tin kinh tế - xã hội nào, về mặt tổ chức,

trường đại học thường có 3 lớp:

Hệ thống ra quyết định là Ban lãnh đạo (hiệu trưởng và các hiệu phó), nơi

xử lý các thơng tin cuối cùng. Đầu

vào của hệ thống này là thơng tin từ

mơi trường bên ngồi (bộ, chính



Tầng quyết định.

Lãnh đạo Trường



phủ, phản hồi của cơng chúng..) và



Quyết định



các thông tin phản ánh họat động

của nhà trường. Đầu ra của hệ



Tầng thơng tin

Các phòng ban



thống này là các quyết định.

Hệ tác nghiệp, nơi thực hiện

Tầng tác nghiệp

Khoa, Trung tâm

18



các hoạt động cơ sở của đại học là đào tạo, nghiên cứu và triển khai, chịu sự

điều khiển của hệ thống quyết định. Liên quan đến hệ thống này chủ yếu là các

khoa, bộ môn trực thuộc, các trung tâm triển khai. Đầu vào của hệ tác nghiệp là

các học viên (chủ yếu là học sinh phổ thông) và thông tin. Sản phẩm của hệ

thống này nhà trường là con người có kiến thức và kỹ năng (sản phầm đào tạo)

và chính tri thức (sản phẩm nghiên cứu).

Trên thực tế hệ quyết định ít giao tiếp trực tiếp với hệ tác nghiệp mà thông qua

các hệ thống hỗ trợ có chức năng thu thập, lưu trữ và xử lý một bước các thơng

tin từ mơi trường ngồi hay từ hệ tác nghiệp. Đầu vào của hệ thống này và sản

phẩm đều là thơng tin nên nó được gọi là hệ thông tin. Trong đại học các đơn vị

quản lý như phòng đào tạo và cơng tác sinh viên, phòng hành chính tổ chức,

phòng tài vụ - kế tốn, phòng khoa học – đào tạo sau đại học, phòng quản trị.

Tin học hóa một tổ chức nói chung chủ yếu là tin học hóa tầng thơng tin

của tổ chức đó. Thực chất các hệ thống thơng tin này là hệ thống thông tin quản

lý. Các tổ chức đều có những hệ thơng tin với những phân hệ thơng tin tương tự

như nhau nhưng đặc thù tin học hóa của mỗi lĩnh vực nằm ở việc tin học hóa

tầng tác nghiệp. Ở các đại học tin học hóa ở tầng tác nghiệp là xây dựng các hệ

thống thông tin hỗ trợ trực tiếp cho đào tạo và nghiên cứu

Ngoài ra cần phải tính đến mơi trường tin học chung làm nền cho các ứng

dụng tin học khác và những hệ thông tin giao tiếp với đại chúng. Ngày nay

Internet đã trở thành mơi trường thơng tin chính của các đại học. Hầu hết các đại

học trên thế giới đều có WEBsite trên Internet giúp cơng chúng có thơng tin về

đại học cũng như tham gia vào các hoạt động hoặc sử dụng các dịch vụ của các

đại học. Khái niệm portal, thực chất là trang WEB để dẫn đường tới các dịch vụ,

giúp người sử dụng dễ dàng truy nhập đến tin tức và dịch vụ qua một đầu mối

duy nhất. Tuy nhiên không nên nhầm lẫn giữa mức độ phức tạp, kiến trúc và

công nghệ của các website truyền thống và portal.

Portal là một sự phát triển tiếp theo của website với các đặc điểm sau:

• Kiến trúc mở. Portal không chỉ thiên về cung cấp thông tin mà có sự tích



19



hợp thoả đáng ứng dụng (dịch vụ tương tác giữa hệ thống và người dùng).

Hơn nữa portal có khả năng mở để tích hợp các kênh thơng tin và dịch vụ.

• Đăng nhập một lần (single sign on), kiểm sốt tồn bộ quyền hạn của

thơng tin và ứng dụng đối với các người sử dụng là thành viên (member)

từ thời điểm đăng nhập với tư cách thành viên.

