Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
d. Tài nguyên sinh vật

d. Tài nguyên sinh vật

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.5. Tình hình kinh tế xã hội.

a. Dân số

Dân số trung bình tỉnh Vĩnh Phúc năm 2010 có khoảng 1003,0 ngàn người.

Trong đó: dân số nam khoảng 497 ngàn người (chiếm 49,5%), dân số nữ khoảng

506 ngàn người (chiếm 50,5%). Dân số trung bình năm 2014 khoảng 1042,0 ngàn

người.

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây khá cao,

năm 2012 là 11,4‰, năm 2013 là 11,4‰, năm 2014 là 11,5‰

Trong những năm gần đây, mặc dù có sự phát triển kinh tế xã hội khá nhanh,

của cơng nghiệp và dịch vụ kéo theo đó là cơ hội việc làm mới, nhưng tỷ lệ tăng cơ

học không đáng kể. Điều này cho thấy công tác giải quyết việc làm của tỉnh là rất

tích cực.

Bảng 2. Phát triển dân số tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011 - 2014

Chỉ tiêu

Dân số trung bình

Tỷ lệ tăng tự nhiên

Dân số lao động trong độ

tuổi



Đơn vị



2011



2012



2013



2014



103 ngươì



1014,5



1022,4



1029,4



1042,0



10,62



11,4



11,4



11,5



510



688



703



718





103ngươì



[2]

Trong 5 năm 2010-2014, tỷ lệ đơ thị hố diễn ra tương đối nhanh, tỷ trọng dân

số đô thị đã tăng từ 22,95% năm 2010 lên 23,37% năm 2013 và năm 2014 tỷ lệ này

vào khoảng 23,31%. Tỷ lệ trên cho thấy tỷ lệ đơ thị hóa ở Vĩnh Phúc vẫn còn thấp

so với mức bình quân cả nước

Bảng 3. Cơ cấu dân số của tỉnh giai đoạn 2010 - 2014

Đơn vị tính: %

STT



Chỉ tiêu

Tổng số



2010



2011



2012



2013



2014



100,0



100,0



100,0



100,0



100,0



14



1



Dân số đô thị



22,95



23,02



23,35



23,37



23,31



2



Dân số nông thôn



77,05



76,98



76,65



76,63



76,69

[2]



b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong thời kỳ 2001-2014 cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc chuyển dịch rất

nhanh: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 40,68% năm 2000 lên

52,69% vào năm 2005. Tỷ trọng này còn tiếp tục tăng lên và đạt cao nhất 63.52%

vào năm 2013; tỷ trọng ngành nông-lâm-thủy sản giảm liên tục rất nhanh từ 28,94%

năm 2000 xuống còn 11,23% vào năm 2010, đến năm 2014 chỉ còn 10,02%; trong

khi tỷ trọng ngànhdịch vụ ít thay đổi tỷ trọng trong GDP từ 27,86% năm 2005 giảm

xuống 24,48% năm 2008 sau đó tăng lên khoảng 27,84% vào năm 2014

Bảng 4. Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2005- 2014

Ngành kinh tế



2005



2010



2014



Cơ cấu GDP, giá thực tế (%)

Tổng số



100,00



100,00



100,00



Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản



19,45



11,23



10,02



Công nghiệp – xây dựng



52,69



61,28



62,14



Dịch vụ



27,86



27,5



27,84



15



[2]

c. Hiện trạng phát triển các lĩnh vực kinh tế

- Nông nghiệp

Giai đoạn 2001 - 2010 ngành nông nghiệp Tỉnh đã đạt được những kết quả

khá cao: Giá trị gia tăng ngành nơng nghiệp tăng bình qn cả thời kỳ 2010 2014đạt 6,0%/năm, cao hơn so với mức bình quân cả nước (3,97%) và của Vùng

Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (2,1%). Giá trị sản xuất toàn ngành (theo giá 94) giai

đoạn 2010 - 2014 tăng bình quân 7,4%/năm, trong đó ngành trồng trọt tăng bình

qn 2,5%/năm, chăn ni tăng 15,1%/năm và thuỷ sản tăng 14,5%/năm. Tỷ trọng

ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch đúng hướng,

giảm từ 19,45% năm 2005 xuống còn 10,02% năm 2014. Cơ cấu trong ngành nơng

nghiệp đã có sự chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng trồng trọt (giá thực tế) đã giảm

dần từ 45,73% năm 2010 còn 38,76% năm 2014, ngành chăn nuôi tăng từ 48,59%

năm 2010 lên 51,62% năm 2014, tỷ trọng ngành thuỷ sản trong cơ cấu toàn ngành

tăng từ5,68% năm 2010 lên 9,62% năm 2014; Chăn ni chiếm tỷ trọng chính; Tư

duy về sản xuất nơng nghiệp được người dân nhận thức cao.

- Công nghiệp - xây dựng

Giai đoạn 2010 - 2014 ngành công nghiệp - xây dựng tiếp tục phát triển mạnh,

đặc biệt công nghiệp đóng vai trò là nền tảng của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy

phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả tỉnh, tạo vị thế mới cho

công nghiệp Tỉnh đối với Vùng Đồng bằng sông Hồng và với cả nước. Giá trị tăng

thêm ngành công nghiệp - xây dựng năm 2010 đạt 7.410,3 tỷ đồng, tăng bình qn

20,6%/năm.



16



Giá trị sản xuất ngành cơng nghiệp - xây dựng (giá CĐ 94) tăng từ 83.502 tỷ

đồng năm 2010 lên 136.745tỷ đồng năm 2014, đạt tốc độ tăng bình quân

22,9%/năm. Riêng giá trị sản xuất ngành cơng nghiệp (giá 1994) đạt tốc độ tăng

bình qn 23,1%/năm, trong đó: cơng nghiệp nhà nước tăng 12,2%/năm, cơng

nghiệp ngồi nhà nước tăng 37,6%/năm, cơng nghiệp có vốn FDI tăng 21,5%/năm.

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng cao nhờ thu hút được nhiều dự án từ khu

vực FDI và DDI. Bên cạnh đó, nhiều dự án mới đi vào hoạt động đã góp phần tăng

giá trị sản xuất ngành công nghiệp.

Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn được quan tâm đầu tư phát

triển, giai đoạn 2006 - 2010 đã hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho 5 làng

nghề (Thanh Lãng, Yên Lạc, Tề Lỗ, Vĩnh Sơn và Lập Thạch), hỗ trợ đào tạo nghề

cho hàng ngàn lao động thuộc các ngành nghề mây tre đan, mộc mỹ nghệ, điêu khắc

đá và khảm trai. Một số làng nghề truyền thống đã và đang được khôi phục, phát

triển như: đá Hải Lựu, rèn Lý Nhân, mộc Bích Chu, Thanh Lãng, đan lát Triệu Đề,

gốm Hương Canh. Nhiều làng nghề mới đang dần được hình thành như: mộc Lũng

Hạ - Minh Tân, ươm tơ, dệt lụa, mây tre đan xuất khẩu như: Nguyệt Đức, Trung

Kiên, An Tường, Bắc Bình, Liễn Sơn. Số lao động trong khu vực làng nghề, tiểu thủ

công nghiệp chiếm khoảng 33.000 người/2010.

Bảng 5.Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp Tỉnh theo ngành (Đơn vị: %)

Ngành công nghiệp

Tổng số

Công nghiệp khai thác

Công nghiệp chế biến

Sản xuất, phân phối điện, nước



Năm 2005

100,0

0,2

99,7

0,1



17



Năm 2010

100,0

0,2

99,7

0,1



Năm 2014

100,0

0,1

99,8

0,1



[2]

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp Tỉnh chủ yếu là cơng nghiệp có vốn đầu tư

nước ngồi, từ năm 2000 đến nay, tỷ trọng công nghiệp FDI chiếm khoảng 83 84%, cao nhất là năm 2000 chiếm 92,7%. Công nghiệp nhà nước chỉ chiếm tỷ trọng

rất nhỏ và có xu hướng giảm dần, năm 2008 chỉ còn 1% trong GO cơng nghiệp tồn

tỉnh. Từ năm 2001, khu vực cơng nghiệp ngồi quốc doanh có sự phát triển vượt

bậc với tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2001 - 2005 đạt tới 58,0% làm cho tỷ trọng

của khu vực này trong GO tồn ngành cơng nghiệp tăng nhanh chóng từ 6,0% năm

2001 lên 14,6% năm 2008. Sự gia tăng của cơng nghiệp ngồi quốc doanh (trong

nước) làm cho tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong nước tăng nhanh góp phần

nâng cao tiềm lực cơng nghiệp trong nước, hướng tới một cơ cấu công nghiệp bền

vững hơn.