• Cá nhân hóa, tuỳ theo quyền hạn và u cầu của người dùng, giao diện,

các kênh thông tin và ứng dụng có thể được cá nhân hóa, thích hợp với

từng người dùng, Thường cá nhân hóa cũng chỉ áp dụng cho các thành

viên.

Như vậy, khi nói về portal người ta muốn nói đến nền tảng bên trong

(intranet portal) hơn là website cơng cộng (internet portal), hoặc chính xác hơn

là website cơng cộng chỉ thể hiện mặt ngồi của hệ thống thơng tin của trường

mà phần mềm điều khiển chính website đó (CMS) chính là một kênh ứng dụng

nằm trong intranet portal.

Ngày nay, “xã hội hóa đào tạo” là một nhu cầu và chủ trương cần được tính

đến. Cần duy trì một mơi trường thơng tin và liên lạc giữa nhà trường và xã hội.

Với việc mở rộng đối tượng đào tạo, ngồi các lợi ích trực tiếp về kinh tế, còn

có những lợi ích chính trị thơng qua mở rộng ảnh hưởng của trường đại học

được tạo dựng qua q trình đào tạo. Khi tin học hóa đại học, khơng thể khơng

tính đến mơi trường thơng tin và dịch vụ như một thành phần hữu cơ của hệ

thống thông tin đại học.

Mối liên hệ giữa đại học và xã hội cần phải được triển khai không những qua

thông tin thụ động trên các trang WEB của các đại học mà cần được triển khai

một cách chủ động và tích cực hơn qua việc đánh giá mức độ đáp ứng của các

đại học với thị trường việc làm và nhiều vấn đề xã hội khác qua tổ chức điều tra

trên diện rộng. Đại học sẽ trở nên quan liêu, thậm chí mất phương hướng nếu

khơng tính đến điều này. Vì vậy cần tổ chức các hệ thống thu thập và xử lý các

thơng tin phản hồi. Có 4 nguồn thơng tin cần được tham khảo trong đó 3 nguồn

thơng tin đầu tiên là quan trọng hơn và có thể quản lý đựợc.



20



• Các cựu sinh viên. Đây là đối tượng hiểu biết hơn cả những gì xã hội yêu

cầu và cái gì đã được nhà trường cung cấp, mức độ phù hợp giữa cái xã

hội đang cần và cái đang có.

• Các nhà tuyển dụng. Đây là đối tượng có thể phát biểu được cái cần

không chỉ hiện tại mà cả trong tương lai.

• Chính sinh viên đang học. Nếu hai đối tượng trên có thể giúp các nhà

hoạch định chính sách trong tương lai thì đối tượng sinh viên đang học có

thể giúp các nhà quản lý giáo dục xác định tình trạng hoạt động hiện thời

của nhà trường.

• Chính cơng chúng.



21



MỤC LỤC

2. Vai trò to lớn của CNTT-TT với sự phát triển của ĐHDLHP.................................................3

3. Đánh giá chung về tình hình thực hiện Kế hoạch tổng thể về phát triển và ứng dụng CNTT

ở ĐHDLHP.................................................................................................................................5

II. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CNTT-TT ĐẾN NĂM

2013, TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC ĐẾN NĂM 2020.................................................................7

III. NỘI DUNG VÀ CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN CNTT-TT ĐẾN NĂM 2013...........................10

3.1. Đào tạo CNTT-TT..............................................................................................................10

3.2. Nghiên cứu CNTT-TT........................................................................................................11

3.3. Ứng dụng CNTT-TT..........................................................................................................12

3.4. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ CNTT-TT...................................................................................13

IV. CÁC GIẢI PHÁP................................................................................................................13

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN......................................................................................................15

VI. VỀ ĐẠI HỌC SỐ HÓA......................................................................................................16



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VI. VỀ ĐẠI HỌC SỐ HÓA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x