- Dịch vụ

Giá trị gia tăng ngành dịch vụ có xu hướng tăng nhanh dần trong những năm

gần đây. Từ năm 2001 đến nay, giá trị gia tăng dịch vụ luôn tăng trưởng ở mức 2

con số, đặc biệt là giai đoạn 2006 - 2010. Năm 2006 giá trị gia tăng dịch vụ đạt

1.856 tỷ đồng (giá 94), đạt mức tăng trưởng cao nhất (21,22%) trong cả thời kỳ.

Năm 2010 giá trị gia tăng ngành dịch vụ (giá 1994) đạt 3.867,6 tỷ đồng (tăng bình

qn 20,4% giai đoạn 2006 - 2010). Tính chung giai đoạn 2001 - 2010 giá trị gia

tăng dịch vụ tăng trưởng bình quân 17,1%.

Mặc dù vậy, tăng trưởng ngành dịch vụ vẫn chưa tương xứng với sự phát triển

trên địa bàn, đóng góp của khu vực dịch vụ trong tổng GDP của tỉnh vẫn còn hạn

chế và ít thay đổi. Năm 2001 đóng góp của khu vực dịch vụ vào GDP của tỉnh (theo

giá thực tế) đạt 31,3%, sau khi giảm xuống còn 27,8% vào năm 2005 và 24,5% vào

năm 2008 thì đến giai đoạn 2010 - 2014 lại tiếp tục tăng lên đạt cao nhất ở mức

27,84%.

1.2. Tổng quan cây thanh long ruột đỏ

1.2.1. Cây thanh long ruột đỏ



18



Cây thanh long ruột đỏ là loài lai giữa giống thanh long ruột trắngHylocereus

undatus và một giống bản địaHylocereus costaricensiscó nguồn gốc ở khu vực

Trung và Bắc Mĩ. Được du nhập vào Việt Nam theo nhiều con đường khác

nhau.Cây thanh long ruột đỏ là một trong những cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh

tế cao được phát triển tại cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam tập trung nhiều nhất ở

Bình Thuận. Cây thanh long sau trồng một năm đã bắt đầu cho quả, thời gian cho

quả kéo dài từ 6 - 7 tháng trong năm và chia ra thành nhiều đợt quả. Quả thanh long

có giá trị dinh dưỡng cao hình thức bắt mắt, hiện nay sản phẩm đã được xuất khẩu

sang nhiều thị trường quốc tế như Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Hoa Kỳ...

1.2.2. Các yêu cầu sinh thái của cây thanh long ruột đỏ

a. Đất đai

Thanh long là một loại cây rất dễ trồng, có thể sinh trưởng, phát triển được

trên nhiều loại đất khác nhau từ đất cát pha, đất xám bạc màu, đất phèn đến đất phù

sa, đất đỏ Bazan, đất thịt, thịt pha sét...[7]

b. Nhiệt độ

Cây thanh long là cây nhiệt đới có nguồn gốc ở vùng sa mạc thuộc Mexico và

Colombia. Nhiệt độ thích hợp cho thanh long ruột đỏ sinh trưởng và phát triển từ 15

– 350C[7]. Nhiệt độ tối thích hợp từ 21- 26 0C[21]. Trong điều kiện thời tiết có

sương giá nhẹ với thời gian ngắn cũng sẽ gây ảnh hưởng cho cây thanh long.

c. Lượng mưa

Cây thanh long có tính chống chịu hạn nhưng khơng chịu úng. Để cây phát

triển tốt, cho nhiều trái và trái to cần cung cấp đủ nước, nhất là trong thời kỳ phân

hoá mầm hoa, ra hoa và kết trái. Nhu cầu về lượng mưa tốt cho cây từ 800 – 2.000

mm/năm[7], nếu thấp hơn hoặc vượt quá sẽ dẫn tới hiện tượng rụng hoa và thối trái.

Với điều kiện nơi trồng có hệ thống thốt nước tốt thì có thể giảm sự ảnh

hưởng của lượng mưa đến sự ra hoa, đậu quả của cây.

d. Địa hình



19



Thanh long ruột đỏ là cây ưa sáng, thích hợp trồng ở những nơi có đất đai

bằng phẳng, ánh sáng nhiều. Ngồi ra có thể trồng thanh long tại những vùng gò đồi

có độ dốc khơng lớn lắm ở các vùng trung du miền núi.[4] [7]

1.3. Các nghiên cứu về phân vùng nông nghiệp trong và ngồi nước

1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới

Hệ thống thơng tin địa lý (GIS) đã bắt đầu xuất hiện vào cuối năm 1960 và

đến nay đã phát triển hoàn chỉnh khả năng thu nhận, lưu trữ, truy cập, xử lý và cung

cấp thông tin cần thiết để hỗ trợ quá trình thành lập quyết định trong nhiều lĩnh vực

khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực đánh giá đất đai phục vụ cho phát triển sản

xuất nơng nghiệp, có thể liệt kê như:

Năm 1979, FAO đã ứng dụng GIS trong mơ hình phân vùng sinh thái nơng

nghiệp (Agro - Ecological Zone - AEZ) để đánh giá đất tại Châu Phi.[17].

Năm 1992, các tác giả H.A.J. van Lanen , C.A. van Diepen, G.J. Reinds,

G.H.J. de Koning, J.D. Bulens, A.K. Bregt đã sử dụng phương pháp đánh giá đất đai

và GIS để đánh giá tiềm năng phát triển cây trồng tại Châu Âu [20].

Năm 1998, tại Tanzania – Châu Phi, các tác giả G. Boje, G. Rücker, S.

Senzige, A. Skowronek đã ứng dụng GIS để đánh giá thích nghi đất đai cho 9 loại

cây lương thực cho vùng đất trũng ở phía đông bắc Tanzania [19].

Năm 2015, các tác giả Ashutosh Kumar Mishra, Shikhar Deep, Abhishek

Choudhary, đã sử dụng GIS và AHP để xác định các địa điểm phù hợp cho canh tác

tại Uttarakhand [16].

Năm 2015, các tác giả Jiuquan Zhanga, Yirong Su, Jinshui Wu, Hongbo Liang

đã tiến hành đánh giá sự phù hợp của đất đai cho sản xuất thuốc lá tại tỉnh Sơn

Đông, Trung Quốc sử dụng GIS, AHP và Fuzzy [22].

Năm 2016, các tác giả S.G. Yalew, A. van Griensven, P. van der Zaag đã xây

dựng trang web phục vụ đánh giá sự phù hợp của đất nông nghiệp sử dụng GISMCDA [26].

1.3.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam



20



Ở Việt Nam công nghệ GIS mới được biết đến vào đầu thập niên 90. Ứng

dụng đầu tiên của GIS trong nghiên cứu tài nguyên đất đai ở đồng bằng sông Hồng,

và đã xây dựng được bản đồ sinh thái đồng bằng sơng Hồng. Sau đó được ứng dụng

rộng rãi trong việc xây dựng các lớp thông tin về thổ nhưỡng, sử dụng đất…phục vụ

cho việc quy hoạch quản lý đất đai. Các kết quả nghiên cứu ứng dụng GIS trong

công tác quy hoạch ban đầu này cũng đã đề xuất được những mơ hình sử dụng đất

bền vững cho các địa phương trong vùng, là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà

quy hoạch.Phương pháp thực hiện chủ yếu của các đề tài là kết hợp chức năng phân

tích của GIS và phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn (MCA). Phân tích đa tiêu

chuẩn cung cấp cho người ra quyết định các mức độ quan trọng khác nhau của các

tiêu chuẩn khác nhau hay trọng số của các tiêu chuẩn này đối với đối tượng nghiên

cứu. Cụ thể với một số nghiên cứu như:

Các nghiên cứu trong luận án Phó tiến sĩcủa Phạm Quang Khánh đã ứng dụng

GIS để đánh giá đất đai theo phương pháp của FAO, nghiên cứu lựa chọn các hệ

thống sử dụng đất nông nghiệp và đánh giá đất đai làm cơ sở cho việc quy hoạch sử

dụng đất trên quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững [8].

Tại tham luận Hội nghị chuyên đề quốc tế về Thông tin địa lý để phát triển

không gian - Cơ sở hạ tầng vào tháng 12/2008 tại Hà Nội, các tác giả Vũ Minh

Tuấn, Nguyễn Kim Lợi đã sử dụng phương pháp tích hợp GIS và AHP trong đánh

giá thích nghi cây trồng tại huyện Di Linh – tỉnh Lâm Đồng, đánh giá thích nghi của

loại cây: thông ba lá, thông hai lá và keo lá tràm với mục tiêu là ứng dụng AHP xác

định mức độ ưu tiên của các chỉ tiêu ảnh hưởng đến cây trồng, trên cơ sở đó ứng

dụng GIS xác định xây dựng bản đồ thích nghi cho từng loại cây trồng. Đã xác định

các trọng số của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây trồng

(loại đất, độ dốc, độ cao, độ dày tầng đất, lượng mưa) và kế thừa các tài liệu về tính

thích nghi cho từ loài cây của các tác giả đi trước để cho điểm trước khi đưa vào

GIS nhằm kết xuất bản đồ thích nghi. Sau khi tính tốn, đã tìm ra được các trọng số

cho từng nhân tố như sau: Loại đất (0,300); Độ dốc (0,250); Độ cao (0,164), Độ dày

tầng đất (0,143) và Lượng mưa (0,143). Dưới sự phân tích của GIS và AHP, nhận



21



thấy rằng thông hai lá là lồi thích hợp nhất để quy hoạch trồng rừng, tiếp theo đó là

thơng ba lá và keo lá tràm. Như vậy khu vực này chỉ thích hợp cho các lồi cây lá

kim [13].

Năm 2009, các tác giảHuỳnh Văn Chương, Nguyễn Hữu Ngữ đã nghiên cứu

tích hợp GIS và AHP để đánh giá sự thích hợp đất đa tiêu chí cho cây keo lai tại xã

Phú Sơn, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu tích hợp GIS và AHP để đánh giá sự

thích hợp đất cho cây keo lại tại xã Phú Sơn, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên

Huế bước đầu khẳng định được sự thích hợp để đạt được mục tiêu đó khơng chỉ đối

với cây keo lai mà còn có thể mở rộng đối với các loại hình sử dụng đất khác. Kết

quả tại vùng nghiên cứu ngoài việc đã xác định mức độ thích hợp trên các tiêu chí

(tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường) và những diện tích đất có khả năng phát

triển đối với cây keo lai, còn xây dựng được nguồn cơ sở dữ liệu đất đai giúp phục

tốt công tác đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất. Báo cáo đã chứng minh được

tính hiệu quả và sự cần thiết của sự tích hợp giữa GIS và AHP trong đánh giá sự

thích hợp đất cho phát triển nông nghiệp[1].

Tại hội nghị khoa học và công nghệ lần thứ 12 tháng 10/2011 , các tác giả Lê

Cảnh Định, Trần Trọng Đức đã trình bày tham luận về tích hợp GIS và AHP mờ

trong đánh giá thích nghi đất đai và ứng dụng mơ hình vào đánh giá đất đai tỉnh

Lâm Đồng [5].

Năm 2012, các tác giả Kiều Quốc Lập, Đỗ Thị Vân Hương đã nghiên cứu ứng

dụng GIS trong đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của cây thảo quả tại tỉnh Lào

Cai, nghiên cứu sử dụng các dữ liệu đầu vào là các dữ liệu khí hậu: lượng mưa,

nhiệt độ, độ dài các mùa [9].



22



CHƯƠNG 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thu thập và xử lý, phân tích số liệu

2.1.1. Phương pháp thu thập kế thừa

Thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài liệu từ các nguồn dữ liệu sẵn

có, kế thừa có chọn lọc những tài liệu này. Kết quả của phương pháp này là đánh

giá được hiện trạng tài liệu (phương thức nghiên cứu, cách tiếp cận, phạm vi nghiên

cứu, kỹ thuật sử dụng, kết quả đạt được,...) theo các giai đoạn khác nhau để xây

dựng kế hoạch khảo sát, nghiên cứu bổ sung hợp lý.

Bảng 6 Các số liệu, tài liệu thu thập

STT

1



Dữ liệu

Mơ hình số độ cao



Nội dung

Độ cao mặt đất dạng số



Nguồn tài liệu

Earthdata-NASA



hóa

2



Bản đồ địa hình tỉnh Vĩnh



Chi tiết đặc trưng địa hình



Phúc



Sở Tài nguyên và

Môi trường Vĩnh

Phúc



3



Bản đồ hiện trạng sử dụng Hiện trạng các loại hình sử



Sở Tài ngun và



đất tỉnh Vĩnh Phúc



Mơi trường Vĩnh



dụng đất



Phúc

4



5



Số liệu lượng mưa tại các



Thông số lượng mưa tại



Đài khí tượng



trạm đo quan trắc tỉnh



các điểm quan trắc tỉnh



thủy văn Vĩnh



Vĩnh Phúc



Vĩnh phúc



Phúc



Số liệu lượng mưa tại một Thông số lượng mưa theo

số điểm đo khu vực miền



Globalweather -



số liệu quan trắc của NCEP NCEP



Bắc



23



2.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích số liệu từ đo đạc thực địa

Tiến hành đi thực địa, khảo sát, quan trắc sự thay đổi của nhiệt độ theo độ cao,

từ đó xây dựng phương trình sự biến thiên nhiệt độ theo độ cao.

Quá trình quan trắcnhiệt độ được thực hiện bằng nhiệt kế cầm tay GM1362 và

máy GPS cầm tay Garmin Etrex 20 Tiến hành đo nhiệt độ tại 10 điểm độ cao khác

nhau trong cùng một khoảng thời gian. Quá trình đo đạc và thu thập dữ liệu được

tiến hành trong năm 2015 và 2016 với các đợt đo vào tháng 12/2015, tháng 2/2016,

tháng 4/2016 và tháng 8/2016.

2.2. Nội suy

Trong nghiên cứu này, do tài liệu về bản đồ lượng mưa của tỉnh ở dạng số hóa

khơng sẵn có do đó chúng tôi sử dụng phương pháp nội suy để xây dựng bản đồ số

lượng mưa của tỉnh Vĩnh Phúc vào hai thời điểm: mùa khô (từ tháng 10 đến tháng

3) và mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 9). Các bước tiến hành có thể tóm tắt như sau:

- Chia các dữ liệu lượng mưa thu thập được thành 02 mùa.

- Tính tốn lượng mưa trung bình theo nhiều năm tại 02 mùa đã phân loại.

- Sử dụng phương pháp nội suy xây dựng bản đồ lượng mưa trên địa bàn tỉnh

2.2.1. Nội suy Kriging

Kriging là một nhóm các kỹ thuật sử dụng trong địa thống kê để nội suy một

giá trị của trường ngẫu nhiên tại điểm không được đo đạc thực tế từ những điểm

được đo đạc gần đó.

Hiện nay, có rất nhiều các phương pháp nội suy đã được phát triển, với độ

chính xác và các trường hợp sử dụng khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu này lựa

chọn phương pháp nội suy Kriging bởi lý do Kriging là phương pháp có độ chính

xác cao khi nội suy số liệu từ tập hợp các điểm phân bố rời rạc, phân cụm hoặc

phân tuyến; đa số các trường hợp này đều sử dụng Kriging là phương pháp nội suy

hiệu quả nhất.



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

d. Tài nguyên sinh vật

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×